QC Shop

Nghiên cứu Triết học

Thực hành dân chủ trong công tác lý luận và tư tưởng của Đảng

Dương Phú Hiệp, Trần Văn Đông

Nguồn: TẠP CHÍ TRIẾT HỌC, SỐ 2 (273), THÁNG 2-2014

Sau khi trình bày vắn tắt vấn đề thực hành dân chủ trong công tác lý luận và xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được thể hiện qua quá trình chuẩn bị các văn kiện đại hội và các hội nghị Trung ương, các tác giả bài viết tập trung phân tích vấn đề thực hành dân chủ trong công tác tư tưởng của Đảng, khái quát một số vấn đề tư tưởng đang đặt ra hiện nay, nguyên nhân dẫn đến những vấn đề đó và đề xuất một số giải pháp nhằm thực hành dân chủ trong công tác tư tưởng của Đảng giai đoạn hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Xuất phát từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến (phong kiến chuyên chế phương Đông), bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội, lại trải qua chiến tranh lâu dài và áp dụng máy móc mô hình chủ nghĩa xã hội Xô viết nên vấn đề dân chủ ở nước ta có những khó khăn nhất định. Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cũng có nghĩa là bỏ qua dân chủ tư sản, nhân dân chưa có ý thức và năng lực thực hành dân chủ, chưa có một nền văn hóa dân chủ ở mức cần thiết, chưa có thói quen tuân thủ pháp luận nên dễ rơi vào cực đoan này hay cực đoan khác, mặt bằng dân trí còn có sự bất cập. Thêm vào đó, Nhà nước pháp quyền đang hình thành, hệ chuẩn pháp luật còn thiếu và chưa đồng bộ, xã hội công dân chưa hình thành rõ nét, mặt trái của kinh tế thị trường còn tác động mạnh, nhiều cấp ủy Đảng và chính quyền chưa thực sự trở thành biểu tượng về dân chủ trong xã hội.
Vì vậy, có thể nói, vấn đề dân chủ ở nước ta còn chưa được giải quyết tốt về cả lý luận lẫn thực tiễn, trong đó có vấn đề quan hệ giữa dân chủ trong Đảng và trong xã hội Việt Nam. Hiện nay, nhiều người cho rằng, điều đáng được coi là quan trọng bậc nhất của thế kỷ XX là sự phát triển của chế độ dân chủ và tư tưởng dân chủ đã trở thành mô hình bình thường mà bất cứ nơi nào cũng có thể áp dụng được.(*)
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) viết: “Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(1).
Xuất phát từ điều đó, chúng ta xem xét quan hệ thực hành dân chủ trong Đảng hiện nay.
 
1. Thực hành dân chủ trong công tác lý luận và xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách thể hiện qua quá trình chuẩn bị các văn kiện đại hội và các hội nghị Trung ương
Chất lượng của đường lối, chủ trương, chính sách và các quyết sách lớn của Đảng đòi hỏi phải được tiến hành xây dựng trên cơ sở khoa học và dân chủ, đảm bảo cho đường lối, chủ trương, chính sách đó không chỉ là sản phẩm trí tuệ của Đảng, mà còn là sự kết tinh trí tuệ và tình cảm của mọi tầng lớp xã hội, thực sự là nơi thể hiện sinh động “ý Đảng – lòng dân”. Vì vậy, công tác lý luận và xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách – một hoạt động quan trọng của Đảng phải được tiến hành trong bầu không khí dân chủ trong Đảng và trong xã hội.
Trong thời kỳ đổi mới chưa có bầu không khí dân chủ trong công tác lý luận và xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, coi lý luận đã được giải quyết tất cả ở đường lối, nghị quyết của Đảng, bài nói và bài viết của lãnh đạo, công tác lý luận chỉ còn lại là nhiệm vụ đơn thuần là thuyết minh đường lối, nghị quyết. Điều đó lâu ngày tạo thành thói quen ỷ lại, thậm chí coi chân lý chỉ có thể phát ra từ một vài người, từ đó đi tới chỗ dựa dẫm vào sự “bao cấp tư duy” từ phía lãnh đạo. Vì chưa có không khí dân chủ nên hình thành tư tưởng thụ động, ỷ lại vào các nhà kinh điển, vào các nước anh em và vào lãnh đạo cấp trên. Nhiều người yên chí rằng, mọi việc, đặc biệt là công tác lý luận, đã có lãnh đạo cấp trên nghĩ hộ, cấp trên chịu trách nhiệm đúng sai, còn cấp dưới chỉ làm việc thuyết minh, ca ngợi.(1)
ở nước ta, chưa có truyền thống dân chủ, chưa có thói quen tranh luận, nhất là tranh luận với cấp trên. Do vậy, nếu ai cũng sợ bị “chụp mũ”, nếu chỉ độc thoại mà không có đối thoại, nếu cán bộ lãnh đạo chưa học được cách làm việc trong điều kiện mở rộng dân chủ, quen ra lệnh, lên lớp thì nhiều, nghe thì ít; nếu cấp dưới chưa có thói quen dám tranh cãi với cấp trên, chỉ thụ động “gọi dạ, bảo vâng”, không dám suy nghĩ bằng cái đầu của mình vì còn sợ mất đầu, sợ bị truy chụp thì tình trạng lạc hậu vẫn còn trong công tác lý luận và trong xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách.
So với thời kỳ trước đổi mới, Đảng ta đã có nhiều bước chuyển biến rất cơ bản về vấn đề thực hành dân chủ trong công tác lý luận và xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Từ phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đến bài học “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; từ chủ trương “phải trưng cầu ý kiến nhân dân trước khi quyết định” đến phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; từ chủ trương xây dựng bầu không khí dân chủ trong xã hội đến chủ trương tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh ngăn ngừa và khắc phục chủ nghĩa quan liêu, triệt để chống tham nhũng, chống đặc quyền đặc lợi, v.v. đều thể hiện tinh thần dân chủ của Đảng ta. Bắt đầu từ Đại hội VI, Đảng ta đã thực hành dân chủ trong công tác lý luận, trong xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của mình. Những nhận định, kết luận và quyết định của Đại hội VI về đường lối đổi mới là kết quả của quá trình bắt đầu mở rộng dân chủ, kết hợp với những sáng kiến của nhân dân, của các địa phương và đơn vị cơ sở với những cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, khảo sát thực tế của Trung ương Đảng và Chính phủ để đưa ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, có tính chất đột quá làm xoay chuyển tình hình và làm thay đổi bộ mặt của đất nước.
Từ Đại hội VII (năm 1991) đến Đại hội XI (năm 2011), Đảng ta tiếp tục thực hành dân chủ trong công tác lý luận và xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách; đồng thời bổ sung nhiều luận điểm mới về dân chủ, coi thực hiện dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; thực hiện dân chủ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và cũng là bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta; kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước; phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế; thực hiện quy chế dân chủ trong nghiên cứu và sáng tạo khoa học; đảm bảo tự do, dân chủ cho mọi hoạt động sáng tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, v.v..
Tuy các luận điểm nói trên được trình bày ở nhiều văn kiện khác nhau, nhưng hệ thống hóa lại, chúng ta thấy luận điểm này bổ sung cho luận điểm khác và có sự tương đối nhất quán trong các luận điểm đó. Điều quan trọng là thực hiện dân chủ trong Đảng và trong xã hội không phải chỉ dừng lại ở các luận điểm của Đảng, mà còn được thực thi trong thực tế.
Có thể khẳng định rằng, những thành tựu của đổi mới trong gần 30 năm qua là kết quả của việc thực thi dân chủ trong Đảng và trong xã hội. Sỡ dĩ có đường lối đổi mới, chính sách đổi mới, pháp luật đổi mới là do có dân chủ thảo luận và Đảng biết lắng nghe ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên, của các nhà khoa học và của toàn thể quần chúng nhân dân, vì đổi mới là sự nghiệp của nhân dân do Đảng ta lãnh đạo.
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng cương lĩnh, vậy việc soạn thảo Cương lĩnh năm 1991 được chuẩn bị như thế nào? Từ năm 1987 đến giữa năm 1990, Tiểu ban soạn thảo cương lĩnh và Tổ biên tập đã thực hiện tất cả 10 lần dự thảo. Trong quá trình đó đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo và góp ý kiến vào các bản dự thảo cương lĩnh. Nhiều cuộc hội thảo khoa học cũng đã được tổ chức để trao đổi một số vấn đề trong dự thảo cương lĩnh. Được sự đồng ý của Bộ Chính trị khóa VI, Tiểu ban soạn thảo cương lĩnh đã gửi bản dự thảo lần thứ 8 cho các ủy viên Trung ương Đảng các khóa III, IV, V, VI, các ban, ngành, các tỉnh ủy, thành ủy, các cơ quan nghiên cứu lý luận để thảo luận, góp ý kiến. Điều đó chứng tỏ Đảng ta đã chú ý đến các vấn đề dân chủ trong soạn thảo cương lĩnh.
Các văn kiện khác của Đảng cũng được xây dựng trên cơ sở thảo luận dân chủ tương tự như vậy. Tuy nhiên, còn một số vấn đề cần được nghiên cứu để mở rộng dân chủ hơn nữa trong công tác lý luận và xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách.
Một là, phải thể chế hóa cụ thể hơn nữa các chủ trương của Đảng về dân chủ để không còn nỗi sợ ám ảnh, như lãnh đạo sợ mở rộng dân chủ thì các “thế lực chống đối” lợi dụng, cán bộ và nhân dân thì sợ bị “chụp mũ” là mất phương hướng, là chịu ảnh hưởng của các “thế lực thù địch”.
Hai là, cần sớm khắc phục dân chủ hình thức. Mặc dù từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta đã đưa các dự thảo văn kiện đại hội để lấy ý kiến cán bộ và nhân dân, song còn nặng tính dân chủ hình thức, vì đại hội tiếp thu hay không tiếp thu những vấn đề gì thì không được trả lời rõ ràng.
Thứ ba, nhiều vấn đề lý luận trong các nghị quyết của Đảng không nên xem là khuôn vàng thước ngọc, nhất thành bất biến, mà phải luôn kiểm nghiệm trong thực tiễn, sẵn sàng lắng nghe ý kiến nhân dân để bổ khuyết, sửa đổi những điều không sát, đúng.
Thứ tư, trước khi đi đến các quyết sách, cần trải qua nhiều cuộc tranh luận, trong tranh luận không nên quy chụp vội vàng, không nên “độc quyền chân lý”, áp đặt tư duy, quy kết tùy tiện, mà nên khuyến khích và thực hiện phản biện xã hội rộng rãi. Phản biện xã hội là sự cần thiết khách quan, là biểu hiện cụ thể của dân chủ.
Năm là, sớm ban hành quy chế dân chủ trong công tác lý luận để tạo lập môi trường dân chủ trong công tác lý luận. Mặc dù, hiện nay đã có “Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan Hội đồng lý luận Trung ương”, nhưng vẫn chưa ban hành được quy chế dân chủ cho toàn thể giới nghiên cứu lý luận và khoa học xã hội. Nghiên cứu lý luận là lĩnh vực phức tạp và trong nhiều trường hợp, rất khó phân biệt, đo đếm một cách đơn giản; do vậy, cần tạo môi trường dân chủ trong nghiên cứu khoa học, trong việc tranh luận, thảo luận những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, để các nhà nghiên cứu mạnh dạn trình bày những suy nghĩ của mình. Môi trường dân chủ còn là việc tôn trọng sự khác biệt, lắng nghe những ý kiến phản biện nhằm tìm kiếm chân lý. Vì chưa có môi trường dân chủ nên nhiều người e ngại, rụt rè, sợ bị quy kết, bị đánh giá, đành phải dừng lại ở minh họa, chưa dám khám phá, tìm tòi. Do vậy, cần sớm có một môi trường dân chủ trong công tác lý luận, tránh áp dụng quyền lực đối với những ý kiến trái chiều.
Chính vì thế mà Đại hội XI của Đảng ta đã chủ trương: Tạo môi trường dân chủ trong thảo luận, tranh luận khoa học; khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của cá nhân và tập thể trong nghiên cứu lý luận. Khẩn trương ban hành quy chế dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị. Vấn đề đặt ra ở đây là, thực hiện điều này trong thực tế như thế nào - đó mới là điều quan trọng.
Phải làm cho các giá trị chính trị của Đảng thành niềm tin chính trị của quảng đại quần chúng; đồng thời, Đảng phải lắng nghe, chắt lọc những khát vọng của quần chúng để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách. Không làm được đều đó, chúng ta sẽ không có môi trường chính trị thuận lợi cho thực hiện mục tiêu của Đảng. Những năm gần đây, chúng ta chưa quan tâm đúng mức vấn đề này; vì vậy, dẫn tới xu hướng đáng lo ngại đã và đang xuất hiện là sự không gặp nhau giữa ý Đảng và lòng dân trong một số chủ trương, chính sách cụ thể, kể cả một số vấn đề hệ trọng liên quan đến cả nước, như vấn đề đất đai, giải phóng mặt bằng và một số chủ trương, chính sách khác.
 
2. Thực hành dân chủ trong công tác tư tưởng của Đảng
Thực hành dân chủ trong công tác tư tưởng của Đảng là nội dung rất quan trọng trong hoạt động của Đảng. Đảng lãnh đạo xã hội bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động quần chúng. Sức mạnh của Đảng không phải ở sự cưỡng chế hay các áp lực chính trị, mà chính là ở khả năng tuyên truyền, thuyết phục, vận động quần chúng. Đảng thuyết phục, vận động quần chúng bằng sự gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn tự giác đặt mình trong sự kiểm tra, giám sát của nhân dân, luôn xứng đáng là “người lãnh đạo và đầy tớ trung thành của nhân dân”. Điều quan trọng là Đảng phải thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng các hoạt động tuyên truyền, thuyết phục và vận động quần chúng. Trong hoạt động giáo dục, tuyên truyền, vận động quần chúng, điều cần chú ý là Đảng không chỉ phải biết cách nói cho dân nghe, tuyên truyền, giảng giải cho dân hiểu, thuyết phục để nhân dân đi theo mình, mà còn phải biết lắng nghe nhân dân nói, biết đối thoại dân chủ với các tầng lớp nhân dân, giúp dân giải quyết các vướng mắc của mình, hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, biết học tập quần chúng để phát huy sáng kiến của các tầng lớp nhân dân nhằm biến công việc của Đảng thực sự là công việc của nhân dân.
Trong những năm qua, công tác tư tưởng của Đảng đã có sự đổi mới nhất định và đã làm được nhiều việc, như tập trung chỉ đạo cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; chủ động trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bác bỏ các quan điểm sai trái, luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù định; đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng; chấn chỉnh hoạt động thông tin, tuyên truyền; quản lý hoạt động báo chí, chấn chỉnh, quản lý thông tin trên mạng Internet, các mạng xã hội và blog cá nhân, v.v..
Kết quả của công tác tư tưởng nói trên được thể hiện ở chỗ: Vẫn giữ được ổn định chính trị; lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam được phát huy và nâng cao; người dân ngày càng được biết nhiều hơn (dân biết) do bộ máy tuyên truyền đã tạo những điều kiện thuận lợi để dân nắm được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; dân nắm được các thủ tục hành chính giải quyết các công việc có liên quan tới họ; dân biết được quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của địa phương; hầu hết các nghị quyết của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân đều được phổ biến cho nhân dân bằng nhiều hình thức khác nhau; những dự toán, quyết toán ngân sách được công khai hóa; qua các kỳ họp, thông tin bằng văn bản hoặc đài truyền hình, truyền thanh của Trung ương và địa phương, dân biết được nhiều thông tin có ích cho họ.
Đồng thời, cùng với việc dân biết, dân cũng được bàn bạc nhiều việc quan trọng. Điều đó thể hiện ở chỗ: Những dự án, đề án do Nhà nước đầu tư hay Nhà nước và nhân dân cùng làm đều được đưa ra dân bàn bạc; các chủ trương về mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng địa phương dân cùng bàn; việc xây dựng hương ước, quy ước và các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư, lập ban giám sát công trình do nhân dân địa phương góp ý... đều được đưa ra nhân dân bàn. Nhiều vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân địa phương hay Trung ương (như quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; kế hoạch sử dụng đất ở các địa phương; quy hoạch dân cư; điều chỉnh địa giới hành chính; phương án đền bù giải phóng mặt bằng...) nhân dân cũng được tham gia ý kiến. Nhờ vậy, các chủ trương đó đều được sự đồng tình của quảng đại quần chúng nhân dân.
Tuy vậy, một số mặt tiêu cực về tư tưởng đang có biểu hiện phức tạp và nghiêm trọng hơn, tiềm ẩn nguy cơ trực tiếp gây mất ổn định chính trị. Tình trạng suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên về chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống chưa được khắc phục, làm ảnh hưởng đến sức chiến đấu của Đảng và lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Trong Đảng đã xuất hiện các ý kiến khác nhau về một số vấn đề cơ bản liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng tới sự thống nhất tư tưởng.
Có thể khái quát một số vấn đề tư tưởng đang đặt ra hiện nay như sau:
Một là, niềm tin vào những giá trị tư tưởng và lý luận Mác – Lênin, vào chủ nghĩa xã hội có chiều hướng suy giảm, kể cả trong cán bộ, đảng viên.
Hai là, niềm tin tôn giáo, niềm tin tâm linh có xu hướng gia tăng trong một bộ phận nhân dân.
Ba là, tư tưởng thực dụng, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, tham nhũng, lãng phí (trong đó, có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả cán bộ cấp cao) vẫn nghiêm trọng, v.v..
Công tác tư tưởng của Đảng phải nghiên cứu trả lời vì sao lại có hiện tượng nói trên và làm thế nào để khắc phục tình trạng đó?
Sở dĩ còn nhiều hiện tượng tiêu cực trong tư tưởng là do nhiều nguyên nhân, ở đây chỉ phân tích nguyên nhân trong công tác tư tưởng.
Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, thiếu sức thuyết phục, tính chiến đấu còn hạn chế, chưa sâu sát thực tế và chưa linh hoạt. Công tác tư tưởng chưa làm tốt nhiệm vụ giáo dục chính trị và tư tưởng, chưa làm tốt nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa cơ hội, những quan điểm mơ hồ, sai trái. Chất lượng sinh hoạt tư tưởng trong tổ chức Đảng thấp, thiếu tính chiến đấu. Phạm vi tác động, ảnh hưởng của công tác tư tưởng có dấu hiệu bị thu hẹp. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù định còn bị động, hiệu quả thấp. Nội dung, phương pháp công tác tư tưởng chậm đổi mới, công tác tư tưởng trở nên lạc hậu so với yêu cầu của thực tiễn trong tình hình mới. Chưa đề cao trách nhiệm của toàn Đảng đối với công tác tư tưởng. Bí thư cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị hàng năm chưa lập kế hoạch chỉ đạo công tác tư tưởng của đơn vị mình. Chưa xây dựng được cơ chế các cấp ủy Đảng tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến cơ sở với cơ quan làm công tác tư tưởng trong việc giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân. Chưa cải tiến, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các loại hình tuyên truyền cho phù hợp với trình độ, nhu cầu của từng đối tượng.
Để thực hành dân chủ trong công tác tư tưởng còn phải chú ý một số vấn đề sau đây:
Một là, phải làm cho tư tưởng con người được hoàn toàn giải phóng, từng bước tiến tới tự do tư tưởng, không độc quyền chân lý, không áp đặt tư duy, không quy kết tùy tiện.
Hai là, phải thường xuyên cung cấp thông tin để dân biết, dân bàn, trừ những gì cần giữ bí mật, còn mọi việc phải công khai, minh bạch.
Ba là, công tác tư tưởng phải khách quan, khoa học, nói đúng, nói thật về những thành tựu đã đạt được và những sai lầm đã mắc phải. Chỉ có như thế, mới lấy lại được lòng tin của nhân dân.
Bốn là, trong công tác tư tưởng phải mở rộng dân chủ hơn nữa, phát huy tự do ngôn luận, lắng nghe các ý kiến khác biệt. Không nên có tình trạng tự do dân chủ chỉ được tôn trọng trên văn bản giấy tờ, mà không được tôn trọng trên thực tế. Một thời gian khá dài trước đây, người ta phải kiêng kỵ, không dám nói tới những khuyết điểm, sai lầm nào đó của đường lối và nghị quyết.
Năm là, lời nói phải đi đôi với việc làm, tránh tình trạng nói nhưng không làm, hoặc nói một đằng làm một nẻo. Sức thuyết phục cao nhất của công tác tư tưởng là thuyết phục bằng hành động và bằng những tấm gương sáng, trước hết là của những người lãnh đạo.
Sáu là, công tác tư tưởng phải gắn chặt với công tác dân vận, bởi công tác dân vận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân. Phải coi công tác dân vận là công tác của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị, đồng thời phải thường xuyên đổi mới nội dung và hình thức của công tác dân vận theo hướng mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
 

 (*) Giáo sư, tiến sĩ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
(**) Nghiên cứu sinh Triết học, Học Viện Khoa học Xã hội.
(1) Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.88

 

Đã xem: 2820
Thời gian đăng: Chủ nhật - 18/01/2015 07:46
Người đăng: QLKH&HTQT


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất