QC Shop

Nghiên cứu Triết học

Tổng kết diễn đàn lần thứ IX về “Tăng trưởng, Phát triển và Công bằng xã hội” của Hội Kinh tế Chính trị Thế giới

TS. ĐINH HIỂU KHÂM & NCS. QUÁCH DIỄM THANH

Nguồn: TẠP CHÍ TRIẾT HỌC, SỐ 9 (280), THÁNG 9 - 2014

Trong các ngày từ 23 đến 26 - 5 - 2014, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức Diễn đàn lần thứ IX của Hội với chủ đề “Tăng trưởng, phát triển và công bằng xã hội” với sự tham dự của hơn 100 học giả đến từ 22 quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, Mỹ, Canada, Brasil, Argentina, Mexico, Anh, Pháp, Đức, Ireland, Áo, Ukraina, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Úc, Nam Phi, v.v.

Hoi thao QT

Hoi thao QT

Hội Kinh tế chính trị Thế giới (tên tiếng Anh: World Association for Polotical Economy, WAPE) là một tổ chức khoa học quốc tế phi lợi nhuận do những nhà kinh tế học mácxít và một số nhóm học thuật có liên quan tình nguyện đứng ra thành lập. Tôn chỉ của Hội là tìm hiểu, nghiên cứu nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới xuất phát từ nền tảng lý luận kinh tế học mácxít hiện đại, trên cơ sở đó đưa ra và thảo luận những vấn đề mang tính đối sách trong việc thúc đẩy kinh tế và tiến bộ xã hội toàn cầu nói chung và của các quốc gia nói riêng. Từ năm 2006 đến năm 2013, Hội đã lần lượt tổ chức thành công 8 Diễn đàn quốc tế xoay quanh các chủ đề: Toàn cầu hóa kinh tế, quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, phát triển bền vững, quản trị nền dân chủ toàn cầu, chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI, các cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, sự phát triển của nhân loại trong thế kỷ XXI, bất bình đẳng và thế giới của chủ nghĩa tư bản. Các Diễn đàn này lần lượt được tổ chức tại các thành phố trên khắp thế giới như: Thượng Hải (Trung Quốc), Shimane (Nhật Bản), Bắc Kinh (Trung Quốc), Paris (Pháp), Tô Châu (Trung Quốc), Massachusetts (Mỹ), Mexico City (Mexico), Florianópolis (Brasil).

Trong các ngày từ 23 đến 26 - 5 - 2014, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức Diễn đàn lần thứ IX của Hội với chủ đề “Tăng trưởng, phát triển và công bằng xã hội” với sự tham dự của hơn 100 học giả đến từ 22 quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, Mỹ, Canada, Brasil, Argentina, Mexico, Anh, Pháp, Đức, Ireland, Áo, Ukraina, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Úc, Nam Phi, v.v..(*)

Sáng ngày 24 - 5, PGS,TS. Phạm Văn Đức - Viện trưởng Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã có bài phát biểu đề dẫn tại Lễ khai mạc Diễn đàn. Tiếp đó, GS,TS. Nguyễn Quang Thuấn, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã có lời phát biểu chào mừng Diễn đàn lần thứ IX của Hội Kinh tế chính trị thế giới; GS. Hiroshi Onishi (Đại học Keio University Nhật Bản) – Phó Chủ tịch Hội Kinh tế chính trị thế giới đọc lời khai mạc Diễn đàn. Cũng tại đây, Hội đã trao “Giải thưởng thế giới về kinh tế học mácxít lần thứ 4” cho hai học giả tiêu biểu: GS. David Kotz (Khoa Kinh tế, Học viện Amherst, Đại học Masachusetts, Mỹ) - Phó Chủ tịch Hội Kinh tế chính trị thế giới, và GS. Hồng Viễn Bằng (Viện Kinh tế, Đại học Phúc Đán, Trung Quốc). Ngoài ra, Hội còn trao tặng “Giải thưởng dành cho những nghiên cứu xuất sắc về kinh tế học chính trị trong thế kỷ XXI” cho 8 học giả: GS. Nobuharu Yokokawa (Đại học Musashi, Nhật Bản), GS. Michael Lebowitz (Đại học Simon Fraser, Canada), GS. Dong-Min Rieu (Đại học quốc gia Chungnam, Hàn Quốc), GS. Patrick Bond (Đại học KwaZulu-Natal, Nam Phi), GS. Venkatesh Athreya (Đại học Bharathidasan, Ấn Độ), GS. Howard Nicholas (Viện Nghiên cứu xã hội Hà Lan), GS. V.K.Ramachandran (Chủ tịch Quỹ nghiên cứu nông nghiệp Ấn Độ, Trưởng Khoa kinh tế, Viện Thống kê Ấn Độ), GS. Nhan Bằng Phi (Đại học Vũ Hán, Trung Quốc). Sau phiên khai mạc, Diễn đàn tiến hành phiên họp toàn thể thứ nhất dưới sự chủ trì của GS. Trình Ân Phú, Chủ tịch Hội Kinh tế chính trị thế giới, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc. Tại phiên toàn thể này, với 7 báo cáo tham luận, các học giả và đại biểu đã lắng nghe và thảo luận xoay quanh chủ đề của Diễn đàn. Kết thúc phiên toàn thể thứ nhất, dưới sự chứng kiến của các học giả và đại biểu, GS. Trình Ân Phú và PGS,TS. Phạm Văn Đức đã tiến hành nghi thức đặt tượng C.Mác tại phòng truyền thống, đồng thời tiến hành trồng cây lưu niệm tại trụ sở của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam theo thông lệ của Hội.

Ngoài 02 phiên họp của Ban Chấp hành Hội Kinh tế chính trị thế giới, trong các ngày từ 24 đến 25 - 5 - 2014, Diễn đàn còn tổ chức 03 phiên họp toàn thể, 13 phiên họp tiểu ban nhằm thảo luận các vấn đề thuộc chủ đề chung của Diễn đàn lần thứ IX “Tăng trưởng, phát triển và công bằng xã hội”.

1. Phát triển kinh tế và công bằng xã hội

GS. Trình Ân Phú, Chủ tịch Hội Kinh tế chính trị thế giới, đưa ra quan điểm phát triển cần đi đôi với công bằng. Với quan niệm cho rằng các quốc gia trên thế giới đã phải trả giá đắt trong quá trình chạy theo sự tăng trưởng kinh tế dựa trên GDP, ông chỉ ra phương thức phát triển dựa trên các chỉ số phúc lợi của GDP (Gross Domestic Product of Welfare, GDPW) nhằm đo lường trình độ phúc lợi quốc dân trong quá trình tăng trưởng kinh tế. Chỉ số GDPW là đơn vị dùng để chỉ tổng giá trị phúc lợi thu được từ tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị, của một quốc gia hay vùng lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, và đối tượng được nghiên cứu ở đây phải là phúc lợi khách quan. Phát triển thêm quan điểm này, ông tiến hành phân định tính chất có lợi và có hại của những giá trị phúc lợi bên trong cũng như bên ngoài nền sản xuất của một quốc gia nhất định, đồng thời đưa ra nguyên tắc hạch toán và kết cấu cụ thể trong cách đo lường chỉ số GDPW.

GS. Michael A.Lebowitz (Đại học Simon Fraser, Canada) cho rằng, trong hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa, tư bản và việc sử dụng lao động không chỉ là tiền đề mà còn là kết quả của sự bóc lột sức lao động. Nói như vậy có nghĩa rằng, chủ nghĩa tư bản sản xuất ra hai loại sản phẩm cơ bản: Sản phẩm của lao động và sản phẩm của quan hệ sản xuất. C.Mác nhấn mạnh: “Sự thay đổi của môi trường được tiến hành đồng thời với sự thay đổi tự phát của nhân loại”. C.Mác đã áp dụng quan điểm này vào lý luận về chủ nghĩa xã hội và cho rằng hạch toán xã hội chủ nghĩa cần phải chú ý đến sản phẩm của quá trình sản xuất vật chất (bao gồm cả sự thay đổi của môi trường) và sản phẩm liên hợp (khởi nguồn năng lực của con người). Theo ông, việc hạch toán xã hội chủ nghĩa sẽ hỗ trợ cho sự phát triển của quan hệ sản xuất, đó cũng chính là quá trình“thỏa mãn nhu cầu tự thân phát triển của người lao động”.

Coi phát triển là chủ đề quan trọng trong xã hội hiện đại, GS. Nhan Bằng Phi (Đại học Vũ Hán, Trung Quốc) đã đưa ra một loạt câu hỏi có liên quan: Phát triển là gì, phát triển như thế nào, phát triển cho ai, phát triển dựa vào những yếu tố nào và ai là những người được hưởng thành quả từ sự phát triển đó? Theo ông, lý luận và thực tế phát triển của Trung Quốc đã chứng minh rằng, cần phải có sự phân biệt rõ giữa phát triển và tăng trưởng, giữa phát triển khoa học và phát triển không khoa học. Phát triển khoa học là phát triển một cách sáng tạo, phát triển nhịp nhàng, phát triển xanh, phát triển hài hòa, công bằng và không phụ thuộc.

Theo TS. Mẫn Tự Quốc (Đại học Bưu điện Trùng Khánh, Trung Quốc), sau kỳ tích phát triển của các quốc gia Mỹ Latinh thì “cái bẫy Mỹ Latinh” do sự phát triển ấy tạo ra từ những năm 80 của thế kỷ trước cho đến nay đã khiến tình hình phát triển kinh tế ở khu vực này không khởi sắc, khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị càng rõ nét, xã hội hỗn loạn và có nhiều mâu thuẫn. Sự hỗn loạn này là hệ quả của việc lựa chọn mô hình phát triển không phù hợp, chính sách phát triển kinh tế yếu kém, không coi trọng sự công bằng trong phát triển, thể chế lạc hậu, quản lý xã hội kém cùng nhiều yếu tố đan xen khác. Với một quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, việc nhìn nhận, đánh giá nhằm tránh những vết xe đổ của châu Mỹ Latinh là điều vô cùng quan trọng. Trung Quốc cần phải cảnh giác với sự thâm nhập của chủ nghĩa tự do mới, kiên trì đường lối phát triển một cách khoa học, thúc đẩy phát triển đồng bộ giữa thành thị và nông thôn, thực hiện phân phối công bằng, tăng cường xây dựng và củng cố công bằng xã hội nhằm thúc đẩy sự tương tác tích cực, mạnh mẽ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội.

GS. Anton Filipenko (Đại học Guelph, Ukraina) cho rằng, từ những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998 và khủng hoảng kinh tế năm 2008 nếu Ukraina không tiến hành cải cách kinh tế một cách triệt để sẽ dẫn đến những cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn trong tương lai. Vấn đề của Ukraina hiện nay là cần phải xây dựng một thể chế xã hội mà ở đó nhấn mạnh đến công bằng xã hội, bình đẳng kinh tế, bảo đảm tự do nhân quyền và thực hiện nền kinh tế thị trường dân tộc tự do. GS. V.K.Ramachandran (Chủ tịch Quỹ nghiên cứu nông nghiệp Ấn Độ) qua những cuộc điều tra thực tế trên lĩnh vực phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng trong nông nghiệp Ấn Độ đã chỉ ra rằng, trên 60% những hộ gia đình được tiến hành lấy mẫu ở Ấn Độ đều là lao động thủ công bần nông và trung nông. Nghiên cứu của ông cũng cho thấy tỷ lệ sở hữu ruộng đất của nông dân Ấn Độ hiện nay là rất thấp. Theo ông, đất đai luôn là vấn đề quan trọng nhất, mang tầm quốc gia mà Ấn Độ đang phải đối mặt. Để giải quyết được vấn đề này, theo ông, cần phải có những thay đổi mang tính cách mạng, như cải cách ruộng đất một cách triệt để, thủ tiêu hoàn toàn chế độ phong kiến địa chủ và sự lộng quyền của những kẻ cho vay nặng lãi; đồng thời, xóa bỏ bất bình đẳng giới trong xã hội cũng như chế độ phân biệt dòng tộc ở các vùng nông thôn.

2. Phát triển kinh tế và tự chủ kinh tế

GS. Ana Maria Rita Milani (Đại học Contabilida, Brasil) cho rằng, trong 30 năm qua, sự bất tương xứng trong quá trình hội nhập tại các quốc gia đang phát triển (bao gồm các quốc gia châu Mỹ và Đông Á, ngoại trừ Trung Quốc) là bằng chứng xác thực nhất về tính hiệu quả của lý thuyết phụ thuộc, đẩy các quan hệ phụ thuộc trong thế giới hiện đại bước vào một giai đoạn lịch sử mới, khiến các quốc gia đang phát triển bước lên vũ đài kinh tế thế giới bằng một hình thức riêng biệt.

GS. Từ Trọng Vỹ (Đại học Bưu điện Trùng Khánh, Trung Quốc) cho rằng, một trong những nguyên nhân quan trọng nhất khiến Ukraina không những không thể đưa nền kinh tế của họ phát triển mà còn đi vào con đường khủng hoảng toàn diện là vì họ đã không xây dựng được cho mình một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Một đất nước có chủ quyền phải xây dựng riêng cho mình một nền kinh tế độc lập, xử lý tốt mối quan hệ phụ thuộc và đặc biệt, phải biết tự phát triển, có cơ chế tự chủ hiệu quả về kinh tế mới có thể giữ vững được nền độc lập của mình. GS. Thư Triển (Đại học Phúc Châu, Trung Quốc) căn cứ trên biểu đồ Quadrant bao gồm 4 tiêu chí là an toàn, nguy cơ, tự chủ và phụ thuộc để phân loại các quốc gia theo 4 mô hình: 1. Các quốc gia chủ đạo và tự chủ; 2. Các quốc gia có nguy cơ phụ thuộc; 3. Các quốc gia tự chủ tạm thời và có nguy cơ phụ thuộc; 4. Các quốc gia có yếu tố phụ thuộc tiềm ẩn. Trong 4 mô hình nêu trên, mô hình quốc gia có yếu tố phụ thuộc tiềm ẩn được đánh giá là tương đối yếu trong việc đối phó trực tiếp với các nguy cơ nảy sinh trong quá trình toàn cầu hóa, đặc biệt trong thời kỳ kinh tế toàn cầu biến động, các quốc gia này rất dễ rơi vào trạng thái phụ thuộc hoàn toàn. Vì vậy, các quốc gia này cần chú trọng hơn đến tính tự chủ trong việc tăng cường nội lực và phát triển kinh tế.

TS. J.Z.Garrod (Đại học Carleton, Canada) quan niệm rằng, nếu dựa vào những chỉ số khác nhau về đầu tư nước ngoài thì có thể xem Canada là quốc gia bị lệ thuộc hay là một quốc gia đang tiến gần đến chủ nghĩa đế quốc hiện đại? Đây là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, chúng ta có nhiều bằng chứng chứng minh rằng, hiện nay, thay vì khẳng định sự thâm nhập sâu vào nền kinh tế quốc dân, chủ nghĩa tư bản đang dần trở thành một mạng lưới sản xuất và phân phối tập trung trên phạm vi toàn cầu. Qua việc nghiên cứu, phân tích kết cấu của nền kinh tế Canada và sở hữu của 5 công ty đa quốc gia lớn nhất nước này, TS. J.Z.Garrod chỉ ra rằng, cơ cấu quốc gia - dân tộc hiện nay không còn tương xứng với những mở rộng về mặt địa lý trong phát triển nữa.

GS. Niemeyer Almeida Filho (Đại học Federal de Uberlândia, Brasil) căn cứ vào mô hình tái sản xuất tư bản phát triển dựa trên lý luận phụ thuộc đã giải thích thêm về hiện trạng phân công quốc tế cũng như các hoạt động kinh tế quốc tế của các quốc gia trong khu vực châu Mỹ Latinh. Những nghiên cứu của ông cho thấy, ở các quốc gia châu Mỹ Latinh, mặc dù trình độ chuyên môn hóa sản xuất khi tham gia vào thị trường kinh tế quốc tế có nâng cao hơn trước, song, mức độ phụ thuộc vào những sản phẩm xuất khẩu cấp thấp vẫn rất lớn, đồng thời, tình hình phát triển kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều khác biệt lớn. Với trường hợp Brasil, xuất phát từ mô hình tái sản xuất tư bản được phản ánh dựa trên các yếu tố như tài chính, đầu tư, phân phối của cải, thu nhập, có thể thấy rằng, mức độ phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài là tương đối lớn, kết cấu của hệ thống xuất nhập khẩu cũng tồn tại nhiều bất đồng, đa số các ngành hàng xuất khẩu đều chứa hàm lượng kỹ thuật thấp, bên cạnh đó, mô hình tiêu dùng còn chưa trưởng thành (thu nhập của đa số các gia đình đều được dùng vào việc tiêu dùng, và những sản phẩm tiêu dùng gần như đều là sản phẩm sản xuất trong nước).

GS. Jenny Clegg (Đại học Central Lancashire, Vương quốc Anh) dẫn quan điểm của Justin Yifu Lin (Lâm Nghị Phu) - chuyên gia kinh tế, cựu Giám đốc Ngân hàng Thế giới cho rằng, chính sách công nghiệp hóa cần phải tuân thủ nguyên tắc lợi thế so sánh. Quan điểm này gặp phải sự phản đối từ các chuyên gia nghiên cứu kinh tế phát triển như Chang Ha Joon khi cho rằng trong phát triển thì nguyên tắc sáng tạo lợi thế so sánh cần phải được chú trọng hơn. Những lý luận đó đã ủng hộ hai mô hình phát triển khác nhau: Mô hình hợp tác mậu dịch (điển hình là Mỹ) và mô hình phát triển kinh tế dưới sự điều tiết của nhà nước (điển hình là Trung Quốc). Trung Quốc thông qua sự hợp tác giữa các doanh nghiệp nhà nước trong khối Các nước có nền kinh tế mới nổi (BRIC) nhằm tăng cường sự hài hòa trong các chính sách công nghiệp, từ đó thúc đẩy mô hình liên kết giữa quốc gia và thị trường phát triển. Mức độ liên kết giữa quốc gia và thị trường cùng với vai trò của doanh nghiệp nhà nước tạo ra một sự đấu tranh giữa chủ nghĩa tự do mới và chủ nghĩa phát triển. Sự khác biệt giữa mức độ liên kết quốc gia và thị trường với vai trò của doanh nghiệp nhà nước cũng đồng thời mở ra một cuộc đối đầu mới giữa chủ nghĩa tự do mới và chủ nghĩa phát triển đa nguyên.

3. Phát triển kinh tế và sáng tạo kỹ thuật

GS. Luis Sandoval Ramírez (Đại học Quốc gia Mexico) cho rằng, cuộc cách mạng kinh tế và khoa học, kỹ thuật từ thế kỷ XIX đến nay đều xuất phát từ nhu cầu của quy luật tích lũy tư bản, chủ yếu tập trung vào quá trình sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tối đa hóa thu nhập. Cuộc cách mạng này chủ yếu dựa trên sự sáng tạo mang tính cách mạng của ngành năng lượng và các lĩnh vực có liên quan. Nguồn tư liệu sản xuất mới (năng lượng mới và việc sử dụng những nguồn năng lượng đó trong quá trình sản xuất), quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, v.v. chính là nội dung chủ yếu của sự sáng tạo mang tính cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Dựa trên những sáng tạo ấy, các quốc gia thực hiện cuộc cách mạng kinh tế và khoa học kỹ thuật đều nhằm mục đích trở thành các quốc gia bá quyền mới trên thế giới, và Mỹ là nước dẫn đầu trong xu hướng này (1892 - 2014).

GS. Alen Freeman (Đại học Manitoba, Canada) chỉ ra rằng, vấn đề bồi dưỡng và khuyến khích hoạt động lao động trí óc từ lâu đã được không ít các học giả đề cập đến. Mặc dù xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng các học giả đều kết luận rằng, trong quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới, những người lao động trí óc có tính sáng tạo không những luôn phát huy được khả năng mang tính quyết định của mình đối với nền sản xuất xã hội mà còn không chịu ảnh hưởng của bất kỳ yếu tố nào đối với hoạt động sáng tạo của mình. GS. Alen Freeman cho rằng, đào tạo và nâng cao trình độ của đội ngũ lao động trí óc sáng tạo không chỉ là một hiện tượng mang tính kinh nghiệm mà còn là một tất yếu lịch sử. Nếu không tạo điều kiện cho lao động trí óc sáng tạo thì xã hội loài người và bản thân con người sẽ không thể tiến bộ được. Chính vì vậy, ông cho rằng, để hoạch định được chính sách phát triển thì trước hết cần phải quan tâm đến việc phát huy tác dụng của đầu tư công cũng như vai trò của đầu tư tư nhân trong việc đào tạo đội ngũ lao động trí óc có tính sáng tạo cao.

Học giả Ryo Kanae (Đại học Kyoto, Nhật Bản) dựa trên lý luận của C.Mác đã xây dựng nên 3 mô hình tăng trưởng tối ưu, mà theo ông là phù hợp với xã hội hiện đại. Thông qua việc phân loại tư bản thành 2 loại, ông xây dựng nên kết cấu của nền sản xuất bao gồm 3 bộ phận cơ bản, đồng thời đưa ra chỉ số đánh giá sản xuất tư bản. GS. Hiroshi Izumi (Đại học kinh tế Osaka) tiến hành so sánh sự khác nhau giữa khái niệm năng suất lao động của chủ nghĩa Mác và khái niệm năng suất tổng hợp trong lý luận kinh tế tân cổ điển. Đồng thời, ông chỉ ra những thiếu sót của khái niệm năng suất tổng hợp và chứng minh tính hợp lý của khái niệm năng suất lao động. Theo ông, năng suất tổng hợp là khái niệm dựa vào lý thuyết cạnh tranh hoàn hảo, nhưng trên thực tế, cạnh tranh hoàn hảo là điều không thể thực hiện được. Năng suất tổng hợp cũng đánh giá thấp tỷ lệ tăng trưởng sản xuất của các quốc gia đang phát triển, thêm vào đó, năng suất tổng hợp không bao hàm trong nó khả năng tăng trưởng của tư bản cố định và cũng không thể hiện được sự tiến bộ về phương thức lao động. Ngược lại, năng suất lao động bao hàm trong nó sản phẩm của cả lao động trực tiếp lẫn lao động gián tiếp. Sản phẩm của lao động trực tiếp thể hiện ở sức lao động được dùng trong quá trình sản xuất, sản phẩm của lao động gián tiếp thể hiện ở sự kết hợp giữa sức lao động và tư bản cố định trong quá trình sản xuất. Năng suất lao động không những có thể sử dụng để tính toán trong quá trình sản xuất đơn lẻ mà còn có thể áp dụng cho cả nền kinh tế, đồng thời, có thể tính toán được tất cả sản phẩm trong quá trình sản xuất. Do vậy, có thể nói, năng suất lao động phản ánh một cách toàn diện sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật.

4. Tác dụng của chính phủ và thị trường trong nền kinh tế

GS. Roger Seifert (Đại học Wolverhampton, Vương quốc Anh) cho rằng, trong điều kiện thông thường, dù xét trên phương diện lôgíc hay phương diện kinh nghiệm, việc nâng cao hiệu suất lao động và biến nó trở thành lý do để tư hữu hóa những ngành sản xuất công cộng là một sai lầm. Có rất nhiều ví dụ chứng minh rằng, chỉ có một thể chế kinh tế có kế hoạch mới có thể thúc đẩy hiệu suất kinh tế lên một mức cao hơn. Chính sách hoạt động của Cục đăng ký đất đai Anh cho thấy, tư hữu hóa không những có thể giúp hoàn thành các mục tiêu đã đề ra mà còn khiến cho chất lượng phục vụ người dân được nâng cao. Tuy nhiên, các phân tích sau đó cũng chỉ ra rằng mô hình này dường như không thể hiện được tính ưu việt của nó.

GS. Balwinder Singh Tiwana (Đại học Panjab, Ấn Độ) xuất phát từ lý thuyết tăng trưởng bao trùm đã tiến hành nghiên cứu những vấn đề trong đời sống xã hội và vấn đề thị trường hóa dịch vụ xã hội. Theo ông, do những thiếu sót trong chính sách mà gây nên sự bất tương xứng giữa tăng trưởng kinh tế và tiền lương trong xã hội Ấn Độ. Ông sử dụng phương pháp chứng minh thực tế để phân tích sự thay đổi về kết cấu lao động cũng như tỷ lệ người tham gia lao động ở Ấn Độ sau khi nước này có những thay đổi đột phá trong việc thực hiện chính sách thị trường hóa theo chủ nghĩa tự do mới.

GS. Tạ Địa (Đại học Liêu Ninh, Trung Quốc) cho rằng, Trung Quốc đang trong quá trình “ổn định tăng trưởng, điều chỉnh kết cấu, chuyển hóa phương thức, thúc đẩy cải cách”, vì vậy cần phát huy một cách có hiệu quả chức năng điều tiết và giám sát kinh tế của chính phủ. Trong giai đoạn hiện nay, để phát huy hiệu quả những chức năng kinh tế của mình, chính phủ Trung Quốc phải đối mặt với những lựa chọn trên nhiều phương diện, như định hướng trong phát triển kinh tế và dịch vụ công, điều tiết vĩ mô trong điều chỉnh kết cấu kinh tế và tổng sản lượng kinh tế, quản lý cung - cầu, điều tiết kinh tế vĩ mô và giám sát kinh tế vi mô, kinh tế quốc doanh và kinh tế ngoài quốc doanh, mục tiêu xây dựng văn minh sinh thái và mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở các vùng khó khăn, lạc hậu, v.v.. Ông cho rằng, vai trò của chính phủ Trung Quốc chỉ được phát huy triệt để khi giải quyết những vấn đề nêu trên theo hướng xử lý các vấn đề tăng cường quyền lực cũng như vấn đề “tiếm quyền”,  tức là đòi hỏi chính phủ Trung Quốc phải áp dụng phương pháp tăng giảm quyền lực một cách hợp lý.

5. Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản và sự phát triển của chủ nghĩa xã hội

Về vấn đề này, GS. Patrick Bond (Đại học KwaZulu Natal, Nam Phi) đã tập trung phân tích quá trình đối tượng “quản lý quyền lợi” thông qua lĩnh vực tài chính đã đẩy các cuộc khủng hoảng kinh tế sang thế giới thứ ba như thế nào. So với cuộc khủng hoảng trong những năm 30, các cuộc khủng hoảng lần này sở dĩ không dẫn đến những cuộc bạo loạn lật đổ chế độ ở các quốc gia này là do những áp lực kinh tế mạnh mẽ từ bên ngoài tác động vào thực tiễn của các xã hội đó. Nhưng lần này, chúng khiến cho tình trạng phân hóa giàu nghèo trên khắp thế giới ngày càng lan rộng, lĩnh vực kinh tế thị trường và phi thị trường cũng như giới tự nhiên đều phát triển theo chiều hướng gây bất lợi cho con người. Những cuộc vận động xã hội xuất phát từ các tầng lớp bên dưới có thể làm thay đổi mối quan hệ trong các xã hội dân sự, các quốc gia cũng như giữa các chuyên gia tài chính, tạo điều kiện đẩy nhanh hơn nữa việc cải cách thể chế tài chính.

Ba học giả người Đức là Richard Corell, Ernst Herzog, Stephan Müller đều cho rằng, khủng hoảng kinh tế châu Âu thể hiện rõ nhất qua sự bất ổn của đồng tiền chung. Sự bất ổn đó thể hiện càng rõ rệt hơn khi vấn đề nợ công vượt quá phạm vi khống chế của một quốc gia thành viên. Đằng sau sự bất ổn tài chính của châu Âu là sự không thống nhất trong việc định giá sản phẩm. Điều này dẫn đến sự mất cân bằng trong cạnh tranh giữa các quốc gia. Một mặt, đồng tiền chung châu Âu ngăn cản sự trượt giá của các đồng nội tệ trong khối; mặt khác, từ thời kỳ chính quyền Gerhard Schröder, chính phủ Đức áp dụng chính sách thắt chặt tài chính, thông qua việc bổ nhiệm các chức vụ trong chính phủ để lôi kéo đội ngũ lãnh đạo Công đoàn, khiến cho chính đảng của phe cánh tả xa rời mục tiêu, đồng thời làm suy yếu lực lượng Công đoàn, khiến cho chi phí lao động bị cắt giảm nhiều so với đối thủ cạnh tranh ở châu Âu và Mỹ. Như vậy, Đức dựa vào giá thành lao động để đẩy mạnh xuất khẩu và giảm thiểu nhập khẩu. Điều này đã đẩy nhanh quá trình mất cân bằng mậu dịch giữa các quốc gia trong khối. Nếu Đức tiếp tục thực hiện chính sách này, đồng thời liên kết với Pháp nhằm chèn ép các quốc gia yếu thế hơn thì sẽ dẫn đến sự suy giảm mức sống của người dân Đức nói riêng và các quốc gia châu Âu nói chung, đồng thời, khiến cho họ mất niềm tin về các vấn đề như tăng trưởng, công bằng xã hội hay thậm chí là vấn đề tự do phát triển.

GS. Nobuharu Yokokawa (Đại học Musashi, Nhật Bản) xuất phát từ góc độ kinh tế chính trị Mác - Lênin, thông qua việc khảo sát sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trên khắp thế giới từ sau những năm 1980 của thế kỷ trước để tổng hợp ưu thế so sánh động và giả định về tính bất ổn trong lĩnh vực tài chính. Ông cho rằng, những năm 1970, hệ thống tư bản chủ nghĩa trên thế giới đã rơi vào cuộc khủng hoảng cơ cấu và do vậy cơ chế cốt lõi mới của tích lũy tư bản đã dịch chuyển về châu Á. Tuy nhiên, vào những năm 1990, thông qua quá trình tài chính hóa và toàn cầu hóa, Mỹ đã khống chế được nền kinh tế thế giới và đồng thời khôi phục lại ưu thế tương đối chủ động. Lúc đó, cuộc khủng hoảng cơ cấu tại châu Á đã khiến cho trung tâm tích lũy tư bản chuyển từ Nhật Bản và các nước mới nổi về tay Trung Quốc. Điều này càng làm trầm trọng thêm sự mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế và khiến khủng hoảng thể chế kinh tế mang tính toàn cầu bắt đầu từ năm 2007 trở thành cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống.

GS. R.V.Ramana Murthy (Đại học Hyderabad, Ấn Độ) cho rằng, ở Ấn Độ, khi chủ nghĩa tư bản áp dụng những chính sách phát triển của chủ nghĩa tự do mới, đã đưa nền kinh tế phát triển nhanh chóng và thu hút được một lượng lớn vốn tư bản trên khắp thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh đó, nó cũng làm nảy sinh một vấn đề nan giải đó là khiến cho một lượng lớn người lao động tập trung chủ yếu trong những tổ chức nông nghiệp nhỏ hoặc sản xuất theo kiểu manh mún, nhỏ lẻ. Những người lao động này hầu hết đều là những người nghèo và không được tổ chức. Chính việc chuyển đổi cơ cấu công nghiệp đã dẫn đến tỷ lệ nông dân tự sát ngày một tăng cao. Ông cũng khẳng định, sự khó khăn của những người sản xuất nhỏ có liên quan trực tiếp đến khủng hoảng trong sản xuất ở Ấn Độ.

GS. Radhika Desai (Đại học Manitoba, Canada) cho rằng, trong gần 20 năm qua, chủ nghĩa tư bản đã có những bước phát triển mang tính kế thừa và mở rộng hơn so với thời kỳ hoàng kim những năm 50 - 60 của thế kỷ XX. Theo ông, xoay quanh vấn đề này đã có nhiều lý giải khác nhau, trong đó cách lý giải của trường phái điều tiết (regulation school) về chủ nghĩa Ford (Fordism) có tầm ảnh hưởng lớn hơn cả. Trên cơ sở lý thuyết của GS. Robert Brenner - một chuyên gia nghiên cứu lịch sử kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác, đứng từ góc nhìn địa - chính trị của trường phái điều tiết, GS. Radhika tiến hành phê phán chủ nghĩa Ford. GS. Manuel Couret Branco (Đại học Évora, Bồ Đào Nha) cho rằng, căn cứ theo lý luận của Adam Smith, có thể nói, kinh tế học về cơ bản là một phương thức dùng để đạt được mục đích, và kinh tế học chưa bao giờ xem tự do hay cái mà chúng ta gọi là dân chủ thực chất là mục đích của mình. Tự do đứng từ góc độ thuần túy không thể là mục đích của một chế độ kinh tế đặc thù. Theo ông, tư tưởng kinh tế chủ đạo là yếu tố làm xói mòn dân chủ. Nếu kinh tế học muốn thúc đẩy dân chủ phát triển thực sự thì phải có được những phương án nhằm thay thế cho tư tưởng kinh tế chủ đạo. Ngoài ra, dù có được thay thế bởi hệ thống chủ nghĩa tư bản nào đi chăng nữa thì chúng ta đều phải tính đến vai trò của dân chủ với mục đích mang lại cái gọi là dân chủ thực sự chứ không phải là dân chủ của giai cấp tư sản.

GS. Terrence McDonough (Đại học công lập Ireland) chỉ ra rằng, trước những năm 80 của thế kỷ trước, lý thuyết cơ cấu xã hội tích lũy (SSA) chủ yếu dùng để phân tích trong phạm vi một quốc gia nhất định. Tuy nhiên, cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa tự do mới trên phạm vi toàn cầu, lý thuyết này cũng có sự thay đổi. Đặc trưng chủ yếu của lý thuyết cơ cấu xã hội tích lũy trong chủ nghĩa tự do mới là sự đoàn kết của giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giới. Sự đoàn kết này xuất hiện do nhu cầu đẩy mạnh sản xuất của giai cấp tư sản ở các quốc gia khác nhau, đồng thời, chính sự liên kết này cũng trở thành nguyên nhân dẫn đến sự lớn mạnh của giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Trong nghiên cứu của mình, Terrence dùng lý thuyết cơ cấu xã hội tích lũy để phân tích khủng hoảng kinh tế của Ireland. GS. Hiroshi Setooka (Đại học Komazawa, Nhật Bản) khẳng định, cuộc đại khủng hoảng kinh tế hiện nay không chỉ là kết quả của tình trạng dư thừa sản phẩm và chi tiêu dịch vụ, mà còn là hệ quả của những trò chơi tài chính và thế chấp trái phiếu, hay một số lượng nhỏ tư bản đầu tư qua lại. Hiện nay, chúng ta đang lợi dụng quá trình toàn cầu hóa như một biện pháp ngắn hạn để né tránh những cuộc đại suy thoái trước mắt.

GS. Pritam Singh (Học viện phương Đông, Đại học Oxford, Mỹ) cho rằng, chủ nghĩa tư bản luôn thể hiện sự phát triển không đồng đều giữa các yếu tố cấu thành như giai cấp, khu vực, giới tính,v.v.. Sự mất cân bằng trong phát triển này không phải là yếu tố duy nhất đưa lại cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, nhưng nó góp phần làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng trong xã hội.  Sự trỗi dậy của các nước có nền kinh tế mới nổi và sự suy giảm vai trò chủ đạo về kinh tế là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản toàn cầu trong vài thập niên trở lại đây. Do sự chuyển dịch về không gian của chủ nghĩa tư bản mà khiến cho những thay đổi trong phát triển của bản thân chủ nghĩa tư bản không còn như trước nữa. Sự phát triển hiện tại mang lại sự phát triển không đồng đều trong bản thân chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Chủ nghĩa tư bản hiện đại không những không thể áp dụng mô hình của khối các nước có nền kinh tế mới nổi mà việc áp dụng lại mô hình phát triển trước đây còn là điều không tưởng. Theo GS. Pritam Singh, con đường duy nhất có thể giải quyết cuộc khủng hoảng hiện tại của chủ nghĩa tư bản chính là con đường phát triển theo hình thái xã hội chủ nghĩa. GS. David Kotz (Đại học Massachusetts, Mỹ), Phó Chủ tịch Hội Kinh tế chính trị thế giới, đưa ra hai mô hình với mục đích cải cách chủ nghĩa tư bản nhằm đối phó với các cuộc khủng hoảng, đó là: Chủ nghĩa tư bản quản chế thương nghiệp và chủ nghĩa tư bản dân chủ xã hội. Theo ông, để thực hiện hai mô hình này, người ta phải trải qua những cuộc vận động xã hội khốc liệt để gây áp lực với giai cấp tư sản trong việc gỡ bỏ hình thức tự do của chủ nghĩa tư bản. Tuy vậy, hai mô hình nêu trên vẫn không thể giải quyết được triệt để những vấn đề căn bản của chủ nghĩa tư bản. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của văn minh nhân loại, những vấn đề tồn tại của chủ nghĩa tư bản sẽ trở thành những mối đe dọa tiềm ẩn đối với xã hội loài người. Ông khẳng định, việc chuyển biến theo mô hình chủ nghĩa xã hội kế hoạch hóa với sự tham gia của yếu tố dân chủ sẽ là chìa khóa để giải quyết cuộc khủng hoảng trong cơ cấu của chủ nghĩa tư bản hiện nay.

Ông Duncan McFarland, nhà hoạt động xã hội Mỹ, cho rằng, trong thế kỷ XX, Đảng Cộng sản các nước Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba đã giành được chính quyền và trở thành chính đảng cầm quyền, trong đó Liên Xô và Trung Quốc đã nhanh chóng tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Những thành quả này là minh chứng hùng hồn về tính chân lý trong lý luận kinh tế chính trị của C.Mác. Chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI vẫn kiên trì những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trên cơ sở bổ sung thêm những yếu tố mới trong xu thế phát triển chung của lịch sử nhân loại. Mặt khác, cũng phải thừa nhận rằng, các nước xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XX gặp phải rất nhiều vấn đề về phát triển kinh tế. Những thất bại, sai lầm trong chính sách phát triển đã cho thấy rằng, không thể tiến hành một cách nóng vội và mang tính áp đặt đối với bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội mà không trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài. Theo ông, mối quan hệ biện chứng giữa lãnh đạo chính trị và phát triển kinh tế có vai trò vô cùng quan trọng. Ông đánh giá mô hình của Liên Xô với sự tập trung cao độ và phát triển kinh tế nhưng năng suất lao động thấp cộng với sự quan liêu trong đường lối chỉ đạo nhất định không thể tồn tại lâu dài được. Trên cơ sở mô hình của Liên Xô và tình hình phát triển ở mỗi quốc gia, Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba đã tiếp thu và có những cải biến lớn. Trung Quốc và Việt Nam đã tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phù hợp, mang những đặc điểm của cả chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội. Bởi vậy, ông khuyến nghị những người theo chủ nghĩa Mác ở Mỹ nên có thái độ cởi mở hơn đối với vấn đề kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và định hướng phát triển cộng sản chủ nghĩa. Ông quan niệm, để miêu tả xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XXI, chúng ta có thể dùng những đặc điểm kinh tế của mô hình Liên Xô, đồng thời bổ sung thêm những đặc điểm như dân chủ, nhân văn và sáng tạo của thế giới hiện đại.

Học giả người Áo Hermann Dworczak chứng minh rằng, những cải cách nhỏ trong hệ thống chủ nghĩa tự do mới không thể đem lại sự tăng trưởng lâu bền cũng như công bằng xã hội. Tình trạng trì trệ trong phát triển của các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai một cuộc vận động cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, chủ nghĩa Mác cần phải được đưa lên hàng đầu. Đứng trước cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản hiện nay, phe cánh tả các nước đã đưa ra rất nhiều cách thức đối phó với khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản như xóa bỏ áp bức đối với công nhân, thực hiện xã hội hóa doanh nghiệp và ngân hàng, giảm giờ lao động, v.v..

GS. David S.Pena (Học viện bang Palm Beach, Mỹ) dùng khái niệm “phát triển kế thừa” làm nền tảng lý luận để thực hiện cuộc chuyển hóa từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội kế thừa. Theo ông, chủ nghĩa xã hội kế thừa phù hợp với nhiều quốc gia. Ông cho rằng,  để hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội kế thừa phải dựa trên sự kết hợp hài hòa của 7 yếu tố sau: 1. Có một hệ thống kinh tế ổn định, có tính kế thừa và phát triển; 2. Có một thể chế chính trị dân chủ tập trung, tích cực và kiên định; 3. Có một quốc gia xã hội chủ nghĩa lớn mạnh, thống nhất, chủ quyền và hoàn thiện; 4. Có một nền văn hóa xã hội chủ nghĩa tiến bộ; 5. Có chính sách quản lý tài nguyên hợp lý; 6. Nội bộ quốc gia hài hòa, đoàn kết; 7. Giữ vững được vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền. Một Đảng Cộng sản lớn mạnh thông qua chuyên chính dân chủ nhân dân mới có thể thực hiện được sự phát triển có tính kế thừa.

Bên cạnh những vấn đề nêu trên, các học giả tham dự Diễn đàn cũng đã tiến hành thảo luận về những chủ đề khác có liên quan như, “phát triển kinh tế và dân chủ”, “chế độ phúc lợi và công bằng xã hội”, “vấn đề sử dụng đất đai và công bằng xã hội”, “tư bản và lý luận tiền tệ”, “chủ nghĩa Mác và vấn đề nông nghiệp”, “biến đổi khí hậu và phát triển có tính kế thừa”, v.v..

Trong phiên họp cuối cùng, GS. Trình Ân Phú có bài phát biểu bế mạc. PGS, TS. Phạm Văn Đức - Phó Chủ tịch Hội Kinh tế chính trị thế giới thay mặt Hội Kinh tế chính trị thế giới đưa ra tuyên bố chung của Diễn đàn lần thứ IX. Tuyên bố chỉ ra rằng, tăng trưởng kinh tế lấy mục tiêu là tăng trưởng kinh tế đơn thuần, tập trung vào yếu tố GDP là kiểu tăng trưởng cổ điển. Sự tăng trưởng này, về cơ bản, chú trọng vào các công cụ lý tính mà bỏ quên các yếu tố nhân văn. Theo quan điểm phát triển khoa học mới trong lý luận phát triển kinh tế của chủ nghĩa Mác, phát triển cần phải lấy người dân và đời sống người dân làm gốc, phát triển phải quay về phục vụ nhân dân. Điều này cho thấy, mục đích của phát triển kinh tế phải luôn gắn liền với sự phát triển toàn diện và lấy việc cải thiện đời sống của nhân dân làm trung tâm để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trên khắp thế giới. Lý thuyết phát triển mới cũng phải nhấn mạnh đến tính công bằng trong phân phối các sản phẩm xã hội trong quá trình phát triển kinh tế. Bởi vậy, ngoài việc nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế thông qua GDP, các quốc gia cũng cần xem trọng hơn nữa những biến đổi trong phương thức và kết cấu của tăng trưởng kinh tế, thực hiện phát triển một cách công bằng.

Cuối cùng, thay mặt Đoàn chủ tịch, Tổng thư ký Đinh Hiểu Khâm thông báo Diễn đàn lần thứ X của Hội Kinh tế chính trị thế giới sẽ được tổ chức tại Nam Phi vào tháng 6 - 2015. 

Người dịch: TS. NGUYỄN NGỌC TOÀN

(Viện Triết học,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)

                 

 

(*) Tiến sĩ, Tổng thư ký Hội Kinh tế chính trị thế giới, Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Đại học Kinh tế tài chính Thượng Hải, Trung Quốc.

(**) Nghiên cứu sinh, Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Đại học Kinh tế tài chính Thượng Hải, Trung Quốc.

 

Đã xem: 1213
Thời gian đăng: Thứ bảy - 03/01/2015 15:54
Người đăng: QLKH&HTQT


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất