Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về lịch sử xã hội

25/02/2022

Nghiên cứu về lịch sử xã hội đã có lịch sử hàng ngàn năm. Quan điểm của triết học trước Mác về lịch sử xã hội là quan điểm duy tâm. Với sự xuất hiện của triết học Mác, lần đầu tiên, lịch sử xã hội được giải thích trên lập trường duy vật. Các quan điểm cơ bản của triết học Mác - Lênin về lịch sử xã hội là: Lịch sử của xã hội diễn ra theo quy luật khách quan, hoạt động vật chất là nhân tố quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, quan hệ giữa người với người về kinh tế quyết định quan hệ giữa người với người về chính trị và văn hóa - xã hội. Quan điểm duy vật về lịch sử xã hội là cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học cho việc nghiên cứu các vấn đề cụ thể của xã hội.

Triết học về lịch sử xã hội (tức là triết học về xã hội, hoặc là triết học về lịch sử) đã có lịch sử hàng ngàn năm. Các vấn đề cơ bản mà triết học về lịch sử xã hội nghiên cứu là: Lịch sử xã hội có diễn ra theo quy luật khách quan hay không, hoạt động vật chất hay hoạt động tinh thần là nhân tố quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội, tồn tại xã hội có quyết định ý thức xã hội hay không, lực lượng sản xuất có quyết định quan hệ sản xuất hay không, quan hệ giữa người với người về kinh tế có quyết định quan hệ giữa người với người về chính trị và văn hóa - xã hội hay không? Ngoài các vấn đề cơ bản này, triết học về lịch sử xã hội còn nghiên cứu nhiều vấn đề cơ bản khác. Chẳng hạn, đó là: Bản chất và nguồn gốc hình thành của con người là gì; bản chất của giai cấp, nhà nước và cách mạng là gì; thứ tự thay thế các hình thái của xã hội trong lịch sử như thế nào; bản chất của chính trị, pháp luật, đạo đức, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo là gì; mối quan hệ giữa vai trò của cá nhân và vai trò của cộng đồng đối với lịch sử như thế nào, v.v..?

Quan điểm về các vấn đề này có thể là duy vật hoặc là duy tâm. Trong giai đoạn trước Mác, quan điểm về lịch sử xã hội là duy tâm. C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đầu tiên có quan điểm duy vật về lịch sử xã hội. Nội dung cơ bản của quan điểm duy vật về lịch sử xã hội được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày chủ yếu trong các tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (năm 1846), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848) và được C.Mác trình bày cô đọng trong Lời tựa của tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (năm 1859). Sau năm 1859, quan điểm duy vật về lịch sử xã hội còn được C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và nhiều người khác bổ sung và phát triển. Quan điểm duy vật của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về lịch sử xã hội được chú giải trong nhiều tài liệu khác nhau, nhất là trong phần “Chủ nghĩa duy vật lịch sử” của các sách giáo khoa triết học Mác - Lênin. Trình bày quan điểm của triết học Mác - Lênin (tức là quan điểm triết học của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin) về lịch sử xã hội là chú giải quan điểm của các ông về lịch sử xã hội.

Tuy nhiên, ở nhiều sách giáo khoa triết học Mác - Lênin, việc chú giải quan điểm của triết học Mác - Lênin về lịch sử còn hạn chế vì chưa bám sát quan điểm của triết học Mác - Lênin, thiếu minh chứng bằng các đoạn trích dẫn từ các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, chưa xác định rõ hệ thống các vấn đề nghiên cứu của triết học về lịch sử xã hội, chưa xác định rõ tên gọi quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về từng vấn đề của triết học về lịch sử xã hội, chưa làm nổi bật sự đối lập giữa quan điểm của triết học Mác - Lênin với quan điểm của triết học trước Mác, chưa phân biệt rõ quan điểm mới của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin với các thuật ngữ mới được các ông sử dụng. Bài viết này góp thêm một cách chú giải quan điểm của triết học Mác - Lênin về lịch sử xã hội.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về vấn đề lịch sử xã hội diễn ra theo quy luật khách quan hay không

Khi nghiên cứu lịch sử xã hội, người ta dễ dàng nhận thấy rằng, xã hội là cộng đồng của nhiều người, mỗi người đều có ý thức, sự vận động và phát triển của xã hội bắt nguồn từ hoạt động của những con người đang theo đuổi mục đích của mình. Mục đích mà mỗi người theo đuổi hàng ngày là chủ quan và dễ dàng bị thay đổi đột ngột dưới tác động của các nhân tố ngẫu nhiên. Hoạt động theo đuổi mục đích chủ quan của mỗi người ít nhiều đều tác động đến lịch sử xã hội, tức là đều góp một lực làm thay đổi xã hội. Nhưng vấn đề là ở chỗ, lịch sử xã hội có diễn ra theo quy luật khách quan hay không, tức là có phụ thuộc vào ý muốn chủ quan ngẫu nhiên của các cá nhân, kể cả các cá nhân có tầm ảnh hưởng lớn, hay không?

Về vấn đề trên, triết học trước Mác cho rằng, lịch sử xã hội diễn ra không theo quy luật khách quan, mà theo nguyện vọng chủ quan của các cá nhân; con đường mà lịch sử xã hội đã diễn ra và sẽ diễn ra phụ thuộc vào ý muốn ngẫu nhiên của các cá nhân, nhất là ý muốn của các vĩ nhân, các lãnh tụ của các phong trào chính trị; xã hội có thể tiến xa hơn hàng trăm năm so với thực tế đã diễn ra nếu như xã hội may mắn ngẫu nhiên có một vĩ nhân nào đó, hoặc may mắn không sớm mất đi một vĩ nhân nào đó, hoặc may mắn không có một lãnh tụ chính trị độc tài nào đó, hoặc may mắn không có một sai lầm nào đó của các lãnh tụ chính trị.

Trong khi đó, triết học Mác - Lênin cho rằng, lịch sử của xã hội diễn ra theo quy luật khách quan. Giống như lịch sử tự nhiên, lịch sử xã hội cũng diễn ra một cách có lôgíc. Lịch sử xã hội tất yếu tuần tự trải qua các giai đoạn. Tính tuần tự đó không phụ thuộc vào động cơ, ý muốn, nguyện vọng, mục đích, ý thức, ý chí của bất kỳ cá nhân nào. Mặc dù xã hội là cộng đồng của nhiều người, sự vận động của xã hội phụ thuộc vào hoạt động của mỗi người, hoạt động của mỗi người do mục đích chủ quan thúc đẩy, nhưng sự vận động của xã hội được tổng hợp từ hoạt động của mọi người lại diễn ra theo quy luật khách quan. Mặc dù mỗi người thúc đẩy xã hội đi theo một hướng chủ quan, nhưng lực tổng hợp của vô số các lực chủ quan đó lại tạo thành một lực khách quan, lực khách quan này thúc đẩy xã hội đi theo một hướng khách quan, các giai đoạn mà xã hội loài người đã trải qua trong lịch sử là tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất kỳ người nào. Trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng thì cộng đồng, chứ không phải cá nhân, có vai trò quyết định đối với lịch sử. Mỗi cá nhân, kể cả mỗi vĩ nhân, cũng chỉ góp một lực nhỏ thúc đẩy xã hội vận động; sự tồn tại của mỗi cá nhân là ngẫu nhiên, hoạt động của mỗi cá nhân là chủ quan; trong khi đó, sự tồn tại của xã hội là tất nhiên, hoạt động của xã hội là khách quan. Dù cho một cá nhân nào đó, kể cả một vĩ nhân nào đó, có xuất hiện hay không xuất hiện thì lịch sử xã hội cũng sẽ diễn ra theo quy luật khách quan như nó đã diễn ra(*).

2. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về vấn đề hoạt động vật chất hay hoạt động tinh thần là nhân tố quyết định sự tồn tại, vận động phát triển của xã hội

Khi nghiên cứu lịch sử xã hội, người ta dễ dàng nhận thấy rằng, hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Hoạt động vật chất là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất. Nhu cầu vật chất cơ bản gồm có ăn, mặc, ở, đi lại, sinh con đẻ cái. Hoạt động tinh thần là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần. Nhu cầu tinh thần gồm có nhu cầu chính trị, nhu cầu văn hóa, nhu cầu khoa học, nhu cầu nghệ thuật, nhu cầu tôn giáo. Hai hoạt động này đều cần thiết đối với con người, đều là nhân tố quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ, hoạt động vật chất hay hoạt động tinh thần là nhân tố quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội?

Về vấn đề trên, triết học trước Mác cho rằng, hoạt động tinh thần là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Chẳng hạn, Phoiơbắc “chỉ coi hoạt động lý luận là hoạt động đích thực của con người, còn thực tiễn chỉ được ông xem xét và xác định trong hình thức biểu hiện Do Thái bẩn thỉu của nó mà thôi” [1, tr.9].

Trong khi đó, triết học Mác - Lênin cho rằng, hoạt động vật chất, chứ không phải hoạt động tinh thần, là nhân tố quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội. Hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần đều là điều kiện cần thiết để con người tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, vai trò của hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần đối với xã hội không giống nhau. Hoạt động có vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội là hoạt động vật chất, chứ không phải là hoạt động tinh thần. Con người trước hết cần được đáp ứng nhu cầu vật chất, chứ không phải trước hết cần được đáp ứng nhu cầu tinh thần; con người cần được ăn trước khi tiến hành các hoạt động tinh thần. Mọi người đều cần phải được ăn, mà muốn có ăn thì phải sản xuất ra thức ăn; ngay từ khi loài người hình thành cho đến nay và mãi về sau, loài người không lúc nào ngừng sản xuất vật chất. Con người không những cần có ăn, mà còn cần sinh con đẻ cái. Nếu không ăn và không sinh con đẻ cái thì con người sẽ diệt vong. Hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động sinh con đẻ cái đều là hoạt động vật chất. Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất là điều kiện cần của hoạt động sinh con đẻ cái. Suy cho cùng, hoạt động sản xuất vật chất là nhân tố quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội. Vì hoạt động sản xuất vật chất quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội, nên những người làm ra của cải vật chất, chứ không phải những người làm ra của cải tinh thần, có vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội. Những người làm ra của cải vật chất và những người làm ra của cải tinh thần đều có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội. Tuy nhiên, trong đó, lực lượng có vai trò quyết định là những người làm ra của cải vật chất, chứ không phải là những người làm ra của cải tinh thần(*).

3. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về vấn đề tồn tại xã hội có quyết định ý thức xã hội hay không

Khi nghiên cứu lịch sử xã hội, người ta dễ dàng nhận thấy rằng, xã hội có hai lĩnh vực: Một là, tồn tại xã hội; hai là, ý thức xã hội. Ý thức xã hội (tức là đời sống tinh thần của xã hội) là ý thức chung của nhiều người; bao gồm ý thức về đạo đức, ý thức về thẩm mỹ, ý thức về tôn giáo, ý thức về chân lý, ý thức về chính trị. Ví dụ, khi chúng ta quan niệm rằng một hành vi nào đó là thiện hay ác, một cái gì đó là đẹp hay xấu, một điều nào đó là đúng hay sai, một việc làm nào đó là chính đáng hay không chính đáng, hợp pháp hay không hợp pháp, một niềm tin tôn giáo nào đó là đáng tin hay không đáng tin, thì quan niệm đó tuy là ý thức của chúng ta nhưng cũng là ý thức xã hội, vì nhiều người có chung quan niệm ấy. Tồn tại xã hội (tức là điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội) không phải là điều kiện sinh hoạt vật chất của các cá nhân riêng lẻ, mà là điều kiện sinh hoạt vật chất chung của nhiều người. Điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội là điều kiện khách quan. Mỗi người sinh ra và trưởng thành trong một điều kiện sinh hoạt vật chất khách quan. Mỗi cộng đồng người sinh sống trong một điều kiện sinh hoạt vật chất khách quan. Điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội bị quy định bởi điều kiện về địa lý, về dân số, về sản xuất. Một số người sống ở vùng khí hậu lạnh; một số người lại sống ở vùng khí hậu nóng. Một số người sống ở vùng đông dân cư; một số người lại sống ở vùng ít dân cư. (*)Một số người sống bằng nghề trồng trọt; một số người lại sống bằng nghề chăn nuôi. Một số người sống trong điều kiện nghèo khó; một số người lại sống trong điều kiện giàu có. Điều kiện sinh hoạt vật chất của họ là khác nhau. Tồn tại xã hội và ý thức xã hội có tác động qua lại với nhau. Sự thay đổi của tồn tại xã hội là một nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của ý thức xã hội. Ngược lại, sự thay đổi của ý thức xã hội là một nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của tồn tại xã hội. Ví dụ, khi chế độ công hữu được thay bằng chế độ tư hữu thì ý thức về pháp luật sẽ hình thành. Những người sống ở vùng khí hậu nhiệt đới hoặc ở vùng đông dân có một số thói quen, phong tục, tập quán khác với người sống ở vùng khí hậu ôn đới hoặc ở vùng thưa dân. Người sản xuất trong nền sản xuất tiểu nông có tác phong tiểu nông. Người sản xuất trong nền sản xuất công nghiệp có tác phong công nghiệp. Khi nền sản xuất phát triển thì văn hóa, khoa học cũng sẽ phát triển. Khi văn hóa, khoa học phát triển thì sản xuất cũng sẽ phát triển. Đó là thực tế mà chúng ta dễ dàng nhận thấy. Nhưng vấn đề là ở chỗ, tồn tại xã hội có quyết định ý thức xã hội hay không.

Về vấn đề trên, triết học trước Mác cho rằng, ý thức xã hội quyết định tồn tại xã hội, ý thức của con người là nguyên nhân quyết định gây ra sự thay đổi của tồn tại xã hội, sự thay đổi của tồn tại xã hội không phải là nguyên nhân sâu xa làm thay đổi ý thức xã hội, trái lại, sự thay đổi của ý thức xã hội là nguyên nhân sâu xa làm thay đổi tồn tại xã hội.

Trong khi đó, triết học Mác - Lênin cho rằng, (*)tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội; ý thức xã hội không quyết định tồn tại xã hội. Ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội; tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội sẽ như thế ấy; tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội sớm hay muộn cũng sẽ thay đổi theo; sự hình thành và thay đổi của một hiện tượng ý thức xã hội nào đó tuy có nguyên nhân từ sự tác động của các hiện tượng ý thức xã hội khác, nhưng suy cho cùng, có nguyên nhân từ sự tác động của tồn tại xã hội; sự thay đổi của tồn tại xã hội là nguyên nhân suy cho cùng dẫn đến sự hình thành, sự thay đổi và sự phát triển ý thức của con người; tồn tại xã hội phát triển tuần tự từ thấp đến cao theo sự phát triển tuần tự và tự nhiên của sản xuất; từ đó, đời sống tinh thần của xã hội cũng phát triển một cách tuần tự từ thấp đến cao(*).

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

4. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về vấn đề lực lượng sản xuất có quyết định quan hệ sản xuất hay không

Khi nghiên cứu về sản xuất vật chất, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ sản xuất do mình tạo ra, tác động vào đối tượng sản xuất và tạo ra của cải vật chất. Sản xuất (sản xuất vật chất) có thể đạt năng suất cao hay thấp, điều đó trước hết phụ thuộc vào trình độ phát triển cao hay thấp của lực lượng sản xuất. Trình độ phát triển cao hay thấp của lực lượng sản xuất được quy định bởi trình độ nhận thức của người sản xuất, trình độ phát triển của công cụ sản xuất. Lực lượng sản xuất không ngừng phát triển từ trình độ thấp đến trình độ cao, vì nhận thức của người sản xuất ngày càng phát triển một cách tự nhiên, người sản xuất ở thế hệ sau có nhiều tri thức hơn so với người sản xuất ở thế hệ trước. Để xác định trình độ của lực lượng sản xuất cao hay thấp, chúng ta phải căn cứ vào trình độ phát triển của công cụ sản xuất, bởi vì trình độ nhận thức của người sản xuất được thể hiện ở trình độ phát triển của công cụ sản xuất. Ví dụ, sản xuất bằng cày do gia súc (*)kéo có trình độ thấp hơn so với sản xuất bằng cày máy; người sản xuất bằng cày do gia súc kéo có trình độ thấp hơn so với người sản xuất bằng cày máy. Sản xuất là hoạt động của nhiều người, chứ không phải là hoạt động của từng người riêng lẻ. Trong quá trình sản xuất, con người phải có quan hệ với nhau. Quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (gọi tắt là quan hệ sản xuất) bao gồm quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất (tức là sở hữu về công cụ sản xuất và đối tượng sản xuất), quan hệ về quản lý sản xuất, quan hệ về phân phối sản phẩm. Trong ba quan hệ đó, quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là quyết định, vì ai có quyền sở hữu tư liệu sản xuất thì người đó có quyền quyết định cách thức tổ chức sản xuất và có quyền quyết định chế độ phân phối. Năng suất cao hay thấp của sản xuất không chỉ phụ thuộc vào trình độ phát triển cao hay thấp của lực lượng sản xuất, mà còn phụ thuộc vào tính hợp lý hay bất hợp lý của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất không ngừng thay đổi. Ví dụ, sự thay đổi từ chế độ tư hữu sang chế độ công hữu và từ chế độ công hữu sang chế độ tư hữu là thay đổi về quan hệ sản xuất.

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có sự tác động qua lại với nhau. Sự thay đổi của lực lượng sản xuất là một nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của quan hệ sản xuất. Ngược lại, sự thay đổi của quan hệ sản xuất là một nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của lực lượng sản xuất. Ví dụ, khi doanh nghiệp đổi mới dây chuyền sản xuất lạc hậu bằng dây chuyền sản xuất hiện đại (*)thì bộ máy tổ chức sản xuất của doanh nghiệp cũng sẽ được thay đổi tương ứng với dây chuyền sản xuất mới. Nếu chế độ phân phối phù hợp thì người sản xuất sẽ tích cực hơn, từ đó năng suất lao động sẽ cao hơn. Nếu chế độ phân phối không phù hợp thì người sản xuất sẽ thiếu tích cực hơn, từ đó năng suất lao động sẽ kém hơn. Đó là thực tế mà chúng ta dễ dàng nhận thấy. Nhưng vấn đề là ở chỗ, lực lượng sản xuất có quyết định quan hệ sản xuất hay không?

Về vấn đề trên, triết học trước Mác cho rằng, lực lượng sản xuất không quyết định quan hệ sản xuất, mà trái lại, quan hệ sản xuất quyết định lực lượng sản xuất.

Trong khi đó, triết học Mác - Lênin cho rằng, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất; quan hệ sản xuất tuy có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm lực lượng sản xuất nhưng không quyết định lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất như thế nào thì quan hệ sản xuất sẽ như thế; khi lực lượng sản xuất phát triển từ trình độ thấp đến trình độ cao hơn thì quan hệ sản xuất sớm hay muộn cũng thay đổi từ quan hệ sản xuất này đến quan hệ sản xuất khác. Nguyên nhân suy cho cùng gây ra sự biến đổi của quan hệ sản xuất là sự tác động của lực lượng sản xuất, chứ không phải là sự tác động của các nhân tố chính trị và văn hóa - xã hội. Quan hệ sản xuất thay đổi tuần tự tương ứng với sự phát triển tuần tự của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất thay đổi theo thứ tự từ quan hệ sản xuất dựa trên chế công hữu đến quan hệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu, và sẽ đến quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu văn minh. Quan hệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu cũng thay đổi tuần tự theo thứ tự từ quan hệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu ít đến quan hệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu nhiều hơn, từ quan hệ sản xuất thuộc phương thức sản xuất châu Á đến quan hệ sản xuất thuộc phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ, rồi đến quan hệ sản xuất thuộc phương thức sản xuất phong kiến, và cuối cùng, đến quan hệ sản xuất thuộc phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa(*).

5. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về vấn đề quan hệ kinh tế có quyết định quan hệ chính trị và quan hệ văn hóa - xã hội hay không

Khi nghiên cứu về quan hệ xã hội, người ta dễ dàng nhận thấy rằng, quan hệ giữa người với người gồm có quan hệ giữa người với người về kinh tế (hay quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế), quan hệ giữa (*)người và người về chính trị và quan hệ giữa người với người về văn hóa - xã hội. Ba quan hệ xã hội đó tương ứng với ba nhu cầu của con người (nhu cầu kinh tế, nhu cầu chính trị và nhu cầu văn hóa - xã hội). Ba quan hệ đó tác động qua lại với nhau. Sự thay đổi trong quan hệ giữa người với người về kinh tế là một nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trong quan hệ giữa người với người về chính trị và văn hóa - xã hội. Ngược lại, sự thay đổi trong quan hệ giữa người với người về chính trị và văn hóa - xã hội là một nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trong quan hệ giữa người với người về kinh tế. Ví dụ, khi cơ chế kinh tế tập trung được thay bằng cơ chế kinh tế thị trường thì xã hội có sự phân hóa giàu nghèo, tầng lớp doanh nhân có vị trí cao về kinh tế, từ đó ngày càng có vị trí cao về chính trị và văn hóa - xã hội. Khi có sự chuyển giao quyền lực chính trị từ đảng nay sang đảng kia thì chính sách cũ sẽ được thay thế bằng chính sách mới; điều đó sẽ dẫn đến sự thay đổi về cơ cấu thu nhập giữa các nhóm dân cư, một số người thì giàu lên, một số người thì nghèo đi. Khi ảnh hưởng của quan niệm đạo đức cũ trọng nam khinh nữ ít đi, ảnh hưởng của quan niệm đạo đức mới nam nữ bình đẳng tăng lên, thì phụ nữ càng có điều kiện thuận lợi hơn để tham gia hoạt động xã hội, nâng cao thu nhập và cải thiện vị thế kinh tế so với đàn ông. Đó là thực tế mà chúng ta dễ dàng nhận thấy. Nhưng vấn đề là ở chỗ, quan hệ giữa người với người về kinh tế quyết định quan hệ giữa người với người về chính trị và văn hóa - xã hội, hay ngược lại? (*)

Về vấn đề trên, triết học trước Mác cho rằng, quan hệ giữa người với người về kinh tế không quyết định quan hệ giữa người với người về chính trị và văn hóa - xã hội, sự thay đổi trong quan hệ giữa người với người về chính trị và văn hóa - xã hội là nguyên nhân quyết định sự thay đổi trong quan hệ giữa người với người về kinh tế.

Trong khi đó, triết học Mác - Lênin cho rằng, quan hệ giữa người với người về kinh tế quyết định quan hệ giữa người với người về chính trị và văn hóa - xã hội, chứ không phải ngược lại. Nhu cầu kinh tế là nhu cầu cơ bản nhất của con người, con người cần được đáp ứng nhu cầu kinh tế trước rồi sau đó mới cần được đáp ứng nhu cầu về chính trị và văn hóa - xã hội. Quan hệ giữa người và người về kinh tế như thế nào thì quan hệ giữa người và người về chính trị và văn hóa - xã hội cũng sẽ như thế. Khi quan hệ giữa người và người về kinh tế thay đổi thì quan hệ giữa người và người về chính trị và văn hóa - xã hội sớm hay muộn cũng sẽ thay đổi theo. Nếu xã hội có tình trạng phân hóa thành giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất và giai cấp không có tư liệu sản xuất, thì giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất sẽ thống trị giai cấp không có tư liệu sản xuất; giai cấp thống trị về kinh tế cũng là giai cấp thống trị về chính trị và văn hóa - xã hội.

Trong xã hội đó, nhà nước và pháp luật là công cụ bảo vệ trật tự xã hội có lợi cho giai cấp thống trị về kinh tế, chứ không phải là công cụ bảo vệ trật tự xã hội có lợi cho giai cấp bị thống trị về kinh tế; tư tưởng (bao gồm tư tưởng về chính trị, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật và khoa học) thống trị trong xã hội là tư tưởng có lợi cho giai cấp thống trị về kinh tế, chứ không phải là tư tưởng có lợi cho giai cấp bị thống trị về kinh tế. Trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, tùy thuộc trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, giai cấp vô sản sẽ từng bước biến tư liệu sản xuất thành tài sản chung của xã hội, khi đó các giai cấp và nhà nước sẽ dần dần tiêu vong; trong xã hội sẽ không còn tình trạng áp bức, bóc lột, cưỡng bức, trấn áp, mất tự do(*).

Tóm lại, các vấn đề nói trên của triết học về lịch sử xã hội đã được đặt ra từ hàng ngàn năm qua dưới những hình thức khác nhau, và đã được lý giải theo nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về các vấn đề ấy là duy vật, là sự giải thích đúng đắn về lịch sử xã hội, và do đó, là sự định hướng đúng đắn về phương pháp nhận thức cho việc nghiên cứu các vấn đề cụ thể của xã hội. Mặc dù triết học Mác - Lênin đã đưa ra cách giải thích duy vật về lịch sử xã hội, nhưng hiện nay, không phải ai cũng hiểu đúng và thừa nhận cách giải thích đó. Nếu ai không hiểu đúng và không thừa nhận quan điểm của triết học Mác - Lênin về lịch sử xã hội thì người đó sẽ không tránh khỏi sai lầm trong việc giải thích nguyên nhân và bản chất của các hiện tượng xã hội xuất hiện trong đời sống hàng ngày./.

(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Tài liệu tham khảo

[1]     C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[2]     C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[3]     C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[4]     C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[5]     C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.19, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

[6]     C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, t.20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[7]     C.Mác và Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, t.21, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[8]     C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[9]     C.Mác và Ph.Ăngghen (1997), Toàn tập, t.37, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[10]   V.I.Lênin (1974), Toàn tập, t.1, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.

[11]   V.I.Lênin (1980), Toàn tập, t.18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.

[12]   V.I.Lênin (1980), Toàn tập, t.23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.

[13]   V.I.Lênin (1981), Toàn tập, t.33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.   (*)    

 

 

(*) Quan điểm trên được các nhà kinh điển thể hiện ở nhiều luận điểm khác nhau. Chẳng hạn, C.Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” [Xem: 8, tr.21]. Theo Ph.Ăngghen, “tất cả những chế độ lịch sử nối tiếp nhau chỉ là những giai đoạn quá độ trong tiến trình vô cùng tận của xã hội loài người từ thấp đến cao. Mỗi giai đoạn đều là tất yếu, và do đó đều là chính đáng trong thời đại và trong những điều kiện đã sản sinh ra nó; song trong những điều kiện mới, cao hơn, đang dần dần phát triển ở ngay trong lòng của nó, nó sẽ trở nên không vững chắc và không chính đáng. Nó buộc phải nhường chỗ cho giai đoan cao hơn, giai đoạn này, đến lượt nó, cũng sẽ đi đến chỗ suy tàn và tiêu vong” [xem: 7, tr.394].

(*) Quan điểm trên được các nhà kinh điển thể hiện ở nhiều luận điểm khác nhau. Chẳng hạn, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những tiền đề lịch sử tùy tiện không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi. Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra. Như vậy, những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệm thuần túy”; “Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống”; “Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình” [1, tr.28-29]. “Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có khả năng “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa. Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất”; “Điểm thứ hai là bản thân cái nhu cầu đầu tiên đã được thỏa mãn, hành động thỏa mãn và công cụ để thỏa mãn mà người ta đã có được - đưa tới những nhu cầu mới; và sự sản sinh ra những nhu cầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên”; “Quan hệ thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử: hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [1, tr.39-41]. Theo Ph.Ăngghen: “Lần đầu tiên, lịch sử đã được đặt trên cơ sở thực sự của nó. Cái sự thật hiển nhiên mà mãi cho đến lúc đó người ta vẫn bỏ quên mất, là trước hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc, nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học, v.v., cái sự thật hiển nhiên ấy giờ đây rốt cuộc đã giành được vị trí thích đáng của nó trong lịch sử” [5, tr.166]; “Giống như Đác-uyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người: cái sự thật giản đơn đã bị những tầng tầng lớp lớp những tư tưởng phủ kín cho đến ngày nay là: con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và v.v. được; vì vậy, việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính, mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo ra một cơ sở, từ đó người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta, cho nên phải xuất phát từ cơ sở đó mà giải thích những cái này, chứ không phải ngược lại, như từ trước đến nay người ta đã làm” [5, tr.500]; “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người” [6, tr.641]; “Quan niệm duy vật về lịch sử xuất phát từ luận điểm cho rằng sản xuất và tiếp theo sau sản xuất là trao đổi sản phẩm của sản xuất, là cơ sở của mọi chế độ xã hội, rằng trong mỗi xã hội xuất hiện trong lịch sử, sự phân phối sản phẩm, và cùng với sự phân phối ấy là sự phân chia xã hội thành giai cấp hoặc đẳng cấp, đều được quyết định bởi tình hình: người ta sản xuất ra cái gì và sản xuất ra bằng cách nào và những sản phẩm của sản xuất đó được trao đổi như thế nào. Do đó, phải tìm những nguyên nhân cuối cùng của tất cả những biến đổi xã hội và những đảo lộn chính trị không phải trong đầu óc người ta, không phải ở nhận thức ngày càng tăng thêm của người ta về chân lý vĩnh cửu và chính nghĩa vĩnh cửu, mà là trong những biến đổi của phương thức sản xuất và phương thức trao đổi; cần phải tìm những nguyên nhân đó không phải trong triết học, mà là trong kinh tế của thời đại tương ứng” [6, tr.371]; “Theo quan điểm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế. Còn nếu có ai đó xuyên tạc luận điểm này theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa” [9, tr.641].

(*) Quan điểm trên được các nhà kinh điển thể hiện ở nhiều luận điểm khác nhau. Chẳng hạn, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Chính con người là kẻ sản xuất ra những quan niệm, ý niệm, v.v. của mình, song đây là những con người hiện thực, đang hành động, đúng như họ bị quy định bởi một sự phát triển nhất định của những lực lượng sản xuất của họ và bởi sự giao tiếp phù hợp với sự phát triển ấy, kể cả những hình thức rộng rãi nhất của sự giao tiếp ấy. Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người” [1, tr.37]. Theo C.Mác, “không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức xã hội của họ”; “Nếu ta không thể nhận định về một người căn cứ vào ý kiến của chính người đó đối với bản thân, thì ta cũng không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại ấy. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội. Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ. Cho nên nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được, vì khi xét kỹ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất để giải quyết nhiệm vụ đó đã có rồi, hay ít ra cũng đang ở trong quá trình hình thành” [4, tr.15-16]. Theo Ph.Ăngghen, “cái luận điểm nói rằng ý thức của con người phụ thuộc vào tồn tại của họ, chứ không phải là ngược lại, xem ra rất đơn giản; nhưng nếu nghiên cứu kỹ thì người ta sẽ lập tức thấy rằng ngay trong kết luận đầu tiên của nó, luận điểm đó cũng đã giáng một đòn chí mạng vào mọi thứ chủ nghĩa duy tâm, ngay cả đối với chủ nghĩa duy tâm ẩn giấu nhất” [4, tr.608]; “chủ nghĩa duy tâm đã bị tống ra khỏi nơi ẩn náu cuối cùng của nó, tức là ra khỏi quan niệm về lịch sử, người ta đã có một quan niệm duy vật về lịch sử và đã tìm thấy con đường để giải thích ý thức của con người từ sự tồn tại của họ, chứ không phải lấy ý thức của họ để giải thích sự tồn tại của họ như từ trước đến nay người ta đã làm” [6, tr.43-44]. Theo V.I.Lênin, “nói chung, ý thức phản ánh tồn tại, đó là một nguyên lý chung của toàn bộ chủ nghĩa duy vật, và không thể không nhìn thấy mối liên hệ trực tiếp và mật thiết giữa nguyên lý ấy với nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội” [11, tr.400]. “Chủ nghĩa duy vật nói chung thừa nhận rằng tồn tại thực tại khách quan (vật chất) là không phụ thuộc vào ý thức, cảm giác, kinh nghiệm, v.v., của loài người. Chủ nghĩa duy vật lịch sử thừa nhận rằng tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của loài người. Trong hai trường hợp đó, ý thức chỉ là phản ánh của tồn tại, nhiều lắm thì cũng chỉ là một phản ánh gần đúng (ăn khớp, chính xác một cách lý tưởng). Trong cái triết học ấy của chủ nghĩa Mác, đúc bằng một khối thép duy nhất, người ta không thể vứt bỏ một tiền đề cơ bản nào, một phần chủ yếu nào, mà không xa rời chân lý khách quan, không rơi vào sự dối trá của giai cấp tư sản phản động” [11, tr.404].

(*) Quan điểm trên được các nhà kinh điển thể hiện ở nhiều luận điểm khác nhau. Chẳng hạn, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Như vậy, sự sản xuất ra đời sống - ra đời sống của bản thân mình bằng lao động, cũng như ra đời sống của người khác bằng việc sinh con đẻ cái biểu hiện ngay ra là một quan hệ song trùng: một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội, quan hệ xã hội với ý nghĩa đó là sự hợp tác của nhiều cá nhân, không kể là trong những điều kiện nào, theo cách nào và nhằm mục đích gì. Do đó chúng thấy rằng một phương thức sản xuất nhất định hay một giai đoạn công nghiệp nhất định là luôn luôn gắn liền với một phương thức hợp tác nhất định hay một giai đoạn xã hội nhất định; rằng bản thân phương thức hợp tác ấy là một “sức sản xuất”; và cũng do đó mà thấy rằng tổng thể những lực lượng sản xuất mà con người đã đạt được, quyết định trạng thái xã hội” [1, tr.42]; “Ngay từ đầu, đã có mối liên hệ vật chất giữa người và người, mối liên hệ này bị quy định bởi những nhu cầu và những phương thức sản xuất và cũng lâu đời như bản thân loài người,- một mối liên hệ không ngừng mang những hình thức mới” [1, tr.43]; “Tất cả mọi sự xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa những lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp” [1, tr.107]. Theo C.Mác, “những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất. Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp” [2, tr.187]; “Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên. Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất” [3, tr.552]; “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó. Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức xã hội của họ. Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay - đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất đó - mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của những lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội. Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng. Khi xét những cuộc đảo lộn ấy, bao giờ cũng cần phân biệt cuộc đảo lộn vật chất - mà người ta có thể xác nhận với một sự chính xác của khoa học tự nhiên - trong những điều kiện kinh tế của sản xuất, với những hình thái pháp lý, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật hay triết học, tóm lại, với những hình thái tư tưởng trong đó con người ý thức được cuộc xung đột ấy và đấu tranh để giải quyết cuộc xung đột ấy” [4, tr.14-15]; “Về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế - xã hội” [4, tr.16]; “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” [8, tr.269]. Theo V.I.Lênin, “chỉ có thể đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” [10, tr.163].

(*) Quan điểm trên được các nhà kinh điển thể hiện ở nhiều luận điểm khác nhau. Chẳng hạn, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội. Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung những tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối. Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng; do đó là sự biểu hiện của chính ngay của những quan hệ làm cho một giai cấp trở thành giai cấp thống trị; do đó, đó là những tư tưởng của sự thống trị của giai cấp ấy” [1, tr.66-67]; “Thật ra, mỗi giai cấp mới thay thế cho giai cấp thống trị trước mình, muốn thực hiện được mục đích của mình, đều nhất thiết phải biểu hiện lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của mọi thành viên trong xã hội hay nói một cách trừu tượng: phải gắn cho những tư tưởng của bản thân mình một hình thức phổ biến, phải biểu hiện những tư tưởng đó thành những tư tưởng duy nhất hợp lý, duy nhất có giá trị phổ biến” [1, tr.68]; nhà nước tư sản “chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mà những người tư sản buộc phải dùng đến để bảo đảm lẫn cho nhau sở hữu và lợi ích của họ, ở ngoài nước cũng như ở trong nước”, “nhà nước là hình thức mà các cá nhân thuộc một giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chung của họ và là hình thức dưới đó toàn bộ xã hội công dân của một thời đại được biểu hiện một cách tập trung” [1, tr.90]. Theo C.Mác, “toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”; “Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” [4, tr.15]. Theo Ph.Ăngghen, “đúng ra, nhà nước là sản phẩm của một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định; nó là sự thú nhận rằng xã hội đó bị lúng túng trong một mối mâu thuẫn với bản thân mà không sao giải quyết được, rằng xã hội đó đã bị phân thành những mặt đối lập không thể điều hòa mà xã hội đó bất lực không sao loại bỏ được. Nhưng muốn cho những mặt đối lập đó, những giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau đó, không đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc đấu tranh vô ích, thì cần phải có một lực lượng cần thiết, một lực lượng là rõ ràng đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng “trật tự”. Và lực lượng đó, nảy sinh sinh ra từ xã hội, nhưng lại đứng trên xã hội và ngày càng tách rời khỏi xã hội, chính là nhà nước” [7, tr.252-253].


Nguyễn Ngọc Hà (*)

Tạp chí Triết học, số 11 (342), tháng 11 - 2019


Các tin khác:

Xem tin phát hành ngày:

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Điện thoại: +84 (024)35140527, +84 (024)35141134, Fax: +84 (024)35141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007