Vai trò của các nguyên tắc, phạm trù lôgíc biện chứng đối với việc rèn luyện năng lực tư duy biện chứng Vai trò của các nguyên tắc, phạm trù lôgíc biện chứng đối với việc rèn luyện năng lực tư duy biện chứng
(11/09/2018)
Cùng với phép biện chứng và nhận thức luận mácxít, lôgíc biện chứng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng, rèn luyện năng lực tư duy biện chứng. Với tính cách một khoa học, lôgíc biện chứng có những nguyên tắc và phạm trù xác định. Trong bài viết này, tác giả đã phân tích và góp phần làm rõ vai trò, ý nghĩa của các nguyên tắc, như nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử – cụ thể, nguyên tắc thực tiễn, cùng với các phạm trù lịch sử và lôgíc, cụ thể và trừu tượng của lôgíc biện chứng trong quá trình nhận thức; coi việc nắm vững và vận dụng thành thạo những nguyên tắc, phạm trù đó là điều kiện để rèn luyện, phát triển năng lực tư duy biện chứng.
Tư duy lôgíc - Bộ phận hợp thành của tư duy khoa học Tư duy lôgíc - Bộ phận hợp thành của tư duy khoa học
(28/07/2018)
Trong bài viết này, tác giả đã luận giải để làm rõ tư duy lôgíc là một bộ phận hợp thành của tư duy khoa học. Nói cách khác, về thực chất, tư duy khoa học chính là sự thống nhất giữa tư duy biện chứng và tư duy lôgíc; trong đó, tư duy biện chứng là phương pháp luận chỉ đạo, còn tư duy lôgíc là tổng hợp các thao tác lôgíc. Trên cơ sở luận chứng vai trò to lớn của tư duy lôgíc trong tư duy khoa học, tác giả khẳng định ý nghĩa quan trọng của việc học tập lôgíc học – giúp con người không những nắm vững, mà còn rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo tư duy, nâng cao khả năng vận dụng các quy luật, quy tắc của lôgíc học vào hoạt động nhận thức cũng như vận dụng các tri thức vào hoạt động thực tiễn.
Tính liên tục và rời rạc, chuyển động và đứng yên trong lịch sử phát triển phép tính vi phân và tích phân Tính liên tục và rời rạc, chuyển động và đứng yên trong lịch sử phát triển phép tính vi phân và tích phân
(01/02/2018)
Mối quan hệ giữa liên tục và rời rạc, giữa hữu hạn và vô hạn, giữa chuyển động và đứng yên là những vấn đề quan trọng không chỉ của triết học, mà cả của triết học trong toán học. Thông qua sự phân tích việc giải quyết các vấn đề trên trong lịch sử phát triển phép tính vi phân và tích phân, tác giả cho rằng, có thể phân ngành toán học này thành 2 giai đoạn: Giai đoạn trước Weierstrass, phép tính vi phân và tích phân có tính trực giác, dựa chủ yếu vào quan điểm chuyển động. Giai đoạn từ Weierstrass trở về sau, tính “chuyển động” bị tước bỏ khỏi các khái niệm giới hạn và khái niệm liên tục. Nhờ vậy, chúng ta đã có một ngành giải tích đồ sộ giúp cho việc nghiên cứu và ứng dụng thuộc tính “chuyển động” của vật chất được thuận lợi hơn.
Lôgíc học siêu nghiệm của I.Cantơ Lôgíc học siêu nghiệm của I.Cantơ
(23/01/2018)
Coi các quy luật và hình thức lôgíc của tư duy là những cái hoàn toàn tách rời hiện thực, I.Cantơ khẳng định quy luật mâu thuẫn lôgíc hình thức là thuần tuý hình thức, không có nội dung và đối với các phán đoán tổng hợp, thì chỉ có các quy luật của lôgíc học siêu nghiệm mới có tác dụng. Từ quan niệm đó, ông đã cố gắng xây dựng lôgíc học siêu nghiệm khác hẳn về nguyên tắc với lôgíc học Arixtốt. Lôgíc học siêu nghiệm mà I.Cantơ xây dựng có nhiệm vụ xác định nguồn gốc, phạm vi và tính giá trị khách quan của các tri thức tiên nghiệm. Lôgíc học siêu nghiệm, theo I.Cantơ, có tính phổ biến và tất yếu; nó bao gồm phương pháp phân tích siêu nghiệm trong lĩnh vực giác tính và phép biện chứng tiên nghiệm với tư cách học thuyết về lý tính. Không chỉ thế, lôgíc học siêu nghiệm còn được I.Cantơ coi là học thuyết về các phạm trù với tư cách hệ thống liên kết các khái niệm phổ biến và tất yếu; đồng thời, làm rõ những khác biệt của nó so với lôgíc học hình thức. Tuy nhiên, về cơ bản, lôgíc học siêu nghiệm của I.Cantơ chỉ là thứ lôgíc chủ quan và do vậy, là lôgíc học duy tâm.
Tam đoạn luận trong học thuyết lôgíc của Arixtốt - một “công cụ” của nhận thức khoa học Tam đoạn luận trong học thuyết lôgíc của Arixtốt - một “công cụ” của nhận thức khoa học
(10/10/2016)
Trong bài viết này, các tác giả đã phân tích những nét cơ bản trong học thuyết của Arixtốt về tam đoạn luận, đó là các vấn đề liên quan đến “tam đoạn luận”, “tam đoạn luận hoàn thiện” và chỉ ra rằng, hai  tam đoạn luận hoàn thiện nhất thuộc dạng hình I là cơ sở cho mọi chứng minh khoa học, tất cả các tri thức khoa học đều cần phải được chứng minh thông qua tam đoạn luận mà các tam đoạn luận dạng hình II, III đều có thể chứng minh là đúng thông qua các “tam đoạn luận hoàn thiện” dạng hình I, trong đó hai tam đoạn luận chung dạng hình I là hoàn thiện nhất và là cơ sở cho mọi tri thức khoa học. Các tác giả cũng diễn giải một số cách chứng minh các tam đoạn luận dạng hình II, III của Arixtốt bằng cách đưa về các tam đoạn luận dạng hình I - dạng hình hoàn thiện.
Về một số nội dung chưa nhất quán trong lôgíc học truyền thống Về một số nội dung chưa nhất quán trong lôgíc học truyền thống
(25/02/2016)
Bài viết bàn về hai nội dung quan trọng trong giáo khoa lôgíc học, đó là: 1/ Về tính chu diên của các khái niệm trong phán đoán đơn; 2/ Về các loại hình và cách thức của tam đoạn luận nhất quyết đơn trong lôgíc học truyền thống. Trên cơ sở phê phán theo tiêu chuẩn đúng/sai, đầy đủ/thiếu sót, tác giả đã đề xuất phương án thay thế nhằm góp phần tạo nên sự thống nhất về một số vấn đề đặt ra trong hai nội dung trên.
Những tư tưởng thực chứng lôgíc của L.Wittgenstein trong Luận văn lôgíc - triết học Những tư tưởng thực chứng lôgíc của L.Wittgenstein trong Luận văn lôgíc - triết học
(25/01/2016)
Bài viết phân tích những tư tưởng thực chứng lôgíc của L.Wittgenstein trong “Luận văn lôgíc - triết học”. Theo L.Wittgenstein, bản chất và cấu trúc của thế giới chính là thế giới ngôn ngữ được tạo nên từ các câu. Ông đã chia câu thành ba loại. Loại thứ nhất là các câu mô tả các sự kiện, có thể xác định được giá trị lôgíc (chân thực hay giả dối) của chúng. Loại thứ hai là các câu (mệnh đề) toán học và lôgíc học. Loại thứ ba là các câu triết học, mà theo L.Wittgenstein, chúng vô nghĩa. Nguyên nhân khiến chúng vô nghĩa là do các nhà triết học sử dụng sai chức năng của ngôn ngữ. Vì vậy, nhiệm vụ của triết học chân chính, như L.Wittgenstein quan niệm, là phân tích ngôn ngữ.
Phán đoán phủ định trong lôgíc học Arixtốt Phán đoán phủ định trong lôgíc học Arixtốt
(12/01/2016)
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích nhằm làm rõ thêm quan điểm của Arixtốt về phán đoán phủ định; cụ thể là chỉ ra trong trường hợp nào thì các quy luật phi mâu thuẫn và quy luật bài trung được tuân thủ, trong trường hợp nào thì quy luật phi mâu thuẫn được tuân thủ và quy luật bài trung chỉ là ước lệ, hoặc không được tuân thủ,… Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất ý kiến cho rằng, các giáo trình lôgíc hiện nay ở nước ta cần có sự thống nhất trong việc xác định các phán đoán phủ định.
Từ Từ "Lôgíc học biện chứng" của E.V.Ilencốp tới triết học văn hóa ngày nay
(11/01/2016)
Bài viết đã phân tích, luận chứng để làm rõ lôgíc học với chữ L viết hoa mà E.V.Ilencốp xây dựng nhờ sự chú giải những tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác chính là triết học văn hoá. Đồng thời, luận chứng quan điểm của E.V.Ilencốp về sự thống nhất giữa lôgíc học, lý luận nhận thức và phép biện chứng; khẳng định rằng lôgíc học còn phải thống nhất với chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Xem tin phát hành ngày:

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Điện thoại: +84 (024)35140527, +84 (024)35141134, Fax: +84 (024)35141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007