QC Shop

Nghiên cứu Triết học

Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn - Những bài học kinh nghiệm chủ yếu

Nguyễn Ngọc Toàn

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 4 (155), tháng 4 - 2004

Tập thể tác giả. Chủ biên: GS, TS. Lê Hữu Tầng

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, 327 tr.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Trong những năm qua, lý luận về chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào những thành công bước đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Để tiếp tục phát triển, khắc phục những hạn chế, yếu kém của mình, thực tiễn đất nước đang đòi hỏi chúng ta phải tiến hành tổng kết những kết quả đã đạt được, nêu lên những hạn chế còn tồn tại để từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm làm tiền đề định hướng cho sự phát triển trong tương lai. Sự ra đời của cuốn sách Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn - Những bài học kinh nghiệm chủ yếu mà tiền thân của nó là đề tài khoa học xã hội cấp nhà nước mang mã số KHXH-01-08, do GS,TS. Lê Hữu Tầng làm chủ nhiệm, đã phần nào đáp ứng được yêu cầu cấp bách đó. Cuốn sách là một công trình nghiên cứu công phu, trong hơn 5 năm của tập thể các nhà khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận ở nước ta hiện nay.

Lâu nay, xét về phương diện lý luận, con đường từ lý luận đến thực tiễn còn ít được chú ý đến, có chăng mới chỉ dừng lại ở vấn đề tính chân lý của lý luận lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn mà chưa xem xét kỹ dưới góc độ lý luận được vận dụng vào thực tiễn như thế nào. Bên cạnh đó, trong quan niệm của nhiều người, sự hiện thực hóa lý luận thường được hiểu là quá trình lý luận dần dần được hình thành theo đúng những gì mà nó đã được xây dựng, lý luận như thế nào thì hiện thực phải như thế ấy. Điều này tất yếu dẫn đến một kiểu nhận thức cho rằng, khi hiện thực sụp đổ thì nguyên nhân là do lý luận sai lầm. Bác bỏ kiểu nhận thức này, đồng thời đưa ra sơ đồ hiện thực hóa lý luận liên kết mang tính chất tổng quát, thể hiện con đường biện chứng trong việc hiện thực hóa lý luận trong thực tiễn, trong phần mở đầu của cuốn sách, các tác giả cho rằng, “sự thực mối quan hệ giữa lý luận và hiện thực nảy sinh do kết quả áp dụng lý luận ấy vào hoạt động thực tiễn không đơn giản như thế. Hiện thực này không phải là phiên bản của lý luận. Giữa chúng bao giờ cũng có một khoảng cách do quá trình vận dụng lý luận vào từng hoàn cảnh cụ thể tạo nên” (tr. 13 - 14). Bên cạnh đó, lý luận được hiện thực hóa phải trải qua rất nhiều khâu trung gian, trong mỗi khâu như vậy đòi hỏi phải có sự tham gia, đóng góp của yếu tố cá nhân, của “sự sáng tạo của người hiện thực hóa lý luận”, sự sáng tạo ấy chính là sự bổ sung vào lý luận, làm cho lý luận ngày càng được cụ thể hơn, phù hợp hơn với từng hoàn cảnh cụ thể.

Trong phần thứ nhất - Chủ nghĩa xã hội với tính cách là lý luận, các tác giả đề cập đến những quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen về chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự phát triển, bổ sung trong quá trình hiện thực hóa những lý luận đó vào thực tiễn nước Nga của V.I.Lênin. Tuy không đi sâu vào nội dung lý luận về chủ nghĩa xã hội vì những nội dung này đã được nghiên cứu và trình bày trong rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội thời gian vừa qua, nhưng việc đề cập đến những nội dung lý luận Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, theo các tác giả, là nhằm nêu ra những nhận xét và đưa ra một số vấn đề cần được chúng ta nghiên cứu, xem xét lại một cách sâu sắc hơn. Đó là: Thứ nhất, sau khi phân tích và luận chứng tính thay thế tất yếu của chủ nghĩa cộng sản đối với chủ nghĩa tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu ra những đặc trưng cơ bản của xã hội tương lai ấy. Tuy nhiên, những đặc trưng đó, theo các tác giả, không phải là cái dứt khoát sẽ xảy ra, chúng chỉ tồn tại với tư cách là những tiên đoán, những khả năng về các sự biến trong tương lai chứ không phải là kết quả nghiên cứu được rút ra trên cơ sở phân tích chính các sự kiện của xã hội tương lai. Còn việc những đặc trưng đó có trở thành hiện thực hay không là tùy thuộc vào hoàn cảnh, vào điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội của từng quốc gia, từng khu vực. Rằng, “các tác gia kinh điển không hề đề ra một con đường cụ thể, bất di bất dịch để xây dựng chủ nghĩa xã hội mà mọi người nhất nhất phải tuân theo ở mọi nơi, mọi lúc”, đó là điều cần được đặc biệt lưu ý trong quá trình vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào xây dựng chủ nghĩa xã hội trong từng hoàn cảnh cụ thể. (tr 43). Thứ hai, để xác định chủ nghĩa xã hội với tính cách là lý luận của chính các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, các tác giả cho rằng, cần phải quay trở lại những quan điểm gốc của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin do chính các ông đề xuất và trình bày.

Sau khi đề cập đến nội dung của lý luận Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, các tác giả đã dành toàn bộ phần thứ hai - Thực tiễn hiện thực hóa lý luận Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội để trình bày thực tiễn hiện thực hóa lý luận ấy trong gần một thế kỷ qua ở Liên Xô và Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam. Các tác giả không đi sâu vào chi tiết mà chỉ trình bày một cách vắn tắt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các khu vực, các nước nói trên với các tư liệu ở mức độ cần thiết để làm cơ sở so sánh với chính quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và qua đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết mà các tác giả trình bày trong phần thứ ba của cuốn sách.

Đóng góp lớn nhất, đồng thời cũng là sự khác biệt giữa cuốn sách với một số công trình nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội gần đây là dựa trên cơ sở phân tích những nguyên nhân thành công, những hạn chế và cả những thất bại trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hơn 80 năm qua trên thế giới, các tác giả đã đưa ra một số bài học kinh nghiệm chủ yếu, được tổng hợp và trình bày trong phần ba của cuốn sách với 13 chương. Bắt đầu với bài học về xác định mục tiêu, các tác giả cho rằng, nếu xuất phát từ chỗ coi chủ nghĩa xã hội là một xã hội cao hơn, tốt đẹp hơn xã hội tư bản chủ nghĩa thì trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phải làm sao xây dựng được một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đồng thời phải coi những biện pháp, phương thức hoạt động để đi đến đồng thời hoặc dần dần cả hai đặc trưng - dân giàu, nước mạnhxã hội công bằng, dân chủ, văn minh - đều là đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa (tr. 176 - 179). Để đạt được mục tiêu nêu trên, theo các tác giả, chúng ta cần quay trở lại với những nội dung lý luận về chủ nghĩa xã hội của chính C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lấy đó làm cơ sở khoa học để hoạch định con đường phát triển. Phải xem xét hệ thống những quan điểm ấy trong sự thống nhất, sự phát triển và khi vận dụng chúng, phải đặc biệt chú ý đến hoàn cảnh, điều kiện lịch sử - cụ thể, tránh giáo điều, dập khuôn máy móc trong hoạt động thực tiễn. Bên cạnh đó, cũng cần phải phân biệt rõ quan điểm chính thống của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin với những quan điểm được phát triển, bổ sung của những người đi sau để có được những đánh giá, những nhận xét đúng đắn về lý luận Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, giúp ích cho việc hiện thực hóa lý luận đó vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia (tr. 181 - 193).

Từ việc xác định mục tiêu, nắm vững lý luận, một điều đặc biệt quan trọng cần lưu ý trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo các tác giả, là phải xuất phát từ thực tế xã hội, xuất phát từ việc phân tích những tài liệu có được qua điều tra, khảo sát, qua hoạt động thực tiễn để đề ra những chính sách, những chủ trương phù hợp với hiện thực xã hội. Đi liền với nó, phải lấy tiêu chuẩn thực tiễn làm căn cứ cho sự kiểm nghiệm chân lý, nghĩa là trong hoạt động thực tiễn, phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá tính đúng đắn của các đường lối, chủ trương, chính sách đang thực hiện, từ đấy mà có những quyết định bổ sung hoặc thay đổi cho phù hợp với từng hoàn cảnh, từng giai đoạn nhất định trong tiến trình phát triển của xã hội. Trong hoạt động thực tiễn, cần phải hết sức mềm dẻo, linh hoạt, biết tính đến những điều kiện khách quan đã thay đổi mà nhanh chóng thay đổi sách lược, chọn một con đường khác để đi tới đích, nếu như con đường cũ xem ra không còn thích hợp nữa (tr. 223).

Bên cạnh những bài học cơ bản nêu trên, các tác giả còn nêu lên một số bài học quan trọng khác, như bài học về vai trò của tăng trưởng kinh tế; bài học về thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội; bài học về dân chủ hóa đời sống xã hội; bài học về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế; bài học về sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, v.v.. Đây là tập hợp những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu và không những thế, với hiện thực xã hội Việt Nam hiện nay, đây còn là những vấn đề mang tính thời sự sâu sắc, những vấn đề cần phải được tiếp tục giải quyết một cách triệt để.

Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một quá trình lâu dài, đầy khó khăn, gian khổ, đòi hỏi phải có sự nỗ lực, cố gắng của mọi tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội, đặc biệt là các nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực lý luận và những nhà hoạt động thực tiễn. Hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu bổ ích cho hoạt động thực tiễn và hoạt động xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội mà hiện đang trở thành vấn đề cấp bách trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.

 

Đã xem: 3984
Thời gian đăng: Thứ năm - 04/06/2015 04:32
Người đăng: Phạm Quang Duy


Từ khóa:

tập thể, trị quốc

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Bài mới nhất