QC Shop

Lịch sử hình thành và phát triển của Viện Triết học

PGS,TS. Phạm Văn Đức

Viện Triết học chính thức được thành lập năm 1962 theo Nghị định số 43 - CP ngày 04 tháng 04 năm 1962 của Chính phủ. Tiền thân của Viện là Tổ Triết học được thành lập vào tháng 8 năm 1959 thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Trong Nghị định số 43-CP quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Khoa học Nhà nước, Viện Triết học chính thức có tên trong cơ cấu của Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Sau khi tách ra khỏi Uỷ ban Khoa học Nhà nước vào năm 1967, Viện Triết học trực thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, sau đó là Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia và hiện nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Viện Triết học chính thức được thành lập năm 1962 theo Nghị định số 43 - CP ngày 04 tháng 04 năm 1962 của Chính phủ. Tiền thân của Viện là Tổ Triết học được thành lập vào tháng 8 năm 1959 thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Trong Nghị định số 43-CP quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Khoa học Nhà nước, Viện Triết học chính thức có tên trong cơ cấu của Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Sau khi tách ra khỏi Uỷ ban Khoa học Nhà nước vào năm 1967, Viện Triết học trực thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, sau đó là Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia và hiện nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Kể từ khi thành lập đến nay, nhờ sự cố gắng của các thế hệ cán bộ trong Viện, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, được sự giúp đỡ và tận tình tạo điều kiện của các cơ quan cấp trên, trực tiếp là Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Triết học đã không ngừng phát triển, trưởng thành về mọi mặt và có những đóng góp nhất định cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trước đây, cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay.

Nhiệm vụ được đặt ra những năm đầu mới thành lập là tập hợp, đào tạo cán bộ và từng bước tiến hành những nghiên cứu cơ bản về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; vận dụng triết học để nghiên cứu những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; nghiên cứu về lịch sử tư tưởng và lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam; theo dõi triết học tư sản hiện đại và triết học trong vùng do Mỹ - Ngụy kiểm soát; nghiên cứu đạo đức học, mỹ học, triết học trong khoa học tự nhiên; theo dõi tình hình của triết học ở các nước xã hội chủ nghĩa, v. v..

Sau hai năm hoạt động, Tổ Triết học, sau đó là Bộ phận Triết học, đã tiến hành thu thập được một số tài liệu về những vấn đề triết học quan trọng, làm được một số báo cáo lý luận cho các cơ quan lãnh đạo, chuẩn bị một số bài viết và sách về triết học để in, giúp Nhà xuất bản Sự thật dịch một số tác phẩm kinh điển, một số sách và sách giáo khoa về triết học Mác - Lênin ra tiếng Việt làm tài liệu tham khảo; tham gia giảng dạy triết học và mỹ học cho một số cơ quan tại Hà Nội.

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đến cuối năm 1962, số cán bộ của Viện đã lên tới 44 người.

Nhờ tích cực học tập và nhất là do sự quan tâm đến công tác đào tạo của các đồng chí lãnh đạo cho nên đến năm 1964, hầu hết số người có mặt tại Viện đều đã đạt trình độ đại học ngành triết học hoặc tương đương nghiên cứu sinh. Thực sự đây là vốn quý của ngành triết học nước nhà.

Về mặt nghiên cứu, tuy đến năm 1963, số công trình được xuất bản chưa nhiều nhưng cũng đã có những cuốn sách được dư luận chú ý, chẳng hạn cuốn Đẹp của Vũ Khiêu, người có công đầu trong việc hình thành Viện Triết học sau này. Sau khi cuốn sách được xuất bản, một cuộc thảo luận sôi nổi trong cả nước đã diễn ra. Một số cuốn sách về triết học phổ thông cũng được xuất bản. Đó là các cuốn: Triết học là gì? Quan hệ giữa vật chất và ý thức; Bản chất thế giới là vật chất; Chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan hệ sản xuất; Thời đại mới, anh hùng mới; Thanh niên và vấn đề đạo đức; Vua thần nông và con trâu đất; v.v.. Nhiều bài nghiên cứu cũng đã được công bố trên các tạp chí khác nhau.

Bên cạnh việc viết sách, viết báo, các cán bộ trong Viện đã tham gia thảo luận sôi nổi về vấn đề lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; về cuộc đấu tranh giữa hai con đường và các tác phẩm văn học phản ánh nó; về vấn đề phản ánh cái xấu; về phương pháp nghệ thuật; về mối quan hệ giữa chân, thiện, mỹ; về nội dung và hình thức trong nghệ thuật; về lý tưởng thẩm mỹ; về con người mới; về các vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất đất nước; về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam (đồng chí Trường Chinh trực tiếp theo dõi cuộc thảo luận về đề tài này); về chiến tranh và hoà bình; về mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu của thời đại và của cách mạng Việt Nam; về phương thức sản xuất châu á; về mục đích, đối tượng, phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học Việt Nam; sự truyền bá triết học Mác vào Việt Nam; tiêu chuẩn đạo đức mới; về bản chất của chủ nghĩa duy linh - nhân vị; tính chất tôn giáo của các xu hướng triết học duy tâm hiện lưu hành ở miền Nam; v.v..

Đó là những thành công bước đầu, tạo dựng nền móng cho một cơ quan nghiên cứu. Bên cạnh đó, công tác đạo tạo cán bộ đã được Viện chú ý. Viện đã tiến hành công tác đào tạo cơ bản với quy mô lớn. Việc nhìn xa trông rộng của lãnh đạo về sự cần thiết phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ cao và mạnh dạn tổ chức các lớp học ở trong nước cũng như gửi đi nước ngoài đào tạo cần được ghi nhận.

Phương châm tích luỹ lâu dài, đóng góp kịp thời, gắn lý luận với thực tiễn được đưa ra lúc đó là phương châm đúng. Phương châm này đã được quán triệt vào nội dung các đề tài nghiên cứu, trong việc tìm hiểu thực tế, trong việc nêu ra các quan điểm và giải pháp, v.v.. Trong thực tế, việc thực hiện phương châm ấy có một số lệch lạc, nhưng chúng đã được uốn nắn, sửa chữa kịp thời.

Có được những thành công đó trước hết là nhờ những người lãnh đạo nhiệt tình, có tầm nhìn xa, biết tập hợp lực lượng, vạch được phương hướng nghiên cứu và phát triển cơ quan đúng về cơ bản trên một số lĩnh vực. Có được những thành công đó cũng phải kể đến công lao của tất cả những anh chị em cán bộ trong cơ quan ngày ấy. Họ đã không nề hà bất cứ việc gì, đã dành rất nhiều thì giờ cho những công việc sự vụ của một cơ quan mới bắt đầu được gây dựng. Cho dù sau này, cơ quan có phát triển đến đâu chăng nữa, cho dù vai trò xã hội của Viện có cao bao nhiêu chăng nữa thì cũng không thể nào quên được công lao của những người đã đặt nền móng cho Viện.

Từ tháng 6 năm 1964, khi triển khai Nghị quyết Trung ương lần thứ 9, đồng chí Phạm Như Cương được điều động về phụ trách và chính thức được bổ nhiệm làm Viện trưởng đầu tiên của Viện Triết học.

Từ lúc này trở đi, Viện được xác định là cơ quan nghiên cứu khoa học của Đảng, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin; nghiên cứu những nguyên lý của triết học mácxít, vận dụng vào nghiên cứu tình hình đất nước, góp phần vào việc xây dựng thế giới quan Mác - Lênin và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; từ góc độ triết học, lấy việc thuyết minh đường lối của Đảng và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin làm nhiệm vụ cơ bản.

Trong những năm từ 1964 đến 1975, Viện đã tổ chức hàng loạt cuộc hội thảo khoa học lớn về các đề tài khác nhau. Số lượng các luận văn nghiên cứu ngày càng nhiều hơn, nhu cầu xã hội hoá kết quả nghiên cứu trở nên cấp bách, do vậy, năm 1966, tờ Thông báo Triết học, tiền thân của tờ Tạp chí Triết học ra đời. Đồng chí Trường Chinh đã gửi đăng bài "Những nhiệm vụ của anh chị em làm công tác nghiên cứu triết học ở nước ta hiện nay" trên số 1 của Thông báo.

Sự trưởng thành của các cán bộ trong Viện được đánh dấu bằng nhiều công trình lần lượt được xuất bản.

Những thành tựu ban đầu mà Viện có được gắn liền với  một giai đoạn cực kỳ khó khăn của đất nước. Đối với anh chị em trong toàn Viện thì đây là giai đoạn rất vất vả do cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc của đế quốc Mỹ diễn ra ác liệt. Nhiều sinh hoạt của Viện giai đoạn 1964 đến 1975 đã diễn ra ở các nơi sơ tán. Các thế hệ cán bộ Viện Triết học không bao giờ quên bà con, cô bác nơi Viện sơ tán đã hết sức giúp đỡ, đùm bọc trong những ngày vô cùng gian nan đó.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một số cán bộ của Viện đã được điều vào Nam trực tiếp chiến đấu và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Các đồng chí ở lại công tác tại Viện cũng đã hoàn thành tốt các chức trách được giao và khi kết thúc chiến tranh, nhiều đồng chí đã được Nhà nước tặng thưởng huân chương các loại.

Bài học lớn nhất của giai đoạn 1964 - 1975 là bài học lấy tư tưởng của Đảng làm chỗ đứng, lấy sức mạnh của Đảng làm chỗ dựa, lấy việc hoàn thành  nhiệm vụ công tác chuyên môn làm chất kết dính, vừa đoàn kết, vừa đấu tranh; vừa kiên quyết đấu tranh, vừa ra sức đoàn kết. Và để thực hiện được những điều kể trên, thái độ thận trọng, khách quan, bao dung và dũng cảm của người đứng đầu cơ quan và thái độ của tất cả mọi cán bộ biết vượt lên trên tất cả những định kiến hẹp hòi, mặc cảm trong quan hệ cá nhân với nhau để hợp tác với nhau trong sự nghiệp chung là có ý nghĩa quyết định.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã đưa giang sơn về một mối. Trong khoảng thời gian giữa các kỳ đại hội Đảng, Viện Triết học xác định cho mình nhiệm vụ cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, quan điểm của Đảng và sau đại hội, tiến hành thuyết minh, tuyên truyền các nghị quyết. Bên cạnh đó, nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra cũng rất được coi trọng.

Từ khi phạm vi hoạt động và trách nhiệm của Viện mở rộng ra cả nước, công tác nghiên cứu lý luận được đẩy mạnh, đồng thời việc giảng dạy triết học ở đại học cũng trở thành nhiệm vụ quan trọng. Các cán bộ của Viện đã tham gia giảng dạy tất cả các chuyên ngành cho Khoa Triết học thuộc Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Có thể nói rằng, Viện Triết học đã góp phần quan trọng vào việc sáng lập và đào tạo tại các Khoa Triết học ở đại học Việt Nam. Quan hệ quốc tế được mở rộng, nhờ đó uy tín quốc tế của Việt Nam cũng được tăng lên, trong đó có cả uy tín về lĩnh vực triết học. Nhiều cán bộ của Viện được cử đi giảng dạy ở nước ngoài. Viện tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn của đất nước, của lịch sử tư tưởng dân tộc, về giá trị văn hoá tinh thần; về mối quan hệ giữa triết học và các khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật; về sự phân kỳ chủ nghĩa xã hội và đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; v.v..

Đặc biệt, trước và khi bắt đầu quá trình đổi mới, Viện đã đứng ra tổ chức Hội thảo về đổi mới tư duy. Hội thảo này đã thu hút sự quan tâm rộng rãi của nhiều nhà khoa học trên tất cả các lĩnh vực và đã có tiếng vang tốt. Nó cũng đánh dấu một sự chuyển biến trong suy nghĩ và trong thực tế nghiên cứu những năm về sau này; nhờ đó mà ở một số bài viết và công trình từ đó về sau đã cung cấp được những luận chứng, góp phần vào việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Về mặt nghiên cứu khoa học, thời kỳ 1975 - 1986 là thời kỳ gặt hái những thành quả mà thời kỳ trước đó đã chuẩn bị, đồng thời cũng tạo thêm những điều kiện mới cho thời kỳ tiếp theo. Thành quả rõ nhất đã đạt được trong 11 năm ấy là khoảng 650 bài nghiên cứu đã được công bố thuộc tất cả các lĩnh vực của khoa học triết học và nhiều cuốn sách đã được xuất bản.

Cũng trong thời kỳ này, một loạt các công trình hợp tác của Viện với Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô được xuất bản.

Cùng với thời gian, khả năng và trình độ nghiên cứu của các cán bộ trong Viện đã trưởng thành vượt bậc. Điều này thể hiện trên các mặt xác định phương hướng, lựa chọn đề tài, xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện, v.v.. Nhiều công trình được công bố vừa có tính chất lý luận, vừa có sự tổng kết tình hình thực tiễn. Có những công trình khá súc tích và đặt ra được những vấn đề mới hoặc lý giải vấn đề theo cách mới. Một số cuốn sách kể trên đã được dư luận đánh giá cao, có cuốn đã được tái bản, có cuốn trở thành tài liệu tham khảo quý đối với người học, nhất là đối với sinh viên chuyên ngành triết học, cũng có cuốn đã trở nên khan hiếm và có nhu cầu in lại.

Ghi nhận tất cả những đóng góp của Viện Triết học, năm 1984 Nhà nước đã trao tặng Viện Huân chương Lao động hạng II và Tạp chí Triết học Huân chương Lao động hạng III.

Đại hội lần thứ VI của Đảng không những mở ra một thời kỳ mới cho đất nước, mà còn mở ra một thời kỳ mới cho cả ngành triết học và giới triết học nước nhà. Chính do đường lối mở rộng dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội mà bộ mặt của triết học cũng có những thay đổi đáng kể, sự đóng góp của giới triết học cho đất nước cũng rõ nét hơn, có hiệu quả hơn.

Trong quy định mới nhất của Nhà nước, Viện có chức năng nghiên cứu những vấn đề triết học trong nước và thế giới, nhất là những vấn đề mới nảy sinh  từ thực tiễn Việt Nam. Từ góc độ triết học, góp phần vào việc cung cấp căn cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vào việc xây dựng thế giới quan khoa học và phương pháp luận chung cho cán bộ và nhân dân ta.

Cùng với sự nghiệp đổi mới của cả nước, Viện đã đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề lý luận mà thực tiễn đặt ra nhằm tìm kiếm những lời giải khoa học, khả thi cho các vấn đề ấy. Chính vì vậy, chất lượng các công trình được công bố ngày càng cao hơn, có sức thuyết phục hơn và được giới lý luận, được các cơ quan quản lý và lãnh đạo quan tâm theo dõi, được Nhà nước và các tổ chức đặt hàng.

Nắm bắt được các yêu cầu của thực tiễn, những kết quả nghiên cứu chính trong giai đoạn này được thể hiện ở hai hướng cơ bản:

- Những vấn đề lý luận và thực tiễn được đặt ra trong quá trình phát triển của nước ta thời kỳ đổi mới.

- Khai thác các giá trị trong di sản tư tưởng, nhất là tư tưởng triết học, và văn hoá của dân tộc.

Để góp phần làm rõ cơ sở khoa học của sự nghiệp đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trong hướng thứ nhất, việc nghiên cứu đã tập trung vào các vấn đề cơ bản sau đây: các cơ sở lý luận và thực tiễn của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; mô hình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta; vấn đề động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội; vấn đề dân chủ hoá đời sống xã hội; nghiên cứu và nhận thức lại di sản của các nhà kinh điển về chủ nghĩa xã hội và hàng loạt các vấn đề khác trong các lĩnh vực cụ thể khác nhau của đời sống xã hội, của sự nghiệp đổi mới. Trong hướng này, hàng trăm bài viết đã được đăng trên các tạp chí khoa học và nhiều chuyên khảo khác nhau đã được xuất bản.

hướng thứ hai, nhằm kế thừa và vận dụng có hiệu quả di sản tư tưởng triết học, văn hoá của cha ông, Viện đã tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản như: lịch sử tư tưởng, trước hết là tư tưởng triết học Việt Nam; lịch sử Phật giáo Việt Nam; các vấn đề của Nho giáo và ảnh hưởng của nó tại Việt Nam; đặc biệt là các nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh.

Các kết quả nghiên cứu trên, trực tiếp nhất là kết quả của những công trình của hướng nghiên cứu thứ nhất, đã góp phần vào việc cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng ta. Từ các kết quả nghiên cứu của mình, Viện đã có những kiến nghị góp vào việc soạn thảo Cương lĩnh, Chiến lược kinh tế - xã hội đến năm 2000, văn kiện các kỳ đại hội Đảng và các văn kiện khác của Đảng và Nhà nước, trong đó có những kiến nghị đã được tiếp thu và sử dụng. Nhiều cán bộ trong Viện đã được các cấp lãnh đạo tin cậy giao các công việc đòi hỏi trình độ lý luận cao.           

Từ năm 1991 đến nay, Viện đã được giao chủ trì nhiều đề tài nghiên cứu khoa học thuộc các chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước. Nhìn chung, các đề tài do Viện chủ trì đều hoàn thành đúng hạn và đạt chất lượng tốt hoặc xuất sắc.

Ngoài ra, từ giữa những năm 90 đến nay, Viện cũng đã hoàn thành một số đề tài cấp Bộ, đã được nghiệm thu và xuất bản.

Đặc biệt, những năm cuối thập kỷ 80 trở đi, Viện rất quan tâm đầu tư cho việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng nói chung và lịch sử tư tưởng triết học nước nhà nói riêng, nhờ vậy đã hoàn thành 3 tập Lịch sử tư tưởng Việt Nam và đã xuất bản 2 tập đầu. Bắt đầu từ năm 2002 đến nay, Viện Triết học đang tập trung nghiên cứu Lịch sử t­ư tư­ởng triết học Việt Nam. Các tác giả đã hoàn thành tập 1 và bản thảo đã được chuyển sang nhà xuất bản, đồng thời đang tiến hành nghiên cứu tập 2. Nếu bộ Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam được hoàn thành thì đây sẽ là một tài liệu bổ ích và quý giá cho việc giảng dạy lịch sử triết học Việt Nam.

Cùng với thời gian, số lượng các bài báo, các công trình của cán bộ trong Viện được in ở nước ngoài hoặc được dịch sang tiếng nước ngoài ngày một nhiều hơn.

Sự hợp tác với các nước khác trong khu vực và trên thế giới cũng dần dần được mở rộng, nhiều cuộc đi thăm, trao đổi khoa học và tham dự các cuộc hội thảo hai bên và nhiều bên được thực hiện thường xuyên hơn. Trong thời gian từ khi bắt đầu đổi mới đến nay, bằng nhiều con đường khác nhau, đã có hơn 100 lượt người được ra nước ngoài học tập, nghiên cứu hoặc dự hội thảo khoa học tại các nước và các vùng lãnh thổ như ấn Độ, Inđônêsia, Thái Lan, Singapo, Malaisia, Trung Quốc, Nhật Bản, Canađa, Mỹ, Nga, Đài Loan, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Thổ Nhĩ Kỳ; có Giáo sư được mời sang Singapo báo cáo về Triết học trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Nhiều anh chị em ra nước ngoài học tập đã bảo vệ thành công luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ và Tiến sĩ khoa học.

Từ những năm 90 đến nay, Viện đã đứng ra tổ chức và chủ trì một số hội thảo khoa học quốc tế tại Hà Nội với sự tham gia của các học giả đến từ nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới.

Viện cũng đã mời các giáo sư nước ngoài trình bày các bài giảng về những vấn đề triết học mới nhất trên thế giới nhằm cập nhật kiến thức cho cán bộ trong Viện.

Đặc biệt, Viện đã có cán bộ tham gia Đại hội triết học thế giới lần thứ XIX tại Mátxcơva (tháng 8 - 1993), lần thứ XX vào tháng 8 - 1998 tại Boxton, Mỹ và lần thứ XXI tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 8 năm 2003. Tại Đại hội lần thứ XX, Đoàn Việt Nam đã phối hợp tổ chức và chủ trì Hội nghị bàn tròn Về triết học Việt nam và giáo dục triết học ở Việt Nam có sự tham gia của nhiều học giả thế giới. Để chuẩn bị cho Đại hội triết học thế giới lần thứ XXII sẽ được tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc vào năm 2008, tháng 6 năm 2006, Viện Triết học đã phối hợp với Liên đoàn các hội triết học quốc tế (FISP) tổ chức hội thảo quốc tế với chủ đề Nhận thức lại vai trò của triết học trong kỷ nguyên toàn cầu. Hội thảo đã có sự tham gia của gần 50 học giả quốc tế, trong đó nhiều học giả là uỷ viên Ban chấp hành Liên đoàn các hội triết học quốc tế.

Đánh giá một cách khái quát những thành quả quan trọng mà Viện Triết học đạt được trong hơn 40 năm qua, cần phải nhắc đến trước tiên là việc Viện đã góp phần trang bị tư duy lý luận, thế giới quan khoa học và phương pháp luận triết học Mác - Lênin cho đông đảo cán bộ và nhân dân ta. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi vì tất cả những cái đó là cơ sở để cho lý luận cách mạng và đường lối cách mạng của Đảng thâm nhập vào cán bộ và quần chúng, trở thành niềm tin khoa học, trở thành sức mạnh vật chất để đánh thắng kẻ thù trong chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc và giành những thành tựu to lớn trong công cuộc kiến thiết đất nước.

Trong giai đoạn cả nước có chiến tranh và thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược, Viện Triết học đã khai thác những giá trị của chủ nghĩa yêu nước truyền thống trong di sản tư tưởng của cha ông, đặc biệt là chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhằm phục vụ kịp thời cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng hậu phương lớn của cả nước.

Song song với điều đó, một số công trình nghiên cứu cũng đã tập trung phê phán đối với sự xuyên tạc chủ nghĩa Mác, phê phán các trào lưu triết học phản động - công cụ của chủ nghĩa thực dân mới, nhất là chủ nghĩa duy linh - nhân vị. Đồng thời, trong giai đoạn này, Viện cũng đã có những công trình nghiên cứu về con người, khẳng định vai trò quyết định của con người, của nhân tố chủ quan, chứ không phải của sức mạnh vũ khí trong chiến tranh.

Từ khi bắt đầu quá trình đổi mới đến nay, Viện đã có hàng loạt công trình lớn, nhỏ khác nhau đi sâu vào các vấn đề lý luận do thực tiễn đất nước đặt ra. Nhờ môi trường học thuật được cải thiện rõ rệt, cho nên nhiều cuộc hội thảo khoa học đã được tổ chức và chính điều đó tạo nên một khí thế mới cho công tác nghiên cứu. Không ít ý kiến mà về sau được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí là khá mới và lúc đầu không khỏi gây nên một sự phản ứng nhất định nào đó. Rất may là thực tế cuộc sống đã nhanh chóng, hoặc còn phải chờ một thời gian nào đó, xác nhận tính đúng đắn của những ý kiến như vậy. Đảng và Nhà nước ngày càng tin tưởng hơn vào khả năng của đội ngũ những người nghiên cứu lý luận nói chung và những người công tác trong lĩnh vực triết học nói riêng. Nhờ vậy, một số anh chị em trong Viện đã được giao nhiều nhiệm vụ, đã tham gia tích cực và có kết quả vào nhiều đề tài hoặc chương trình nghiên cứu khoa học các cấp khác nhau và từ góc độ của mình, đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục đổi mới tư duy, trước hết là tư duy lý luận, đổi mới xã hội, hoạch định cương lĩnh, chiến lược kinh tế - xã hội, các chính sách của Đảng và Nhà nước.

Một đóng góp quan trọng của bộ môn lịch sử triết học trong những năm qua là đã kiên trì từng bước tập hợp tư liệu, tiến hành dịch và khai thác những giá trị về tư tưởng và triết học của dân tộc đã được tích lũy suốt hàng bao thế kỷ nay. Những việc làm này đã được tiến hành với các mức độ và quy mô khác nhau tuỳ theo từng thời điểm lịch sử, ngay từ khi đất nước còn đang bị chia cắt cho đến tận hôm nay. Kết quả là, Viện đã có được những công trình của tập thể hoặc của các cá nhân nghiên cứu về từng nhà tư tưởng lớn của dân tộc hoặc về một giai đoạn nhất định trong lịch sử. Một vài công trình trong số đó đã được tái bản nhiều lần và được biết đến rộng rãi cả ở trong lẫn ngoài nước. Liên quan đến mảng đề tài lịch sử tư tưởng triết học, gần đây việc nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh cũng đã bắt đầu được quan tâm.

Trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu về phép biện chứng, về chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhiều công trình đã lần lượt được xuất bản. Trong số các công trình này, có công trình mang tính cơ bản, đi sâu vào những khía cạnh lý luận chưa được khai thác sâu hay còn có ý kiến khác nhau và có công trình mang tính ứng dụng nhằm góp phần lý giải các vấn đề bức xúc của đất nước. Tùy từng thời kỳ mà trọng tâm chú ý được tập trung vào các vấn đề khác nhau. Song, từ nhiều góc độ, các vấn đề về ý thức, về mâu thuẫn, về phát triển, về động lực của sự phát triển, về tiến bộ xã hội và tiêu chuẩn của sự tiến bộ xã hội, cũng như của sự phát triển và sự tiến bộ của xã hội Việt Nam nói riêng, về khả năng và vấn đề nghệ thuật vận dụng các khả năng, v.v. được quan tâm nhiều hơn cả và cũng là chỗ có nhiều đóng góp hơn cả.

Theo hướng nghiên cứu cơ bản, những người làm công tác nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng, một mặt, luận giải một cách có hệ thống những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; trên cơ sở đó, có sự điều chỉnh, chính xác hoá những cách hiểu khác nhau, để từ đó ngày càng có được cách hiểu chính xác hơn; mặt khác, nghiên cứu sâu về một vấn đề nào đó; trên cơ sở ấy, đề ra những nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Trong những năm qua, các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng đã tập trung làm rõ thêm một số khái niệm, phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật, như vật chất, ý thức, vận động, phát triển, tiến bộ, quy luật, mâu thuẫn, khả năng và hiện thực, tự do và tất yếu, v.v..

Theo hướng nghiên cứu ứng dụng, những nghiên cứu tập trung vào các vấn đề do thực tiễn xã hội đặt ra bằng cách áp dụng những nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Thời gian qua, số công trình nghiên cứu theo hướng này có nhiều hơn nhờ được đầu tư tốt hơn. Các nghiên cứu tập trung vào vấn đề nguồn gốc, động lực của sự phát triển, đặc biệt là của sự phát triển xã hội; làm rõ một số động lực cần được quan tâm trong xã hội ta hiện nay, như nhu cầu, lợi ích (nhất là là lợi ích cá nhân), môi trường tâm lý xã hội, dân chủ, công bằng xã hội; nghiên cứu đặc trưng cơ bản của quy luật xã hội, những điều kiện và con đường nhận thức các quy luật xã hội và vấn đề vận dụng các quy luật xã hội trong điệu kiện nước ta hiện nay; bước đầu tập trung phân tích triết lý phát triển của xã hội Việt Nam: làm rõ sự khác nhau giữa triết lý và triết học, tìm hiểu triết lý về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, v.v..

Liên quan chặt chẽ với các vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử trước hết là vấn đề hình thái kinh tế - xã hội. Đã có nhiều công trình bàn về vấn đề này. Nhìn chung, các ý kiến đều thống nhất nhận định rằng, trong khi xem xét sự phát triển của xã hội, chúng ta không loại trừ các cách tiếp cận khác. Song, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác vẫn là cơ sở phương pháp luận cho sự phân tích khoa học về xã hội, là chỗ dựa vững chắc để tiến hành các nghiên cứu tiếp theo về những bước đi sắp tới của chúng ta và về khả năng phát triển rút ngắn của nước ta nhằm tránh sự tụt hậu xa hơn so với các nước khác. Xuất phát từ cơ sở phương pháp luận như vậy, các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định rằng, có thể “bỏ qua” chủ nghĩa tư bản với tính cách là một hình thái kinh tế - xã hội, một chế độ chính trị.

Tuy nhiên, để thực hiện sự phát triển “rút ngắn”, cần phải tôn trọng các quy luật xã hội khách quan, đặc biệt là quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Cho đến nay, sự luận chứng kiên trì và có căn cứ của giới lý luận nói chung, và giới triết học nói riêng, trong nhiều năm về vai trò quyết định của lực lượng sản xuất trong tương quan với quan hệ sản xuất, chứ không phải là quan hệ sản xuất phải đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất; về vai trò của kinh tế nhiều thành phần và nhiều loại hình sở hữu, của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, v.v.. đã được thực tế cuộc sống hoàn toàn xác nhận là đúng đắn.

Đóng góp lớn, quan trọng của việc nghiên cứu hệ vấn đề này là việc chỉ ra rằng, không thể dùng biện pháp hành chính, tư tưởng để đẩy quan hệ sản xuất đi trước một bước, rằng lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Việc phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta vừa có thể theo trình tự phát triển tuần tự, vừa có thể phát triển rút ngắn. Để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất, trước hết phải tạo dựng nguồn nhân lực chất lượng cao gồm các nhà quản lý giỏi, các chuyên gia đầu ngành, các nhà doanh nghiệp lớn và đội ngũ công nhân tay nghề bậc cao, đảm bảo tỷ lệ hợp lý về cơ cấu giữa các thành phần đó luôn thích ứng với đòi hỏi của lực lượng sản xuất đang phát triển. Sử dụng những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ là phương thức hữu hiệu để “rút ngắn” tiến trình phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta. Nhưng trong quá trình đó, cũng phải đề phòng nguy cơ biến nước ta trở thành “bãi rác công nghệ” của các nước phát triển hơn.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật lịch sử còn khẳng định rằng, thường xuyên hoàn thiện quan hệ sản xuất là một đòi hỏi tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hiệu quả kinh tế - xã hội là thước đo mức độ tiên tiến và mức độ phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trong thời kỳ quá độ, cần thiết và tất yếu phải sử dụng nhiều thành phần kinh tế khác nhau, phải đa dạng hoá các hình thức sở hữu để có thể phát triển kinh tế - xã hội với nhịp độ cao, phải phân định rõ sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước.

Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, không thể chỉ thực hiện triệt để nguyên tắc phân phối theo lao động, mà còn phải thực hiện nhiều hình thức phân phối, trong đó có hình thức phân phối theo đóng góp và theo nguồn vốn. Lợi ích cá nhân là động lực hết sức quan trọng thúc đẩy con người ta hành động. Do vậy, trong các chủ trương và chính sách, cũng như trong công tác lãnh đạo, quản lý, việc kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân với các lợi ích khác là một nguyên tắc hết sức quan trọng.

Tương tự như vấn đề mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, một vấn đề rất nhạy cảm nhưng lại hết sức quan trọng khác đã được Viện Triết học đề cập trong khá nhiều công trình và giờ đây cũng đã được Đảng ta hoàn toàn chấp nhận đưa vào các văn kiện của Đại hội IX là vấn đề dân chủ trong xã hội và việc xây dựng một xã hội thực sự do dân làm chủ như Bác Hồ đã nhiều lần nói đến. Sự luận chứng từ góc độ triết học về vai trò động lực của dân chủ đối với sự phát triển của xã hội loài người nói chung, đối với xã hội ta nói riêng, thực sự là có giá trị.

Bên cạnh đó, vấn đề con người từ lâu đã thu hút sự chú ý của các cán bộ trong Viện. Theo dòng thời gian, vấn đề con người ngày càng được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: khoa học tự nhiên, sinh học, tâm lý học, kinh tế học, giá trị học, v.v.. Đặc biệt, trong những năm qua, con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực quan trọng của sự phát triển. Các nghiên cứu về con người theo hướng này đã chỉ ra rằng, so với các nguồn lực khác, nguồn lực con người có vai trò quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phát triển nguồn lực con người là giải pháp cơ bản hàng đầu để thực hiện chiến lược phát triển xã hội theo con đường “rút ngắn”. Đi theo hướng đó, một số công trình tập trung nghiên cứu con người Việt Nam nhằm làm rõ mặt mạnh,  mặt yếu của nó, cũng như sự tác động của cơ chế thị trường đối với con người Việt Nam hiện nay.

Về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng đã có những đóng góp nhất định. Ngay từ cuối những năm 80, bắt đầu từ khi đổi mới tư duy, một số công trình đã tập trung phê phán xu hướng tuyệt đối hoá vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã cho rằng, phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội đang ngày càng mở rộng theo sự phát triển của kinh tế  thị trường; với kinh tế thị trường, sự phân hoá giầu nghèo là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, có sự phân hoá chính đáng, dựa trên năng lực, lao động và đóng góp xã hội thực sự; đồng thời, cũng có sự phân hoá bất chính do tham nhũng, hối lộ, buôn lậu... Sự phân hoá chính đáng là động lực cho sự phát triển, còn phân hoá bất chính là nguồn gốc và mầm mống của bất ổn định xã hội. Xoá bỏ sự phân hoá bất chính này là một nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay và cả trong tương lai.

So với các chuyên ngành khác thì hai bộ môn lôgíc học triết học trong khoa học tự nhiên và môi trường ra đời ở nước ta tương đối muộn và số người nghiên cứu và giảng dạy các bộ môn này cũng ít hơn. Mặc dầu vậy, ở Viện Triết học, hai chuyên ngành này, nhất là triết học trong khoa học tự nhiên, đã có lịch sử không đến nỗi ngắn. Các hoạt động của chuyên ngành triết học trong khoa học tự nhiên đã thu hút được một số cộng tác viên vốn là những chuyên gia lớn trong các ngành khoa học tự nhiên của nước nhà. Nhiều công trình nghiên cứu về triết học trong vật lý học, trong sinh học, sinh thái học, trong toán học, và có phần ít hơn trong hoá học của các tác giả ở trong Viện đã được công bố trên các tạp chí hoặc dưới dạng sách. Cũng đã có những công trình về triết học trong các lĩnh vực này của các tác giả trong Viện được công bố ở nước ngoài. Việc bám sát để phân tích về mặt triết học những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên trong các công trình đó đã phần nào giúp cho bạn đọc hiểu thêm về những thành tựu này. Những người làm công tác nghiên cứu triết học trong khoa học tự nhiên đã có những công trình lên tiếng báo động khá sớm về vấn đề môi trường sống ở nước ta ngay từ khi cả nước đang có chiến tranh. Sự nhanh, nhạy và dựa trên cơ sở khoa học trong vấn đề môi trường đã khẳng định khả năng dự báo của triết học. 

Các công trình trong lĩnh vực lôgíc học đã có đóng góp nhất định vào việc trang bị kiến thức cơ bản về lôgíc, vào việc góp phần khắc phục những yếu kém trong tư duy lý luận.

 Các chuyên ngành mỹ học đạo đức học đã có đóng góp không nhỏ trong việc nghiên cứu, truyền bá kiến thức mỹ học và đạo đức học. Những vấn đề như “cái đẹp”, “cái anh hùng”, “cái bi”; vấn đề tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc trong nghệ thuật; vấn đề văn hoá thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, đời sống thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ, v.v. đã được nhiều công trình đề cập đến khá sâu sắc, nhất là các công trình được hoàn thành từ thời kỳ bắt đầu đổi mới đến nay. Có thể nói rằng, trong cuộc đấu tranh giữa cái đẹp và cái xấu, cái thiện và cái ác, giữa cái tiên tiến và cái lạc hậu, giới mỹ học và đạo đức học đã có công trong việc cung cấp các luận điểm và những công cụ có tính chất phương pháp luận cho mỗi người để ủng hộ và bảo vệ cái đúng, cái đẹp, cái thiện, chống lại và đẩy lùi cái xấu, cái ác.

Các nhà nghiên cứu về mỹ học của Viện đã tích cực, chủ động tham gia lý giải cơ sở khoa học trong những quan điểm của đường lối đổi mới văn hoá văn nghệ của Đảng. Các kiến giải khoa học ấy góp phần quan trọng vào các định hướng cơ bản cho việc thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng trong lĩnh vực văn hoá, tư tưởng.

Các công trình mỹ học của Viện đã xây dựng được một hệ thống quan điểm khoa học cơ bản về cái đẹp bắt nguồn từ thực tiễn lao động sản xuất và chiến đấu, gắn bó chặt chẽ với cái thật và cái tốt; về văn hoá nghệ thuật với tính cách là một hình thái ý thức xã hội đặc thù; về tính dân tộc và tính nhân dân của văn hoá nghệ thuật, đặc biệt là nghiên cứu sâu sắc mối quan hệ giữa đạo đức và thẩm mỹ trong sự vận động của bộ ba giá trị chân - thiện - mỹ của nền văn hoá nghệ thuật của nước ta.

Cùng với các nghiên cứu ứng dụng, những người làm công tác nghiên cứu mỹ học của Viện Triết học đã nghiên cứu lịch sử các hệ thống mỹ học Đông - Tây từ thời cổ đại đến nay, nghiên cứu lịch sử các tư tưởng mỹ học ở nước ta trong 10 thế kỷ, từ thời Lý - Trần đến nay. Một hệ thống tư liệu lịch sử các tư tưởng đạo đức - mỹ học đã được hoàn thành. Các tác giả lớn, như Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Lê Hữu Trác, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh, đã bước đầu được triển khai nghiên cứu từ phương diện mỹ học.

Trong lĩnh vực đạo đức học, ngay từ khi mới thành lập, Viện Triết học đã tập trung nghiên cứu những động lực tinh thần - đạo đức của sự nghiệp đấu tranh thống nhất và xây dựng đất nước. Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, chủ nghĩa tập thể được phân tích như là những nguyên tắc của đạo đức mới. Những nguyên tắc này bắt nguồn từ truyền thống tinh thần của dân tộc, được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và trở thành những yêu cầu đạo đức cơ bản nhất của đạo đức mới, đạo đức cách mạng.

Song song với việc luận chứng cho các yêu cầu đạo đức của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Viện Triết học đã đẩy mạnh việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về đạo đức, đặc biệt là việc xây dựng một hệ thống phạm trù đạo đức học mácxít .

Từ khi đổi mới đến nay, trong tinh thần đổi mới tư duy, việc nghiên cứu đạo đức học đã cố gắng khắc phục những quan niệm giáo điều của giai đoạn trước và nhìn nhận một cách thực tế hơn những vấn đề đạo đức đặt ra trong quá trình hiện đại hoá đất nước. Trong những công trình này, tác động hai mặt của cơ chế thị trường, tiến bộ công nghệ, giao lưu văn hoá đã được nghiên cứu khá kỹ. Mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế trong lĩnh vực đạo đức đã được nhìn nhận lại trên tinh thần đổi mới tư duy. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cũng được đẩy mạnh nghiên cứu thêm một bước. Từ những thành tựu đó, việc nghiên cứu về giáo dục và xây dựng đạo đức có hiệu quả hơn với những đề xuất về những giải pháp có tính khả thi trong quá trình xây dựng đạo đức mới. Những vấn đề đạo đức của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang tiếp tục là những vấn đề được quan tâm nghiên cứu.

Chung quy lại thì mọi sự phát triển và tiến bộ đều phải nhắm đến một cái đích, đó là đều phải vì sự tiến bộ và sự phát triển, vì hạnh phúc của con người, giúp con người hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ. Tất cả các khoa học triết học, dù là nghiên cứu về tư duy hay nghiên cứu về xã hội, dù là nghiên cứu về đời sống thẩm mỹ hay đời sống đạo đức của con người, đều có nghĩa vụ góp phần làm tăng thêm khả năng và quyền lực của con người trước tự nhiên nhưng lại phải biết sống hài hoà với tự nhiên và đem lại cho con người khả năng tự hiểu biết về mình và về xã hội, từ đó tạo ra cho mình động lực hoạt động và quyết tâm hành động để đạt được lý tưởng mà con người mong ước.

Đào tạo cán bộ có trình độ cao là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Viện. Kể từ khi được Nhà nước giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học đến nay, Viện đã tuyển 133 nghiên cứu sinh tất cả các loại hình đào tạo (không kể những người bảo vệ tương đương) và 158 học viên cao học ở tất cả các địa phương trong cả nước, từ Cà Mau cho đến các tỉnh miền núi phía Bắc. Đến tháng 10 năm 2006, đã có 88 người bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ, trong đó không ít luận án được đánh giá xuất sắc và đã được xuất bản thành sách và 117 học viên cao học đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ. Một số Thạc sĩ bảo vệ xuất sắc luận văn và có kết quả học tập xuất sắc đã được xét cho làm tiếp Tiến sĩ và đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ.

Nét nổi bật trong đào tạo Thạc sĩ, Phó tiến sĩ và nay là Tiến sĩ tại Viện Triết học là ở chỗ, cho đến nay, đây là cơ sở duy nhất trong cả nước được phép đào tạo đầy đủ tất cả các mã số của chuyên ngành triết học.

 Cho đến nay, Viện đã giảng dạy và cấp hàng ngàn chứng chỉ cho các nghiên cứu sinh và học viên cao học các ngành không chuyên triết học trong cả nước. Những nơi có nhiều người đã được Viện giảng dạy và cấp chứng chỉ là: Tất cả các viện trong Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia; các Trường Đại học Y khoa Hà Nội, Đại học Y khoa Huế, Đại học Đà Nẵng, Đại học Văn hoá và Bộ Văn hoá, Đại học Luật Hà Nội, Đại học Mỹ thuật công nghiệp; các Viện Vật lý học, Cơ học, Tài nguyên sinh thái và môi trường thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia; Học viện Không quân, Học viện Hậu cần, v.v.. Nhiều cơ sở đào tạo đã mong muốn Viện Triết học đảm nhận việc ôn tập, thi tuyển và giảng dạy lâu dài cho họ. Chính việc đào tạo nghiêm túc, có chất lượng cao, không chạy theo cơ chế thương mại hoá bằng cấp đã nâng cao uy tín cho cơ sở đào tạo của Viện. Sự thừa nhận của xã hội đối với sự đóng góp của Viện là phần thưởng quý giá cho các thầy giáo, cô giáo trong toàn Viện.

Đánh giá những thành tích nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ của các cán bộ trong Viện, qua tất cả các đợt, Nhà nước đã phong học hàm (nay là chức danh) Giáo sư cho 16 đồng chí đã từng công tác hoặc đang công tác ở Viện như Phạm Như Cương, Vũ Khiêu, Lê Thi, Đặng Xuân Kỳ, Trần Nhâm, Lê Hữu Tầng, Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Huy Hùng, Dương Phú Hiệp, Nguyễn Tài Thư, Lê Sĩ Thắng, Huỳnh Khái Vinh, Đỗ Long, Tô Duy Hợp, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hùng Hậu; chức danh Phó giáo sư cho 25 đồng chí như Nguyễn Văn Nghĩa, Phong Hiền (Nguyễn Thế Phong), Vũ Hoàng Địch, Bùi Đăng Duy, Nguyễn Đức Sự, Hà Thúc Minh, Nguyễn Chương Thâu, Nguyễn Duy Thông, Nguyễn Phước Tương, Đỗ Thái Đồng, Bùi Thị Kim Quỳ, Trần Thành, Phạm Khiêm ích, Nguyễn Như Thiết, Lê Văn Dương, Vũ Văn Viên, Phạm Thị Ngọc Trầm, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn, Hồ Sĩ Quý, Phạm Văn Đức, Lương Đình Hải, Nguyễn Ngọc Hà, Nguyễn Đình Tường, Trần Nguyên Việt . Đây là một sự động viên to lớn đối với các cán bộ khoa học và cũng là một bằng chứng mới về sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện sau hơn 40 năm xây dựng.

Thành công và uy tín rộng rãi của Viện có phần đóng góp của Tạp chí Triết học. Sau hon 40 năm hoạt động kể từ khi ra số đầu tiên của Thông báo Triết học, tuy là cơ quan ngôn luận của Viện Triết học nhưng trên thực tế, Tạp chí Triết học đã trở thành diễn đàn và là người bạn thân thiết của cả giới triết học Việt Nam, của những người làm công tác lý luận và của nhiều bạn đọc trong cả nước. Nếu trước năm 1996, Tạp chí Triết học ra 3 tháng một số thì từ năm 1996 đã được nâng lên 2 tháng một số và từ giữa năm 2001 thường xuyên ra mỗi tháng một số. Cho đến nay, Tạp chí đã in tổng cộng 3033 bài, trong đó có 2415 bài nghiên cứu; 416 bài tổng thuật chuyên đề; 202 bài phê bình, giới thiệu sách.

Công tác thông tin tư liệu, thư viện đã góp phần không nhỏ vào sự thành công của công tác nghiên cứu. Là thư viện chuyên ngành duy nhất của cả nước, thư viện của Viện thường xuyên được bổ sung các sách báo mới nhất từ nhiều nước trên thế giới (riêng tạp chí khoa học có 93 loại). Trong thời gian gần đây, Viện đã có quan hệ trao đổi sách báo với một số nước và tổ chức quốc tế nên thường xuyên có thêm tài liệu mới và bổ sung những tài liệu xuất bản trước đây nhưng ta chưa có.

Các mặt công tác khác như hành chính, tổ chức cũng đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của Viện.

Đất nước đã bước vào thế kỷ XXI. Bằng con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo đường lối của Đảng đã vạch ra, dân tộc ta đang phấn đấu đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để góp phần mình vào việc thực hiện mục tiêu đó, Viện Triết học, bằng những nỗ lực và những khả năng của mình, trong những năm tới, sẽ tập trung thực hiện một số công việc chủ yếu dưới đây:    

- Tập trung nghiên cứu những vấn đề bức bách do thực tiễn cuộc sống đặt ra, cung cấp những luận cứ khoa học, góp phần giúp Đảng và Nhà nước hoạch định, hoàn thiện đường lối xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.

- Tiến hành các nghiên cứu cơ bản về những vấn đề triết học thuộc các chuyên ngành khác nhau, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến sự tiến bộ và phát triển xã hội, những vấn đề do cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại và toàn cầu hoá đặt ra.

- Tiếp tục những công việc đã được tiến hành lâu nay là nhận thức lại triết học mácxít nói riêng và chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, nhằm góp phần phát triển, bảo vệ những giá trị chân chính của nó.

- Nghiên cứu và khai thác có hệ thống hơn những di sản tư tưởng triết học dân tộc, triển khai xây dựng bộ sách Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam.

- Nghiên cứu các nền triết học lớn trên thế giới, rút từ đó các giá trị nhằm làm phong phú thêm kho tàng tri thức triết học của chúng ta, góp phần phát triển nguồn nhân lực cho thế kỷ XXI.

- Mở rộng sự hợp tác quốc tế, quảng bá các giá trị văn hoá, triết học của dân tộc ra thế giới.

- Muốn làm được những việc trên đây thì đồng thời phải tiến hành đào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học trẻ cơ bản hơn các thế hệ cha anh.

*

*  *

Hơn 40 năm đối với đời một con người có thể coi là đã dài, nhưng đối với một Viện nghiên cứu khoa học của một ngành như triết học thì quả là rất ngắn. Trong hon 40 năm ấy, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Viện Triết học đã từng bước trưởng thành. Đội ngũ cán bộ khoa học được Đảng giáo dục, rèn luyện cũng từng bước cố gắng vượt lên khả năng của chính mình và, từ nghề nghiệp của mình, đang hết lòng, hết sức đóng góp vào sự nghiệp chung của dân tộc theo con đường mà Bác Hồ kính yêu đã vạch ra và Đảng lãnh đạo thực hiện là xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Ghi nhận những đóng góp của Viện Triết học, ngày 25 tháng 9 năm 2002, Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Quyết định số 628/2002/ QĐ/CTN tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất cho Viện do “đã có thành tích xuất sắc trong công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực triết học, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”.

Phấn khởi và tự hào về những gì mà Viện Triết học đã nghiên cứu được, đã khai thác được, đã đóng góp được cho đất nước trong hon 40 năm qua, tập thể cán bộ và công chức của Viện càng thấy rõ hơn những gì mà mình chưa làm được. Điều trước nhất là cùng với toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học trong cả nước, toàn thể cán bộ và viên chức của Viện Triết học sẽ phấn đấu hết sức mình để xây dựng và phát triển ngành khoa học mà mình đã chọn hoặc được cử theo học. Từ các cương vị được đảm nhiệm và từ góc độ chuyên môn của mình, dù là lịch sử triết học, lôgíc học, mỹ học, đạo đức học, triết học văn hoá, triết học trong khoa học tự nhiên hoặc duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, v.v., mỗi người cán bộ và công chức của Viện đều ý thức rõ rằng người làm triết học không thể xa rời cuộc sống, càng không thể đứng ngoài cuộc sống sôi động của dân tộc. Những người làm triết học có trách nhiệm nghiên cứu, tổng kết, giải đáp những vấn đề do thực tiễn và thời đại đặt ra, đúc kết những giá trị đã hình thành trong lịch sử và tư duy của dân tộc, từ đó cung cấp các luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước, góp phần đắc lực vào việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước.

(Bài viết này dựa trên cơ sở bài báo của GS,TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, đã đăng trên tạp chí Triết học)

Viện trưởng

PGS,TS. Phạm Văn Đức

 

Đã xem: 1319
Thời gian đăng: Thứ bảy - 03/01/2015 14:59
Người đăng: QLKH&HTQT


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất