1. Mâu thuẫn biện chứng
Mâu thuẫn biện chứng là một phạm trù triết học dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng giữa các mặt đối lập trong cùng một sự vật hay một hệ thống sự vật. Mâu thuẫn biện chứng được tạo nên bởi quan hệ giữa các mặt đối lập, và các mặt đối lập này vừa thống nhất, vừa đấu tranh. Thống nhất giữa các mặt đối lập được hiểu theo các nghĩa sau đây: Một là, các mặt đối lập nương tựa vào nhau, tạo tiền đề tồn tại cho nhau, không có mặt này thì cũng không có mặt kia; hai là, trạng thái cân bằng và tác động ngang nhau của các mặt đối lập, khi nói cân bằng giữa các mặt đối lập là xét mâu thuẫn ở trạng thái tương đối tĩnh, khi nói tác động ngang nhau của các mặt đối lập là xét mâu thuẫn ở trạng thái vận động; ba là, đồng nhất giữa các mặt đối lập, đồng nhất của các mặt đối lập không phải là hai mặt đối lập hoàn toàn giống nhau, mà là trong mặt này có những yếu tố, bộ phận đồng nhất với mặt kia và ngược lại, trong mặt kia có những yếu tố, bộ phận đồng nhất với mặt này. Liên quan đến vấn đề thống nhất, đồng nhất giữa các mặt đối lập, V.I.Lênin cho rằng: “Đấy chính là bản chất của phép biện chứng. Chính bản chất ấy đã được thể hiện trong công thức: thống nhất, đồng nhất của các mặt đối lập” [1, tr.275].
Đấu tranh giữa các mặt đối lập được hiểu theo các nghĩa sau đây: Một là, sự triển khai ngược chiều nhau của các mặt đối lập trên cùng một trục quan hệ; hai là, bài trừ, phủ định lẫn nhau và chuyển hóa lẫn nhau khi có điều kiện. Đấu tranh giữa các mặt đối lập không phải là kiểu đấu tranh “một mất một còn”, “một sống một chết” theo nghĩa đen. Bởi hai mặt đối lập đều cần nhau, không có mặt này thì cũng sẽ không có mặt kia.
Kết quả của quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập cũng rất đa dạng: Có loại đấu tranh dẫn tới phân rã, hay sự suy yếu các mặt đối lập để hình thành những mặt đối lập mới, ví dụ như đấu tranh giữa giai cấp nô lệ và giai cấp chủ nô trong giai đoạn cuối của hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ làm cho cả hai giai cấp đều phân rã và hình thành hai mặt đối lập mới là giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ phong kiến; có loại đấu tranh dẫn tới liên hợp các mặt đối lập, kích thích các mặt đối lập cùng phát triển, cùng mạnh lên, ví dụ như đấu tranh giữa hai giai cấp vô sản và tư sản thời kỳ chủ nghĩa tư bản mới hình thành đã làm cho cả hai giai cấp cùng mạnh lên...
Các mặt đối lập, ngoài sự thống nhất và đấu tranh với nhau, còn có sự chuyển hóa lẫn nhau. V.I.Lênin khẳng định: “Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất, - trong điều kiện nào đó chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hóa lẫn nhau” [1, tr.116]. Chuyển hóa giữa các mặt đối lập được hiểu theo các nghĩa sau:
Mặt này chuyển hóa thành mặt kia và ngược lại. Tuy nhiên, chuyển hóa giữa các mặt đối lập thường không phải là mặt này chuyển thành mặt kia một cách hoàn toàn triệt để và ngược lại, mặt kia chuyển thành mặt này một cách hoàn toàn triệt để; mà là một bộ phận của mặt này chuyển hóa thành một bộ phận của mặt kia và ngược lại, một bộ phận của mặt kia chuyển hoá thành một bộ phận của mặt này.
Cả hai mặt đối lập đều phân rã tạo điều kiện, tiền đề để hình thành mặt đối lập mới.
Cả hai mặt đối lập đều điều chỉnh để thích nghi và quá trình đó làm cho hai mặt đều mạnh lên.
Vai trò của mâu thuẫn biện chứng. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, mâu thuẫn biện chứng chính là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển. V.I.Lênin khẳng định: “Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi vận động và của tất cả mọi sức sống; chỉ trong chừng mực một vật chứa đựng trong bản thân nó mới vận động, mới có xung lực và hoạt động” [1, tr.147-148]. Với quan điểm này, ông khẳng định rằng, mâu thuẫn biện chứng tồn tại thường trực trong sự vật, mang tính tất yếu, bản chất, có quy luật, nó không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, bất thường, do vậy “không thể coi mâu thuẫn chỉ là một hiện tượng khác thường nào đấy chỉ xảy ra ở chỗ này chỗ nọ: nó là cái phủ định trong sự quy định bản chất của nó, là nguyên tắc của mọi sự tự vận động, mà sự tự vận động này không là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện nào đấy của mâu thuẫn (...), vận động là bản thân mâu thuẫn đang tồn tại” [1, tr.148-149].
Như vậy, mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc, là động lực của sự vận động và phát triển, cụ thể hơn là thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển. Trong đó, vai trò của thống nhất và đấu tranh là đồng đẳng và ngang nhau, không có mặt nào quan trọng hơn mặt nào. Tuyệt đối hóa bất cứ mặt nào (mặt thống nhất hay mặt đấu tranh) đều sẽ rơi vào sai lầm.
V.I.Lênin cho rằng, sự thống nhất là tương đối như đứng im, còn đấu tranh là tuyệt đối: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối” [1, tr 379-380].
Có thể nói, V.I.Lênin có xu hướng coi trọng đấu tranh hơn thống nhất, nên ông coi đấu tranh giai cấp là động lực của sự phát triển. Xu hướng này không phải chỉ có trong quan điểm của V.I.Lênin, mà trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã từng nhấn mạnh mặt đấu tranh, khi cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực của sự phát triển. Chính Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Trong gần bốn mươi năm, chúng tôi đã nhấn mạnh vấn đề đấu tranh giai cấp, coi đó là động lực trực tiếp của lịch sử, đặc biệt là đấu tranh giai cấp, giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản; coi đó là đòn bẩy vĩ đại của cuộc cách mạng xã hội hiện đại; vì vậy chúng tôi không thể cộng tác với những người muốn loại trừ cuộc đấu tranh giai cấp đó ra khỏi phong trào” [2, tr.255]. Rằng, “chỉ riêng quan niệm cho lịch sử là một chuỗi những cuộc đấu tranh giai cấp cũng đã phong phú và sâu sắc hơn là cái quan niệm đem quy lịch sử một cách đơn giản thành những giai đoạn khác nhau rất ít của cuộc đấu tranh để sinh tồn” [3, tr.821].
Mâu thuẫn biện chứng được tạo nên từ hai mặt đối lập và hai mặt này vừa thống nhất, vừa đấu tranh, trong đấu tranh có thống nhất, trong thống nhất có đấu tranh. Trong mâu thuẫn biện chứng, thống nhất và đấu tranh không thể tách rời nhau, do vậy không thể tách thống nhất ra khỏi đấu tranh, hay đấu tranh ra khỏi thống nhất rồi cho rằng một mặt nào đó là quan trọng đối với quá trình vận động và phát triển của sự vật. Trên thực tế, cả hai mặt đều có vai trò quan trọng đối với sự vận động và phát triển của sự vật. Tuy nhiên, đối với từng sự vật cụ thể, tùy theo từng điều kiện lịch sử - cụ thể mà một mặt nào đó có thể nổi lên chiếm vị trí quan trọng hơn mặt khác trong một khoảng thời gian nhất định.
2. Những hình thức biểu hiện của mâu thuẫn trong xã hội và cách thức giải quyết
Nếu mâu thuẫn biện chứng trong tự nhiên là tự nó mâu thuẫn mà không có sự tham gia của con người, thì mâu thuẫn biện chứng trong xã hội là kết quả hoạt động của con người, cũng là hình thức biểu hiện của xã hội loài người, nhân tố con người tham gia vào cả quá trình thống nhất, cũng như đấu tranh của mâu thuẫn. Mặc dù mâu thuẫn biện chứng trong xã hội có sự tham gia của con người, nhưng nó mang tính khách quan.
Xã hội loài người tồn tại như một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố, nhiều bộ phận (nhiều lực lượng, nhiều cộng đồng, nhiều xu hướng...), nên mâu thuẫn biện chứng trong xã hội cũng tồn tại đa dạng, nhiều cấp độ. Mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn không cơ bản; mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn thứ yếu; mâu thuẫn đối kháng, mâu thuẫn không đối kháng;...
Trong xã hội có nhiều mâu thuẫn, thời gian tồn tại của mâu thuẫn cũng hết sức đa dạng. Có những mâu thuẫn tồn tại song hành vĩnh viễn với xã hội loài người, như mâu thuẫn hình thành từ quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; có những mâu thuẫn chỉ có, chỉ xuất hiện trong những giai đoạn lịch sử nhất định, trong những hình thái kinh tế - xã hội nhất định, ví dụ như mâu thuẫn hình thành từ những giai cấp đối lập chỉ tồn tại trong xã hội có giai cấp. Có những mâu thuẫn chỉ tồn tại trong một thời kỳ, hay một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, ví dụ như mâu thuẫn hình thành từ quan hệ giữa giai cấp nô lệ và giai cấp chủ nô chỉ tồn tại trong xã hội chiếm hữu nô lệ.
Trong xã hội có nhiều mâu thuẫn, và mâu thuẫn nào cũng ảnh hưởng đến quá trình vận động và phát triển của xã hội; tuy nhiên, tùy vào vai trò, vị trí của các mâu thuẫn mà mức độ ảnh hưởng cũng có sự khác nhau. Mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn hình thành từ những mặt đối lập mang tính bản chất sẽ ảnh hưởng nhiều hơn, thậm chí quy định sự vận động và phát triển của sự vật, do đó quy định bản chất của sự vật. Mâu thuẫn hình thành từ hai mặt đối lập là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mâu thuẫn cơ bản và xuyên suốt lịch sử xã hội loài người, mâu thuẫn này quy định sự vận động của xã hội, như C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận định: “Sự phát triển của những mâu thuẫn của một hình thức sản xuất lịch sử nhất định là con đường lịch sử duy nhất để làm cho nó tan rã và hình thành một hình thức mới” [4, tr.694].
Mâu thuẫn giữa các giai cấp đối lập, giữa các lực lượng đối lập là một sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cũng là mâu thuẫn cơ bản trong xã hội có giai cấp, giải quyết đúng đắn, khoa học mâu thuẫn này sẽ thúc đẩy xã hội phát triển. Lịch sử xã hội loài người đã chứng kiến mâu thuẫn giữa những giai cấp, lực lượng đối lập, như mâu thuẫn giữa giai cấp nô lệ và giai cấp chủ nô, giữa giai cấp nông dân và địa chủ phong kiến, giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa những lực lượng, xu hướng tiến bộ và những lực lượng, xu hướng bảo thủ, trì trệ. Mâu thuẫn giữa các giai cấp đối lập, lực lượng đối lập trong xã hội thể hiện rõ trong quan hệ lợi ích, cả thống nhất và đấu tranh của các giai cấp đối lập, lực lượng đối lập trong xã hội đều hướng tới giải quyết vấn đề lợi ích.
Đối với mâu thuẫn trong tự nhiên thì tự nó giải quyết, đối với mâu thuẫn trong xã hội thì giải quyết nó chính là con người, con người vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá trình giải quyết mâu thuẫn. Giải quyết mâu thuẫn trong xã hội phải tuân thủ các yêu cầu sau:
Một là, đảm bảo tính hệ thống. Trong xã hội có nhiều mâu thuẫn, vị trí và vai trò của các mâu thuẫn là khác nhau. Do vậy, phải biết lựa chọn mâu thuẫn để giải quyết, mâu thuẫn nào là chủ yếu, quan trọng, cấp bách phải được ưu tiên giải quyết trước. Khi giải quyết một mâu thuẫn phải đặt nó trong mối liên hệ với các mâu thuẫn khác, và để giải quyết một mâu thuẫn cũng phải dùng đồng bộ nhiều giải pháp khác nhau.
Hai là, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Mâu thuẫn xã hội là sản phẩm của hoạt động con người, nhưng đồng thời con người lại là chủ thể của quá trình giải quyết mâu thuẫn xã hội. Là chủ thể giải quyết mâu thuẫn, nhưng con người không được giải quyết một cách tùy tiện, chủ quan duy ý chí, mà phải xuất phát từ bản chất khách quan của mâu thuẫn, nắm bắt được bản chất, quy luật, xu hướng vận động của các mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn.
Ba là, đảm bảo tính lịch sử - cụ thể. Trong xã hội có nhiều mâu thuẫn, và mâu thuẫn xã hội không phải “nhất thành bất biến” mà luôn vận động, biến đổi tùy theo những điều kiện lịch sử nhất định. Do vậy, phải căn cứ vào điều kiện lịch sử - cụ thể của mâu thuẫn, cũng như các mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn để đề ra biện pháp giải quyết. Nói cách khác, mỗi mâu thuẫn cụ thể phải có phương pháp giải quyết cụ thể; cùng một mâu thuẫn, nhưng mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau cho phù hợp.
Bốn là, đảm bảo tính tối ưu. Mâu thuẫn xã hội đa dạng và có sự tham gia của con người, hiệu quả của việc giải quyết mâu thuẫn phụ thuộc vào con người. Vai trò của con người thể hiện rõ trong việc chủ động lựa chọn mâu thuẫn, phương pháp, thời cơ, lực lượng... giải quyết mâu thuẫn. Do vậy, con người phải lựa chọn đúng mâu thuẫn, đúng phương pháp, đúng thời điểm giải quyết mâu thuẫn, đồng thời phải biết phát huy sức mạnh tổng hợp để giải quyết mâu thuẫn.
Năm là, đảm bảo tính phát triển. Phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động, là vận động theo xu hướng tiến lên, xu hướng hoàn thiện hơn của sự vật. Trong xã hội, phát triển có sự tham gia của con người, con người phải chủ động, tích cực giải quyết những mâu thuẫn biện chứng trong xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển, bởi mục đích giải quyết mâu thuẫn xã hội của con người là thúc đẩy xã hội phát triển. Do vậy, giải quyết mâu thuẫn phải tạo được điều kiện, tiền đề cho sự phát triển tiếp theo. Nếu không tạo điều kiện, tiền đề cho sự phát triển thì việc giải quyết mâu thuẫn trở nên vô nghĩa.
3. Đảng ta giải quyết mâu thuẫn biện chứng trong thực tiễn Việt Nam
Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, Đảng ta đã xác định rõ mâu thuẫn xã hội chủ yếu và cơ bản là mâu thuẫn giữa ta và địch, giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa xu hướng giành độc lập dân tộc và chấp nhận là nước thuộc địa, giữa xu hướng thống nhất và chia rẽ... Đây là thời kỳ đấu tranh gay gắt, quyết liệt để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, nên Đảng ta có phần nhấn mạnh mặt đấu tranh trong giải quyết mâu thuẫn. Điều này hoàn toàn có cơ sở, bởi điều kiện lịch sử khi đó đòi hỏi như vậy, đó là tuân theo nguyên tắc lịch sử - cụ thể của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đấu tranh trong thời kỳ này thể hiện trong những hình thức sau: Một là, đấu tranh tiêu diệt kẻ xâm lược, đô hộ, thống trị để giải phóng con người, dân tộc Việt Nam, đấu tranh để chuyển hóa con người Việt Nam từ thân phận nô lệ, phụ thuộc thành chủ nhân của bản thân mình, cũng như của đất nước; hai là, đấu tranh đẩy lùi cái lạc hậu, cái phản tiến bộ (của xã hội cũ) để tạo tiền đề cho cái mới, cái tiến bộ (của xã hội mới) được nảy nở, sinh sôi. Có thể nói, đấu tranh trong thời kỳ này vừa là đấu tranh tiêu diệt cái đối lập, vừa là đấu tranh để chuyển hóa các mặt đối lập.
Trong thời kỳ trước đổi mới, sau nhiều năm tập trung đấu tranh với kẻ thù, của cải vật chất của đất nước đang thiếu trầm trọng, lúc này, vấn đề cấp bách là tăng cường sản xuất của cải vật chất, tăng năng suất lao động, bởi năng suất lao động ở nước ta đang rất thấp do trình độ sản xuất lạc hậu và ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh. Mâu thuẫn biện chứng cơ bản, quan trọng trong thời kỳ này là mâu thuẫn được tạo nên bởi lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Phải làm thế nào để quan hệ sản xuất phù hợp, thống nhất, tương thích với trình độ lực lượng sản xuất để thúc đẩy sản xuất vật chất phát triển, bởi thống nhất, phù hợp, tương thích giữa quan hệ sản xuất với trình độ lực lượng sản xuất là điều kiện tiên quyết để phát triển sản xuất vật chất, tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, chúng ta đã giải quyết không tốt mâu thuẫn biện chứng này, bằng chứng là quan hệ sản xuất chúng ta áp dụng không phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất. Biểu hiện rõ nhất là lực lượng sản xuất nhiều trình độ, song chúng ta lại áp dụng quan hệ sở hữu, chế độ phân phối đơn nhất. Theo quy luật trình độ lực lượng sản xuất quy định quan hệ sản xuất, thì khi trình độ lực lượng sản xuất đa dạng, nhiều trình độ thì quan hệ sản xuất cũng phải đa dạng. Nhưng, đáng tiếc là chúng ta đã không thực hiện đúng như quy luật, điều này khiến cho sản xuất vật chất đình trệ, nền kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng.
Một hình thức biểu hiện nữa của mâu thuẫn biện chứng trong xã hội thời kỳ trước đổi mới là mâu thuẫn được tạo nên từ những giai cấp, lực lượng có những nhân tố đối lập, đó là mâu thuẫn được tạo nên từ mối quan hệ giữa những người lao động với giới chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất tư nhân. Đối với trình độ của nền sản xuất nước ta lúc đó thì việc tồn tại kinh tế tư nhân là tất yếu khách quan, do đó mâu thuẫn được tạo nên giữa giới chủ và người lao động là tất yếu khách quan. Mâu thuẫn đó đáng ra phải được giải quyết theo tinh thần biện chứng là thúc đẩy cả hai mặt đều phát triển, tức thúc đẩy cả giới chủ và người lao động cùng phát triển, qua đó thúc đẩy toàn xã hội cùng phát triển. Tuy nhiên, do nóng vội chủ quan, chúng ta giải quyết theo kiểu “một mất một còn” là triệt tiêu giới chủ. Triệt tiêu giới chủ, tức triệt tiêu mặt đối lập của người lao động. Trong điều kiện tồn tại kinh tế tư nhân là tất yếu khách quan thì triệt tiêu giới chủ cũng có nghĩa là người lao động - mặt đối lập của giới chủ cũng sẽ khó có thể phát triển được. Và, thực tế là mặt đối lập của giới chủ, tức người lao động cũng gặp khó khăn, đời sống vật chất ngày càng giảm sút.
Nhận thức rõ những sai lầm đó, bước sang thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã có những điều chỉnh trong việc giải quyết mâu thuẫn biện chứng trong xã hội.
Đối với mâu thuẫn được tạo nên từ quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng ta giải quyết trên tinh thần biện chứng duy vật là điều chỉnh quan hệ sản xuất cho phù hợp, tương thích với trình độ của lực lượng sản xuất, tức hướng tới sự thống nhất giữa các mặt đối lập. Chúng ta điều chỉnh bằng cách đa dạng hóa quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức và quản lý, quan hệ phân phối) để phù hợp với sự đa dạng của trình độ lực lượng sản xuất. Đa dạng hóa quan hệ sản xuất, nên chúng ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, và đó là khởi đầu quan trọng của công cuộc đổi mới.
Đối với mâu thuẫn biện chứng được tạo nên từ quan hệ giữa giới chủ và người lao động, Đảng ta chủ trương nhấn mạnh mặt thống nhất để phát triển cả hai mặt đối lập, tức phát triển cả giới chủ và người lao động nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển. Để phát triển giới chủ, từ chủ trương phát triển kinh tế tư nhân, từ thừa nhận kinh tế tư nhân (Đại hội VI), Đảng ta coi kinh tế tư nhân là động lực của nền kinh tế (Đại hội XI) và hiện nay, coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế (Đại hội XII). Từ khi đổi mới, Đảng ta ngày càng coi trọng kinh tế tư nhân, coi trọng phát triển kinh tế tư nhân tức là coi trọng phát triển giới chủ doanh nghiệp, nhưng đồng thời cũng coi trọng phát triển người lao động, bởi khi giới chủ phát triển thì mặt đối lập với nó - tức là người lao động cũng sẽ phát triển.
Nhờ có sự điều chỉnh trong việc nhận diện và giải quyết mâu thuẫn biện chứng trong xã hội một cách khoa học của Đảng mà nước ta đã thoát khỏi tình trạng trì trệ, khủng hoảng, đồng thời có những bước phát triển quan trọng trong những năm qua. Hiện nay, để duy trì sự phát triển bền vững, đòi hỏi Đảng ta tiếp tục nhận diện và giải quyết những mâu thuẫn biện chứng sau của đất nước một cách khoa học:
Thứ nhất, đối với mâu thuẫn được tạo nên giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Đây là mâu thuẫn biện chứng tồn tại thường xuyên và trường kỳ trong bất cứ nền sản xuất nào. Chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng, không có sự thống nhất, phù hợp tuyệt đối giữa quan hệ sản xuất và trình độ lực lượng sản xuất, mà trong thống nhất, phù hợp có đấu tranh, có sự không phù hợp, bởi lực lượng sản xuất luôn luôn vận động, phát triển, trong khi quan hệ sản xuất có xu hướng “tĩnh” hơn, tức là ít vận động, biến đổi hơn. Do vậy, chúng ta phải không ngừng tổng kết thực tiễn, kịp thời phát hiện sự không phù hợp để chủ động điều chỉnh cho phù hợp, cho thống nhất.
Thứ hai, đối với mâu thuẫn được tạo thành từ hai mặt đối lập là người lao động với giới chủ, đây là mâu thuẫn còn tồn tại lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cả hai mặt này đang tồn tại tất yếu khách quan và đang tạo đà cho sự phát triển của đất nước. Do vậy, tiếp tục giải quyết mâu thuẫn này theo hướng thúc đẩy cả hai mặt phát triển (tức giới chủ và nhân dân lao động đều phát triển), khi đó sản xuất kinh doanh phát triển, tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, cần khuyến khích những người lao động chuyển hóa thành giới chủ bằng cách tự mình tổ chức sản xuất kinh doanh, tham gia phong trào khởi nghiệp để phát huy năng lực được nhiều hơn, qua đó thu được nhiều thành quả hơn và tạo ra nhiều việc làm hơn, đóng góp được nhiều hơn cho đất nước.
Thứ ba, ngoài hai mâu thuẫn nói trên, hiện nay nước ta đang tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tức quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Trong quan hệ đối ngoại, chúng ta phải luôn nhận diện rõ cả hai mặt đối tác và đối tượng. Về nội hàm của hai khái niệm đối tác và đối tượng, Đảng ta đã xác định: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh” [5, tr.44]. Khi đã nhận diện rõ đối tác, đối tượng thì phải chủ động, tích cực hợp tác, thống nhất với đối tác, kiên quyết đấu tranh với đối tượng. Cũng cần nói thêm rằng, trong mỗi đối tác “có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta” [5, tr.44], tức trong đối tác có thể có đối tượng và “trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác” [5, tr.44], tức trong mỗi đối tượng cũng có thể có đối tác. Do vậy, cần chủ động đấu tranh để hạn chế đối tượng, nếu có thể thì chuyển hóa đối tượng thành đối tác để quan hệ đối ngoại đạt được hiệu quả cao nhất, phục vụ tốt nhất cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.
Như vậy, có thể nói, mâu thuẫn biện chứng không chỉ tồn tại trong tự nhiên, mà còn tồn tại trong xã hội. Đảng ta luôn coi trọng giải quyết mâu thuẫn biện chứng trong xã hội, song trước đổi mới, có lúc, có nơi, chúng ta giải quyết chưa thật đúng đắn vấn đề này. Trong đổi mới, Đảng ta ngày càng vận dụng khoa học hơn, đúng đắn hơn lý luận về mâu thuẫn biện chứng, hay nói cụ thể hơn là vận dụng đúng đắn lý luận về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập vào giải quyết những vấn đề thực tiễn của đất nước, đó cũng là một trong những lý do góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới. Vì mâu thuẫn biện chứng trong xã hội Việt Nam luôn tồn tại, nên đòi hỏi chúng ta phải không ngừng nhận diện và giải quyết một cách kịp thời và khoa học, qua đó thúc đẩy đất nước phát triển một cách bền vững.
Tài liệu tham khảo
[1] V.I.Lênin (1981), Toàn tập, t.29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, t.19, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, t.20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2003), Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.