QC Shop

Nghiên cứu Triết học

Một số vấn đề triết học trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước ở thế kỷ XV

PGS. TS. Trần Nguyên Việt

Nguồn: TẠP CHÍ TRIẾT HỌC, SỐ 11 (270), THÁNG 11-2013

Bài viết tập trung trình bày hai vấn đề cơ bản trong tư tưởng triết học thời Lê Sơ là thế giới quan và nhân sinh quan. Thế giới quan thời Lê Sơ mang sắc thái thần quyền siêu hình, đề cao giá trị của hồn thiêng sông núi, địa linh nhân kiệt của đất nước. Đặc biệt là vai trò của người anh hùng dân tộc Lê Lợi và những tướng lĩnh tài giỏi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước. Nhân sinh quan triết học thời Lê Sơ phản ánh tâm thế của các nhà tư tưởng trước những sự kiện lớn lao của thời đại – đấu tranh giải phóng đất nước và xây dựng đất nước Đại Việt trong điều kiện hòa bình. Tuy nhiên, lời thề trong chiến tranh không được duy trì, sự bội ước không bị trừng phạt trong thời bình, cùng với sự bất công và đố kỵ đã làm cho một số nhà tư tưởng, trong đó có Nguyễn Trãi muốn chuyển từ xu hướng nhập thế tích cực của Nho giáo sang xuất thế của Phật giáo

Minh họa Lê Lợi và Nguyễn Trãi

Minh họa Lê Lợi và Nguyễn Trãi

Trong lịch sử triết học phương Đông nói chung, tư tưởng triết học Việt Nam nói riêng, việc xác định thế giới quan và nhân sinh quan từ góc độ triết học luôn là vấn đề khá phức tạp, bởi lẽ các nhà tư tưởng của chúng ta không thể hiện phong cách tư duy của mình theo thang bậc phát triển của tư duy triết học. Vì vậy, cái manh nha của triết học, hay còn gọi là những tư tưởng tiền triết học (prephilosophy), hoặc cái cận triết học (paraphilosophy), thậm chí cả triết học theo đúng nghĩa của từ cũng thường được xem xét trên cùng một bình diện, rất khó phân biệt. Do đó, để xác nhận thế giới quan và nhân sinh quan của một nhà tư tưởng, một nhóm, thậm chí khi điều đó trở thành tâm thế chung của một triều đại phong kiến nào đó, chúng ta cần vượt bỏ định kiến vốn quen phủ nhận những gì mang tính duy tâm, thần bí và siêu hình khi đề cập đến chủ thể và khách thể của tư duy trong điều kiện lịch sử cụ thể nào đó. Đó cũng là yêu cầu về tính khách quan của khoa học khi muốn làm rõ sự thống nhất giữa cái lịch sử và cái logic của thời đại.(*)

Nhân dịp Hội thảo khoa học về Hội thề Lũng Nhai trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Viện Sử học, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Thanh Hóa và UBND huyện Thường Xuân tổ chức ngày 20/7/2013, chúng tôi muốn góp thêm cái nhìn triết học về thế giới quan và nhân sinh quan của Bộ chỉ huy Lam Sơn cũng như triều đại Lê Sơ trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước Đại Việt ở thế kỷ XV. Chúng tôi cho rằng, thế giới quan của Bộ chỉ huy Lam Sơn được thể hiện trong Hội thề Lũng Nhai cũng như trong Văn Hội thề Chí Linh năm 1418 đều là cơ sở cho sự hình thành nhân sinh quan của những con người hòa giọt máu của mình với tư cách thực thể cá nhân vào chén rượu thề chung để quyết chí làm nên sự nghiệp lớn là đấu tranh giành lấy những gì mà Thượng đế (Thiên) ban tặng cho cả dân tộc. Sự đồng tâm nhất trí của những con người nghĩa khí với sự chứng giám của Trời đã thắt chặt vận mệnh cá nhân họ với dân tộc, làm hình thành trong họ ý thức cộng đồng rất cao đẹp và đồng hành với họ cả trong thời kỳ kháng chiến cũng như xây dựng đất nước trong điều kiện hòa bình.

a.    Thế giới quan

Thế giới quan triết học là một trong những hình thái thế giới quan đặc biệt, phản ánh mối quan hệ của CHÚNG TA với THẾ GIỚI. Thế giới quan có mặt ở chính nơi hình thành nên vấn đề cơ bản của nó, nghĩa là thế giới quan cần được hiểu như kết quả của nhận thức tinh thần về thế giới từ quan điểm xác định, chẳng hạn từ quan điểm về mối quan hệ qua lại giữa con người và tự nhiên. Khách thể của thế giới quan là thế giới nói chung, còn đối tượng của thế giới quan lại là cái được chọn trong khách thể đó để phản ánh mối quan hệ qua lại giữa thế giới tự nhiên và thế giới con người, thế giới vĩ mô và thế giới vi mô. Dựa trên khái niệm thế giới quan như vậy, chúng ta thấy quan hệ của CHÚNG TA với THẾ GIỚI có thể trên lập trường duy vật hoặc duy tâm, vô thần hoặc hữu thần. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và tư tưởng triết học Việt Nam thế kỷ XV nói riêng, quan điểm duy vật hay duy tâm thường không biểu hiện một cách dứt khoát, rõ nét hơn so với vô thần hay hữu thần.

Điều này có thể “nhận dạng” một cách dễ dàng qua các bài văn hội thề, một hình thức cam kết giữa các bên có liên quan với nhau trong việc thực hiện mục đích chung, cùng nhau chia sẻ thắng lợi hay thất bại, vui hay buồn, v.v.. Trong sự cam kết ấy, thường có một đối tượng trung gian làm chứng về thực thi nghĩa vụ của các bên. “Trong hoạt động và quan hệ đó, không phải người nào cũng như người nào, mà có người cùng dòng máu, có người khác dòng máu, có người trội hơn về mặt nhân tính, vượt trên thú tính mà ta gọi là có đức có tài, ngược lại có người nặng về thú tính, tức là loại mà ta gọi là “mặt người dạ thú”, không thể tin được, không thể cậy được để tham gia vào sự nghiệp cao cả. Như vậy mới có chuyện “chọn mặt gửi vàng”, mới có chuyệnhội thề, mới có văn hội thề, đành rằng văn hội thề chẳng qua cũng chỉ là một loại khế ước (convention), ký hiệu của lòng tin lẫn nhau giữa bên A và bên B”(1).

Điều thú vị là ai làm chứng là chính đáng nhất để các bên tham gia hội thề giữ đúng lòng tin và thực hiện đúng nghĩa vụ của mình? Ai đứng ra trừng phạt các bên không thực hiện đúng cam kết? Trả lời những câu hỏi này trong văn hội thề đã phản ánh thế giới quan của những người đứng đầu nghĩa quân Lam Sơn: đó là Trời (Thiên, Thượng đế), Thần Núi (Sơn Thần), Chí Linh Sơn Đại An Vương thần. Thượng đế và các vị thần linh trong dòng văn học quan phương là thượng đế được nhân cách hóa, trở thành thế lực vô song, vừa có quyền thưởng phạt, lại vừa chứng giám cho sự cam kết của các bên tham gia hội thề.

Trong Văn hội thề Lũng Nhai năm Bính Thân (1416) có viết:

“Phụ đạo lộ Khả Lam, phủ Thanh Hóa, nước An Nam là Lê Lợi cùng Lê Lai, Đinh Liệt, Nguyễn Thận, Lê Ngân..., tổng cộng là hai mươi hai người.

Chúng tôi kính dâng trầu rượu, hương đèn máu tươi của hai mươi hai tấm lòng son, thành khẩn tấu lên

Đức Chí tôn Ngọc Hoàng thượng đế từ nơi Trời cao sáng chói,

Đức Hậu Thổ tôn kính thay trời cầm pháp luật linh nghiệm,

Cùng các vị Tôn thần các cấp thượng, trung, hạ trên toàn cõi núi sông xã tắc.

Xin kính mời các Đức ngọc bệ, các vị Tôn thần tới đàn thề chứng giám lũ chúng tôi là Lê Lợi cùng Lê Lai, Đinh Liệt, Nguyễn Thận cho tới Trương Chiến, vốn không cùng một họ, không cùng một làng, mà chỉ là người bốn phương hội nghĩa, tổng cộng hai mươi hai người, dựng nên nghiệp lớn Bình Ngô cứu quốc, mong vớt cơn nguy khốn cho non sông xã tắc...

Tất cả chúng tôi cúi mong:

Trời đất, Thần linh chứng giám, phù hộ bản thân chúng tôi, con cháu thân quyến chúng tôi được bình yên khỏe mạnh, cùng hưởng lộc trời, phúc đất. Bất cứ ai trong chúng tôi tham cầu lợi lộc trước mắt, chạy theo nấp bóng quân thù, không còn cùng lòng, góp sức, quên hết lời thề hôm nay, mang tim đen phản trắc, thì kẻ đó sẽ bị Trời Đất tiêu diệt, tai họa tiếp nối cho đến con cháu hắn muôn đời không dứt.

Tất cả đồng lòng xin thề!”(2)

Trong văn thề được trích dẫn, đức Chí tôn Ngọc Hoàng Thượng đế, đức Hậu Thổ, các vị Tôn thần các cấp đều là chúa tể tinh thần được Lê Lợi và các tướng lĩnh tin tưởng nhờ chứng giám, đồng thời phù hộ cho những ai tuân thủ lời thề và trừng phạt những kẻ làm trái, phản bội lời thề Lũng Nhai.

Trong Văn hội thề Chí Linh năm Mậu Tuất (1418) ghi lại lời thề của Bình Định Vương Lê Lợi, lời thề của các tướng lĩnh có mặt, thay cho tất cả các tướng lĩnh, đã đề cập đến quyền uy của thượng đế, thần linh như sau:

“Người dân nước có vua, trời thương dân đồ thán, cho cầm được thần kiếm, bảo ấn, y điếu dân phạt tội, giữ lấy muôn dân khỏi khổ cực... Bây giờ chư tướng có lòng muốn lập công danh cùng min(3), thời chúng ta cùng theo lệnh trời, diệt giặc nhà Ngô... Bây giờ đủ mặt chư tướng ba mươi lăm viên cùng min đến Chí Linh Sơn, Đại An Vương thần từ(4) là nơi cầu trời linh hội(5), lạy tế mà thề:

Trên thì Hoàng Thiên Thượng đế,

Dưới thì Sơn Thần, làm chứng:

Min “điệp huyết minh thệ”(6) cho hết lòng cùng chư tướng, cho nên “thư son, khoán sắt”, cùng nhau nguyện Hoàng Hà như đái, Thái Sơn như lệ(7), cùng chư tướng gian nguy, khốn khổ, cùng nhau mà có vạn tử nhất sinh, lập làm cho nên thiên hạ an toàn, mà min có lòng thoái thác, lại phụ chư tướng, chẳng giữ cho khỏi khốn nạn và mẹo nhau hai lòng, làm thiên hạ mà quên thửa công chưa thu(8), chẳng nhớ cho nhau, ai còn thời cho được sang trọng, ai mất thời cho con cháu hiển vinh.

Nguyện mà chí minh lời ấy, mà hết lòng cùng chư tướng từ Lê Thạch, Đinh Lễ cho đến Đinh Bồ, ba mươi lăm viên cùng hết lòng, hết sức, cùng nhau phú quí dự đồng, cho nạn thu(9) cứu min. Chỉ như lời thề ấy, lại là lòng khác mà bỏ nghĩa nhau, nhẫn uống chén máu này vào cho Hoàng Thiên Thượng đế, cập Chí Linh Sơn Đại An Vương bắt min chết, chưa làm chiến bạn thiên hạ.

Nay thề!”

Qua hai bài văn thề nêu trên tiêu biểu trong một số bài văn thề thời Lê sơ, chúng ta thấy Thượng đế, Hậu Thổ, Sơn thần các vị Tôn thần đã trở thành chúa tể của vũ trụ với sức mạnh vô song trong quan niệm của người đứng đầu nghĩa quân Lam Sơn là Lê Lợi và các tướng lĩnh của ông. Đó cũng là thế giới quan hữu thần, vừa mang tính linh thiêng siêu nhiên như đức Chí tôn Ngọc Hoàng Thượng đế, vừa mang tính linh thiêng tự nhiên bởi khí thiêng hội tụ như Hậu Thổ, Chí Linh Sơn Đại An Vương thần. Thế giới quan hữu thần ở đây rõ ràng mang tính truyền thống tín ngưỡng đa thần của dân tộc, tạo nên đặc điểm thế giới quan siêu hình của thời đại Lê sơ trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập từ tay nhà Minh.

Ngoài văn thề, chúng ta có thể tìm thấy thế giới quan hữu thần trong các lễ tế Trời (được thực hiện trong lễ cầu đảo) mỗi khi trong nước có hoạn nạn như hạn hán, dịch bệnh. Thời Lê Sơ, Ất Sửu, Thái Hòa năm thứ 3 (1445), mùa đông, tháng 10, vì có tai dị, Nhân Tôn Tuyên hoàng đế đã xuống chiếu rằng: “Trẫm là người đứng đầu mà chưa biết việc đời, cho nên liền mấy năm nay tai dị luôn luôn, sấm sét thường phát, mưa dầm quá độ, nước to tràn ngập, đê phòng vỡ lở, nhà cửa của dân đổ nát, sâu bọ sinh nhiều, cắn hại lúa má chốn đồng ruộng, đầm và hồ sụt lấp, dâu và rau ngập khô. Hoặc là vì chính sự có thiếu sót mà hại đến hòa khí của trời đất, ngục tụng không công bằng mà khí vận âm dương biến đổi chăng? Muốn tiêu sự trách phạt của trời cao, phải ban rộng ơn huệ cho kẻ dưới. Các điều bớt thuế giảm tội đều có thứ bậc khác nhau”(10). Nguyên nhân dẫn đến tai họa nói trên được Lê Nhân Tông tìm thấy ở sự biến đổi theo chiều hướng bất lợi của khí âm dương, nhưng suy đến cùng nguyên nhân ấy lại bắt nguồn từ “chính sự” của triều đình. Việc lý giải như vậy rõ ràng theo quan điểm của Tống Nho, song đoạn trích nêu trên lại thiên về quan niệm tôn giáo thần bí của Hán Nho.

Thế giới quan Tống Nho cũng ảnh hưởng đến thế giới quan của Nguyễn Trãi (1380-1442), bậc khai quốc công thần của triều Lê sơ. Ông là người đã sát cánh cùng Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh bằng tài mưu lược và là một tri thức Nho học uyên bác, vận dụng chính nội dung của Nho giáo để lý giải cho kẻ thù hiểu rõ rằng, cuộc kháng chiến của nhân dân ta là chính nghĩa, còn việc lợi dụng chinh phạt của nhà Minh để cướp nước ta là phi nghĩa. Trong sự vận dụng Nho giáo vào chiến thuật “tâm công”, Nguyễn Trãi đã sử dụng các khái niệm, phạm trù triết học của Tống Nho như thời, thế, vận, cục, v.v. để làm cho tâm lý kẻ thù hoang mang lo sợ. Trong thư gửi Vương Thông, một viên quan tổng binh của nhà Minh đang nắm giữ toàn quyền chỉ huy quân chiếm đóng ở nước ta năm 1427, Nguyễn Trãi có viết:

“Người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thế thời mà thôi. Được thời có thế, thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn, mất thời không thế, thì mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy; sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay”(11).

Quan niệm về thời thế cũng là yếu tố then chốt để các bậc quân vương nhà Lê Sơ vận dụng đường lối trị nước cho phù hợp. Chẳng hạn, vua Lê Thánh Tông cho rằng, trong điều kiện đất nước hòa bình, việc võ bị có thể tạm thời gác lại để mở mang nền văn trị. Tuy nhiên, nếu quá chú trọng văn trị mà không lo củng cố quốc phòng an ninh, thì nước có thể nguy. Do đó, tùy thời, tùy điều kiện cụ thể mà sự kết hợp văn trị với võ bị phải hết sức chặt chẽ, hợp lý.

Nói tóm lại, thế giới quan thời Lê sơ mang sắc thái thần quyền siêu hình, đề cao giá trị của hồn thiêng sông núi, địa linh nhân kiệt của đất nước. Tâm thế đó phản ánh nhu cầu to lớn của thời đại, đó là sự tôn vinh người anh hùng dân tộc Lê Lợi và những tướng lĩnh tài giỏi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước; đồng thời, hướng tới mục đích đoàn kết, quy tụ sức mạnh của toàn dân xung quanh vị anh hùng ấy vào việc giải quyết các vấn đề lớn lao của dân tộc.

Thế giới quan trong tư tưởng triết học thời Lê Sơ cũng không hoàn toàn đứng trên lập trường duy tâm, hữu thần, mà còn mang những sắc thái duy vật, đó là sự quy tụ của khí thiêng, nhận thức đúng đắn về quy luật vận động của thời thế mà nguồn gốc của nó là sự tương tác của khí âm dương. Các hình thức thế giới quan ấy, có thể nói là mang tính hỗn dung, phức tạp, bị quy định bởi tư tưởng truyền thống phương Đông và nhu cầu quản lý con người, quản lý xã hội dựa trên những nguyên lý cơ bản của Nho giáo và yếu tố bản địa. Đó là những yếu tố cực kỳ quan trọng, nó quyết định mọi hoạt động sống của con người, đặc biệt trong những hoàn cảnh hiểm nghèo, cam go nhất, được đúc rút thành những khái niệm như “địa linh”, “nhân kiệt”, “thần trời phù hộ”. Có thể nói, cấp độ linh thiêng của đất, tính quyết định, tiền định (của trời) và tính hào kiệt của những nhân cách vĩ đại ở đây cao hơn tổ hợp “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” rất nhiều. Điều này được các nhà tư tưởng thời đó phản ánh khá rõ nét trong các bài phú được viết theo các chủ đề khác nhau để ca ngợi cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh và xây dựng đất nước sau chiến tranh.

b. Nhân sinh quan triết học

Nhân sinh quan triết học là sự phản tư của các nhà tư tưởng trước những vấn đề về con người với tư cách là sinh thể mang tính xã hội. Lĩnh vực này ít đề cập đến vấn đề giải phẫu người, mà chủ yếu đề cập đến vấn đề “cái con người” để phân biệt nó với tự nhiên và động vật. Con người có khả năng làm thay đổi môi trường tự nhiên xung quanh nó; đồng thời, tự tổ chức chính bản thân nó vì chính những biến đổi ấy. Chẳng hạn con hải ly dùng răng để gặm cây, còn con người lại tự trang bị cho mình những công cụ để đẽo gọt cây làm công cụ lao động và vũ khí cho chiến tranh.

Tuy nhiên, “động vật cấp cao như khỉ cũng có óc, có tim, nhưng vẫn không thể có tư duy và tình cảm như con người. Đó là sự khác nhau căn bản của thú tính và nhân tính. Có điều, trong nhân tính lại cũng có nhân tố của bản năng thú tính, do đó giữa con người với con người phải có một sự cam kết với nhau, sự cam kết thể hiện quan hệ thỏa thuận hai chiều, tức chiều từ bên A đến bên B, và ngược lại, từ bên B đến bên A..., chính là quan hệ biểu hiện ở chữ NHÂN (quan hệ hai người AB, tức nhị nhân, tức 二人(12)). Trong tư tưởng triết học phương Đông, quan hệ ấy trở thành quan hệ đạo đức giữa con người với con người, thể hiện nhân cách của con người (仁). Nhân cách ấy đồng thời phản ánh quan niệm của con người về cuộc sống của chính bản thân nó trong mối quan hệ với người khác, với cộng đồng mà nó thuộc về, với toàn nhân loại và với cả giới tự nhiên xung quanh nó.

Trong nhân sinh quan triết học thời Lê Sơ, yếu tố niềm tin vào đối tác, sự đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi trong thời kỳ kháng chiến chống giặc Minh được đề cao hơn hết, bởi chỉ có niềm tin và cam kết thực hiện lời thề nguyền trước Trời, Đất, Thần linh mới tập hợp được sức mạnh của khối đoàn kết quân dân chống giặc. Mặt khác, sự cam kết đó nhằm thực hiện mục đích cao cả là cứu nước ra khỏi ách đô hộ của ngoại bang, cứu dân ra khỏi cảnh lầm than của sự bóc lột tàn bạo của giặc Minh đã hãm hại nhân dân ta tới mức “Trúc Nam Sơn không ghi hết tội / Nước Đông Hải không rửa hết mùi!” (Bình Ngô đại cáo). Nhân sinh quan trong các bài văn hội thề phản ánh quan điểm vua nhân, tôi trung, lấy chủ trương “nhân nghĩa chi binh, hòa mục vi thượng” làm căn bản, bởi có hòa mới làm được việc thiên hạ.(12)

Phạm trù nhân nghĩa, có thể nói là phạm trù căn bản nhất trong lĩnh vực đạo đức nói riêng và nhân sinh nói chung của Nho giáo. Trong tư tưởng Nguyễn Trãi, nhân nghĩa không còn mang tính trừu tượng như của Khổng Mạnh, mà gắn trực tiếp với an dân. Trong quan điểm của Nguyễn Trãi, mẫu người quân tử không chỉ có nhân, trí, dũng, mà bao hàm cả nghĩa. Ông viết trong các bức thư gửi Phương Chính như sau:

“Đạo làm tướng lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng giúp thêm. Nay bọn mày chỉ chuyên lừa dối, giết hại kẻ vô tội, hãm người vào chỗ chết mà không xót thương (1425)” <...> Ta nghe nói người danh tướng trọng nhân nghĩa, khinh quyền mưu. Bọn mày quyền mưu còn chưa đủ, huống là nhân nghĩa! (1426)” <...> Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu. Duy nhân nghĩa có đủ thì công việc mới thành được (1426)”(13).

Nhân nghĩa trong tư tưởng Nguyễn Trãi không hoàn toàn đối lập với quyền mưu, mà giữa chúng có sự thống nhất với nhau ở việc an dân trừ bạo:

“Quyền mưu bản thị dụng trừ gian,

Nhân nghĩa duy trì quốc thế an”

(Quyền mưu vốn dĩ để trừ gian,

Nhân nghĩa giữ gìn thế nước an)

                      (Hạ quy Lam Sơn I)(14)

Như vậy, Nguyễn Trãi đề cao nhân nghĩa nhưng không phủ nhận quyền mưu, đồng thời dạy cho tướng lĩnh nhà Minh hãy hiểu cho đúng nghĩa của quyền mưu mà thánh nhân đặt ra là gì. Theo ông, thánh nhân dạy con người bất đắc dĩ mới phải động binh, và việc đó là cốt lo trừ bạo cho dân chứ không phải dựa vào đó để gây tai họa. Theo quan điểm của Nho giáo, bản tính con người là do trời phú, trời cũng ban cho con người cả mệnh. Sự phú và ban ấy về cơ bản là phù hợp với tính tự nhiên của con người, đó là “ghét chết thích sống, tránh nhục tìm vinh”. Quyền mưu và nhân nghĩa vừa là chủ trương nhất quán của nghĩa quân Lam Sơn về phục quốc an dân, đồng thời là vũ khí tư tưởng sắc bén mà Nguyễn Trãi sử dụng vào nghệ thuật quân sự “tâm công”.

Chuyển sang thời kỳ thiết lập vương triều và xây dựng đất nước, tình hình chính trị có những thay đổi do nội bộ nhà Lê sơ, đã xảy ra sự đố kỵ nhau về quyền lực, làm cho một loạt tướng lĩnh có công với đất nước bị xử oan như trên chúng tôi đã trình bày. Trong tình thế đó, những lời thề năm xưa giữa Lê Lợi và các tướng lĩnh không được giữ, và người ta cũng không thấy sự trừng phạt kịp thời nào từ phía Trời, Đất và các Tôn thần. Điều đó đã thức tỉnh các nhà tư tưởng nhìn nhận lại sự nghiệp công danh, làm xuất hiện thái độ xuất hay xử, hành hay tàng.(13)

Xuất xử hay hành tàng cũng phải có điều kiện, trước hết là sự phản tư của họ phải có sự tỉnh táo để vừa bảo toàn được tính mệnh, vừa giữ được khí tiết của những kẻ trượng phu. Nguyễn Trãi cũng là nạn nhân, đồng thời là đại biểu nói lên thái độ, quan điểm về cuộc sống của những người cùng chung số phận với ông. Với tấm lòng ưu ái, tứ ưu dân ái quốc và tinh thần trung quân gắn liền với ái quốc, các nhà tư tưởng Việt Nam thời chiến tranh chỉ có nguyện vọng tối cao là nước được độc lập, dân được hạnh phúc. Nếu chỉ vì lộc của triều đình thì sự “nếm mật nằm gai”, không quản hi sinh tính mạng trong thời kỳ kháng chiến là sự đánh đổi quá lớn. Tuy nhiên, đối với họ, khi đất nước được hòa bình, nhân tình thế thái đã thay đổi, mộng đẹp của Nguyễn Trãi cũng như những người đồng chí của ông “muốn khắp thôn cùng xóm vắng không một tiếng oán sầu” đối với ông chỉ là giấc mộng kê vàng:

“Cuộc đời một giấc mộng kê thôi;

Tỉnh lại muôn vàn thảy hão rồi.

Hiện chỉ ưa vào trong núi ở,

Lều tranh đọc sách cạnh hoa chơi”(15).

Hoặc:

“Lợi danh không thèm, ẩn mới đúng hơn;

Thân ta bị cái mũ nhà nho đánh lừa đã lâu”(16).

Trong trạng thái ấy, Nguyễn Trãi đã có lúc muốn trở thành nhà tu hành của đạo Phật để xa lánh nơi tranh giành quyền lực và lợi lộc:

“Lão khứ cuồng ngôn hưu quái ngã;

Lâm kỳ ngã diệc thượng thừa thiền”

(Già rồi hay nói cuồng, đừng lạ ta;

Từ biệt nhau rồi thì ta cũng sẽ tu đạo thiền thượng thừa)(17).

Ngay cả Lê Thánh Tông, vị vua anh minh của nửa cuối thế kỷ XV của nhà Lê Sơ cũng khẳng định danh lợi chỉ là giấc mộng Nam Kha, kê vàng, song tâm thế của ông không giống như của Nguyễn Trãi và một số người khác từng bị đối xử không công bằng, mà mang tính giáo huấn nhiều hơn và đối tượng giáo huấn chính là bộ máy quan lại và các hoàng thái tử của ông.

Có thể nói, nhân sinh quan triết học thời Lê Sơ phản ánh tâm thế của các nhà tư tưởng trước những sự kiện lớn lao của thời đại – đấu tranh giải phóng đất nước khỏi sự chiếm đóng của quân Minh và xây dựng triều đại, đất nước Đại Việt trong điều kiện hòa bình. Đằng sau khải hoàn ca chiến thắng là những vấn đề hy sinh mất mát, là tinh thần dũng cảm của quân dân ta trong chiến tranh, còn phía trước là những nhiệm vụ nặng nề về khôi phục đất nước sau chiến tranh, là thiết lập vương triều lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng trụ cột vì mục tiêu an dân, xã hội trật tự ổn định lâu dài. Nhân sinh quan triết học vì thế mà chứa đựng những ưu tư trầm lắng của các nhà tư tưởng từng tham gia kháng chiến, tinh thần trung quân ái quốc dần mờ nhạt, chỉ có ưu dân ái quốc mới bền vững dài lâu, mới để lại những dấu ấn triết học sâu sắc của thời đại.(15)

Trên đây là sự phác họa một số nét cơ bản về hình thức thế giới quan và nội dung chủ yếu về nhân sinh quan của Bộ Chỉ huy Lam Sơn và triều đại Lê Sơ. Dù hình thức thế giới quan mang nặng yếu tố thần bí, siêu hình, song đó lại là động lực thúc đẩy những con người bình dị với hai bàn tay trắng làm nên lịch sử oai hùng, đồng thời từ thế giới quan đó mà hình thành nên những nội dung nhân sinh quan mang đậm sắc thái Việt Nam của một triều đại khai quốc.


------------------------------------------------

([1]) Tổng tập văn học Việt Nam, 42 tập, t.4. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr.16.

(2) Văn Hội thề Lũng Nhai năm Bính Thân (1416) (Theo Di cảo Đinh Liệt)?? Tổng tập văn học Việt Nam, Sđd., tr.36-37 (Lũng Nhai là địa danh nay thuộc xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, Thanh Hóa).

(3) Min: ta.

([2]) Chí Linh Sơn Đại An Vương thần: hiệu thần được dựng lên có tính cách tượng trưng.

(5) Linh hội: khí thiêng hun đúc.

(6) Chữ rút từ Hán thư: văn thề viết bằng máu.

(7) Chữ rút từ Hán thư: cho dù Hoàng Hà có cạn như giải áo, hay núi Thái có teo lại như hòn đá mài, thì lời thề vẫn không quên.

(8) Chưa thu: chưa được đền bù.

(9) Nạn thu: hoạn nạn giảm thiểu.

(10) Đại Việt sử ký toàn thư, 2 tập, t.2. Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2006, tr.176.

(11) Tổng tập văn học Việt Nam, t.4. Sđd., tr.52.

(12) Tổng tập văn học Việt Nam, t.4. Sđd., tr.15.

(13) Tổng tập văn học Việt Nam, t.4. Sđd., tr.46.

(14) Nguyễn Trãi. Toàn tập. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 290.

(15) Nguyễn Trãi. Toàn tập. Sđd., tr.329.

(16) Nguyễn Trãi. Toàn tập. Sđd., tr.340.

(17) Nguyễn Trãi. Toàn tập. Sđd., tr.353-354.

 

Đã xem: 1504
Thời gian đăng: Chủ nhật - 18/01/2015 13:40
Người đăng: QLKH&HTQT


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất