Những tư tưởng thực chứng lôgíc của L.Wittgenstein trong Luận văn lôgíc - triết học Những tư tưởng thực chứng lôgíc của L.Wittgenstein trong Luận văn lôgíc - triết học
(25/01/2016)
Bài viết phân tích những tư tưởng thực chứng lôgíc của L.Wittgenstein trong “Luận văn lôgíc - triết học”. Theo L.Wittgenstein, bản chất và cấu trúc của thế giới chính là thế giới ngôn ngữ được tạo nên từ các câu. Ông đã chia câu thành ba loại. Loại thứ nhất là các câu mô tả các sự kiện, có thể xác định được giá trị lôgíc (chân thực hay giả dối) của chúng. Loại thứ hai là các câu (mệnh đề) toán học và lôgíc học. Loại thứ ba là các câu triết học, mà theo L.Wittgenstein, chúng vô nghĩa. Nguyên nhân khiến chúng vô nghĩa là do các nhà triết học sử dụng sai chức năng của ngôn ngữ. Vì vậy, nhiệm vụ của triết học chân chính, như L.Wittgenstein quan niệm, là phân tích ngôn ngữ.
Phán đoán phủ định trong lôgíc học Arixtốt Phán đoán phủ định trong lôgíc học Arixtốt
(12/01/2016)
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích nhằm làm rõ thêm quan điểm của Arixtốt về phán đoán phủ định; cụ thể là chỉ ra trong trường hợp nào thì các quy luật phi mâu thuẫn và quy luật bài trung được tuân thủ, trong trường hợp nào thì quy luật phi mâu thuẫn được tuân thủ và quy luật bài trung chỉ là ước lệ, hoặc không được tuân thủ,… Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất ý kiến cho rằng, các giáo trình lôgíc hiện nay ở nước ta cần có sự thống nhất trong việc xác định các phán đoán phủ định.
Từ Từ "Lôgíc học biện chứng" của E.V.Ilencốp tới triết học văn hóa ngày nay
(11/01/2016)
Bài viết đã phân tích, luận chứng để làm rõ lôgíc học với chữ L viết hoa mà E.V.Ilencốp xây dựng nhờ sự chú giải những tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác chính là triết học văn hoá. Đồng thời, luận chứng quan điểm của E.V.Ilencốp về sự thống nhất giữa lôgíc học, lý luận nhận thức và phép biện chứng; khẳng định rằng lôgíc học còn phải thống nhất với chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Nhận thức - Đồ thức - Tính khách quan(*) Nhận thức - Đồ thức - Tính khách quan(*)
(23/11/2015)
Trong hoạt động nhận thức, con người không chỉ tiếp nhận thông tin tập hợp thành “bản mã tín hiệu”, mà còn lý giải ý nghĩa của nó. Cái “bản mã tín hiệu” đó chính là đồ thức nhận thức. Đồ thức nhận thức là phương thức tiến hành nhận thức và biểu đạt tri thức của con người. Nó vừa biểu hiện tính chỉnh thể của các yếu tố trong quá trình nhận thức, vừa chỉ ra phương thức tồn tại và phát triển cơ bản của nhận thức. Theo tác giả, quá trình chủ thể nhận thức xuất phát từ những đồ thức chung và thông qua sự điều chỉnh từng bước để nắm bắt đúng đối tượng biểu hiện một cách cụ thể nhận thức của con người đi từ tính chủ quan đến tính khách quan như thế nào.
Lôgíc mờ và ứng dụng của nó trong trí tuệ nhân tạo Lôgíc mờ và ứng dụng của nó trong trí tuệ nhân tạo
(22/11/2015)
Bài viết giới thiệu lôgíc mờ – một khuynh hướng lôgíc phi cổ điển, trong đó tập trung vào một số vấn đề cơ bản nhất: khái niệm tập mờ và hàm đặc trưng; khái niệm lôgíc mờ, chủ yếu là lôgíc mệnh đề mờ và một số quy tắc lôgíc mệnh đề mờ. Trên cơ sở đó, tác giả phân tích vai trò, ứng dụng của lôgíc mờ trong việc xác lập hệ điều khiển mờ, một thành tựu trí tuệ nhân tạo. Theo tác giả, nhờ sử dụng được các kinh nghiệm vận hành đối tượng và xử lý điều khiển của các chuyên gia trong thuật toán điều khiển, hệ điều khiển mờ có khả năng tiến gần với tư duy điều khiển của con người.
Về khái niệm Về khái niệm "lôgíc hình thức"
(22/11/2015)
Trong bài viết này, tác giả đã trình bày quan điểm của mình về khái niệm “lôgíc hình thức”. Dựa vào việc phân tích “tính hình thức” của tư duy trong quan hệ với nội dung tư duy ở đối tượng của lôgíc hình thức, các hình thức suy luận và các quy luật cơ bản của tư duy, kể cả các phán đoán phức, tác giả đã luận chứng để làm rõ rằng, trong các sách giáo khoa lôgíc học hiện nay, tư duy được nghiên cứu chủ yếu về mặt hình thức, còn mặt nội dung chiếm địa vị thứ yếu; rằng, trong lôgíc hình thức, tính đúng đắn của tư duy có tính thứ nhất, được coi trọng xem xét hơn, nhưng chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ để tư duy nhận thức được chân lý khách quan là tính chân thực về mặt nội dung của nó.
Phán đoán đơn trong lôgíc học hình thức truyền thống: Một số vấn đề cần quan tâm Phán đoán đơn trong lôgíc học hình thức truyền thống: Một số vấn đề cần quan tâm
(18/11/2015)
Bài viết đã phân tích hai vấn đề: phán đoán đơn nào là đối tượng nghiên cứu của lôgíc học hình thức truyền thống và tính chu diên của các danh từ trong phán đoán đơn. Theo tác giả, trong các loại phán đoán đã có giá trị, phán đoán chưa có giá trị, phán đoán không tất nhiên và phán đoán tất nhiên, lôgíc học hình thức truyền thống chỉ nghiên cứu phán đoán đã có giá trị và phán đoán tất nhiên. Đặc biệt, tác giả đã luận chứng để làm rõ ý kiến cho rằng, S chu diên trong công thức phán đoán toàn thể, không chu diên trong công thức phán đoán bộ phận, còn P chu diên trong công thức phán đoán phủ định, riêng trong hai công thức phán đoán " SÎ P và $ S Î P thì P không chu diên.
Lôgíc mờ Lôgíc mờ
(01/11/2015)
Tham vọng của các nhà lôgíc học và công nghệ thông tin muốn sáng tạo nên những máy móc thông minh có khả năng xử lý thông tin như bộ óc con người. Để hiện thực hoá điều đó, năm 1965, Lotfi Zadeh - nhà toán học, lôgíc học người Hà Lan đã xây dựng thành công lý thuyết tập mờ và hệ thống lôgíc mờ. Khái niệm “tập mờ” là sự tổng quát hoá khái niệm “tập rõ”. Nếu tập rõ được xác định bởi các tính chất chính xác thì ngược lại, tập mờ lại được xác định bởi các tính chất không rõ ràng, không chính xác. Trong lôgíc cổ điển, giá trị chân lý của một mệnh đề hoặc là 1 (khi nó đúng), hoặc là 0 (khi nó sai). Nhưng, trong lôgíc mờ, giá trị chân lý của một mệnh đề là một số nằm trong khoảng [0,1]. Chính vì thế, các hệ lôgíc mờ có giá trị ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Về một số đặc trưng trong tam đoạn luận Al-Pharabi (So sánh với quan niệm của Arixtốt) Về một số đặc trưng trong tam đoạn luận Al-Pharabi (So sánh với quan niệm của Arixtốt)
(25/10/2015)
Khi chú giải các tác phẩm lôgíc học của Arixtốt và nghiên cứu những tư tưởng lôgíc học của những người đi trước, Al-Pharabi đã thể hiện một số quan điểm mới của mình về tam đoạn luận. Al-Pharabi giống với Arixtốt ở chỗ là, trong các phán đoán tiền đề và kết luận thì vị từ được đặt ở vị trí đầu tiên, còn chủ từ được đặt ở vị trí thứ hai. Tuy nhiên, nếu tam đoạn luận Arixtốt chủ yếu dựa vào quan hệ nội hàm, thì tam đoạn luận Al-Pharabi lại có thiên hướng hướng đến quan hệ về mặt ngoại diên giữa các thuật ngữ. Tuy có những đóng góp đáng kể vào lý thuyết tam đoạn luận, nhưng do chỉ chú ý đến việc chú giải Arixtốt, Al-Pharabi vẫn không biết đến dạng hình thứ IV của tam đoạn luận đã được C.Galen xây dựng từ thế kỷ thứ II.
Xem tin phát hành ngày:

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Điện thoại: +84 (024)35140527, +84 (024)35141134, Fax: +84 (024)35141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007