Bàn thêm về tính chu diên của các thuật ngữ trong phán đoán đơn Bàn thêm về tính chu diên của các thuật ngữ trong phán đoán đơn
(22/09/2021)
Tính chu diên của các thuật ngữ trong phán đoán đơn là một trong những vấn đề quan trọng của lôgíc học và được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra ý kiến của mình nhằm trao đổi về cách lập luận của một số tác giả khác về tính chu diên của các thuật ngữ trong phán đoán đơn. Theo tác giả bài viết, việc làm rõ tính chu diên của các thuật ngữ trong phán đoán đơn là cơ sở để thực hiện đúng các thao tác lôgíc của phán đoán và suy luận, góp phần xây dựng tư duy lôgíc.
Một số điểm tương đồng và dị biệt giữa lôgíc và ngôn ngữ tự nhiên Một số điểm tương đồng và dị biệt giữa lôgíc và ngôn ngữ tự nhiên
(24/06/2021)
Ngôn ngữ không chỉ có chức năng giao tiếp, mà còn có chức năng là công cụ tư duy, là cái “vỏ vật chất" của tư duy; còn lôgíc chỉ mối liên hệ bên trong của các yếu tố cấu thành tư duy. Lôgíc và ngôn ngữ tự nhiên là hai lĩnh vực khác nhau, song chúng không hoàn toàn tách biệt nhau mà bên cạnh những điểm dị biệt, chúng còn có những điểm tương đồng. Trong bài viết này, tác giả tập trung luận giải nhằm làm rõ những điểm tương đồng và dị biệt giữa lôgíc và ngôn ngữ tự nhiên.
Về số lượng các công thức đúng của tam đoạn luận nhất quyết đơn Về số lượng các công thức đúng của tam đoạn luận nhất quyết đơn
(16/06/2021)
Trong bài, tác giả đề cập vấn đề phân tích số lượng các công thức đúng của tam đoạn luận nhất quyết đơn theo trình tự hình thành và phát triển trong lịch sử lôgíc học, bắt đầu từ Arixtốt. Theo Arixtốt, chỉ cần 14 công thức được phân bố theo ba dạng hình là đủ. Sau đó, các học trò của ông là Teofrast và Evdem đã bổ sung thêm 5 công thức mới vào dạng hình thứ nhất. Việc chuyển 5 công thức mới sang dạng hình mới độc lập, dạng hình IV, đã được C.Galen - nhà lôgíc học La Mã thực hiện. Sau lôgíc học Port - Royal, con số 19 công thức đúng của tam đoạn luận nhất quyết đơn mới được khẳng định. Leibniz đã phát triển quan niệm truyền thống và chỉ ra một sự phân bố các công thức đúng của tam đoạn luận một cách độc đáo - 24 công thức được phân bố đều cho bốn dạng hình. Tuy nhiên, theo chúng tôi, về mặt khoa học, chỉ cần 19 công thức là đủ.
Vai trò của các nguyên tắc, phạm trù lôgíc biện chứng đối với việc rèn luyện năng lực tư duy biện chứng Vai trò của các nguyên tắc, phạm trù lôgíc biện chứng đối với việc rèn luyện năng lực tư duy biện chứng
(11/09/2018)
Cùng với phép biện chứng và nhận thức luận mácxít, lôgíc biện chứng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng, rèn luyện năng lực tư duy biện chứng. Với tính cách một khoa học, lôgíc biện chứng có những nguyên tắc và phạm trù xác định. Trong bài viết này, tác giả đã phân tích và góp phần làm rõ vai trò, ý nghĩa của các nguyên tắc, như nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử – cụ thể, nguyên tắc thực tiễn, cùng với các phạm trù lịch sử và lôgíc, cụ thể và trừu tượng của lôgíc biện chứng trong quá trình nhận thức; coi việc nắm vững và vận dụng thành thạo những nguyên tắc, phạm trù đó là điều kiện để rèn luyện, phát triển năng lực tư duy biện chứng.
Tư duy lôgíc - Bộ phận hợp thành của tư duy khoa học Tư duy lôgíc - Bộ phận hợp thành của tư duy khoa học
(28/07/2018)
Trong bài viết này, tác giả đã luận giải để làm rõ tư duy lôgíc là một bộ phận hợp thành của tư duy khoa học. Nói cách khác, về thực chất, tư duy khoa học chính là sự thống nhất giữa tư duy biện chứng và tư duy lôgíc; trong đó, tư duy biện chứng là phương pháp luận chỉ đạo, còn tư duy lôgíc là tổng hợp các thao tác lôgíc. Trên cơ sở luận chứng vai trò to lớn của tư duy lôgíc trong tư duy khoa học, tác giả khẳng định ý nghĩa quan trọng của việc học tập lôgíc học – giúp con người không những nắm vững, mà còn rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo tư duy, nâng cao khả năng vận dụng các quy luật, quy tắc của lôgíc học vào hoạt động nhận thức cũng như vận dụng các tri thức vào hoạt động thực tiễn.
Tính liên tục và rời rạc, chuyển động và đứng yên trong lịch sử phát triển phép tính vi phân và tích phân Tính liên tục và rời rạc, chuyển động và đứng yên trong lịch sử phát triển phép tính vi phân và tích phân
(01/02/2018)
Mối quan hệ giữa liên tục và rời rạc, giữa hữu hạn và vô hạn, giữa chuyển động và đứng yên là những vấn đề quan trọng không chỉ của triết học, mà cả của triết học trong toán học. Thông qua sự phân tích việc giải quyết các vấn đề trên trong lịch sử phát triển phép tính vi phân và tích phân, tác giả cho rằng, có thể phân ngành toán học này thành 2 giai đoạn: Giai đoạn trước Weierstrass, phép tính vi phân và tích phân có tính trực giác, dựa chủ yếu vào quan điểm chuyển động. Giai đoạn từ Weierstrass trở về sau, tính “chuyển động” bị tước bỏ khỏi các khái niệm giới hạn và khái niệm liên tục. Nhờ vậy, chúng ta đã có một ngành giải tích đồ sộ giúp cho việc nghiên cứu và ứng dụng thuộc tính “chuyển động” của vật chất được thuận lợi hơn.
Lôgíc học siêu nghiệm của I.Cantơ Lôgíc học siêu nghiệm của I.Cantơ
(23/01/2018)
Coi các quy luật và hình thức lôgíc của tư duy là những cái hoàn toàn tách rời hiện thực, I.Cantơ khẳng định quy luật mâu thuẫn lôgíc hình thức là thuần tuý hình thức, không có nội dung và đối với các phán đoán tổng hợp, thì chỉ có các quy luật của lôgíc học siêu nghiệm mới có tác dụng. Từ quan niệm đó, ông đã cố gắng xây dựng lôgíc học siêu nghiệm khác hẳn về nguyên tắc với lôgíc học Arixtốt. Lôgíc học siêu nghiệm mà I.Cantơ xây dựng có nhiệm vụ xác định nguồn gốc, phạm vi và tính giá trị khách quan của các tri thức tiên nghiệm. Lôgíc học siêu nghiệm, theo I.Cantơ, có tính phổ biến và tất yếu; nó bao gồm phương pháp phân tích siêu nghiệm trong lĩnh vực giác tính và phép biện chứng tiên nghiệm với tư cách học thuyết về lý tính. Không chỉ thế, lôgíc học siêu nghiệm còn được I.Cantơ coi là học thuyết về các phạm trù với tư cách hệ thống liên kết các khái niệm phổ biến và tất yếu; đồng thời, làm rõ những khác biệt của nó so với lôgíc học hình thức. Tuy nhiên, về cơ bản, lôgíc học siêu nghiệm của I.Cantơ chỉ là thứ lôgíc chủ quan và do vậy, là lôgíc học duy tâm.
Tam đoạn luận trong học thuyết lôgíc của Arixtốt - một “công cụ” của nhận thức khoa học Tam đoạn luận trong học thuyết lôgíc của Arixtốt - một “công cụ” của nhận thức khoa học
(10/10/2016)
Trong bài viết này, các tác giả đã phân tích những nét cơ bản trong học thuyết của Arixtốt về tam đoạn luận, đó là các vấn đề liên quan đến “tam đoạn luận”, “tam đoạn luận hoàn thiện” và chỉ ra rằng, hai  tam đoạn luận hoàn thiện nhất thuộc dạng hình I là cơ sở cho mọi chứng minh khoa học, tất cả các tri thức khoa học đều cần phải được chứng minh thông qua tam đoạn luận mà các tam đoạn luận dạng hình II, III đều có thể chứng minh là đúng thông qua các “tam đoạn luận hoàn thiện” dạng hình I, trong đó hai tam đoạn luận chung dạng hình I là hoàn thiện nhất và là cơ sở cho mọi tri thức khoa học. Các tác giả cũng diễn giải một số cách chứng minh các tam đoạn luận dạng hình II, III của Arixtốt bằng cách đưa về các tam đoạn luận dạng hình I - dạng hình hoàn thiện.
Về một số nội dung chưa nhất quán trong lôgíc học truyền thống Về một số nội dung chưa nhất quán trong lôgíc học truyền thống
(25/02/2016)
Bài viết bàn về hai nội dung quan trọng trong giáo khoa lôgíc học, đó là: 1/ Về tính chu diên của các khái niệm trong phán đoán đơn; 2/ Về các loại hình và cách thức của tam đoạn luận nhất quyết đơn trong lôgíc học truyền thống. Trên cơ sở phê phán theo tiêu chuẩn đúng/sai, đầy đủ/thiếu sót, tác giả đã đề xuất phương án thay thế nhằm góp phần tạo nên sự thống nhất về một số vấn đề đặt ra trong hai nội dung trên.
Xem tin phát hành ngày:

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Điện thoại: +84 (024)35140527, +84 (024)35141134, Fax: +84 (024)35141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007