QC Shop

Bàn về nhà nước - Chủ thể quản lý văn hóa trong phát triển hiện nay

Nguyễn Thu Linh

Nguồn: Triết học, số 3 (130), tháng 3 - 2002

Cố đô Huế (Nguồn: Internet)

Cố đô Huế (Nguồn: Internet)

Trải qua những thành công và thất bại trong những thập kỷ qua của nhiều quốc gia trong phát triển thế giới đã nhìn ra: vai trò ngày càng tăng lên của văn hoá, của nhân tố con người trong phát triển hiện đại. Nước nào có nền văn hoá cao sẽ có nhiều cơ may trong thành công để phát triển và năng lực của bộ máy lãnh đạo quốc gia được xem là điều kiện hàng đầu bảo đảm cho thành công trong phát triển của một đất nước. Bài viết này muốn góp phần làm rõ vai trò và cách thức Nhà nước với tư cách chủ thể quản lý tác động vào khách thể văn hoá trong phát triển hiện nay. Đây cũng là một vấn đề đáng được nêu ra để trao đổi. Đối với quản lý kinh tế, Lênin đã nhận xét: “Để quản lý phải có sự hiểu biết hoàn toàn và chính xác điều kiện của nền sản xuất, cần phải biết kỹ thuật của nền sản xuất này ở trình độ hiện đại của nó ... Cũng không kém phần quan trọng như vậy trong quá trình lãnh đạo và quản lý văn hoá với những đặc thù của nó, đặc biệt đối với nghệ thuật, chỉ trong trường hợp khi mà quan điểm chính trị hoà nhập với sự hiểu biết đặc thù của các hiện tượng văn hoá tinh thần lúc đó mới có thể khắc phục  được sự xã hội học dung tục trong hoạt động lãnh đạo, quản lý văn hoá ”(1).

Ngày nay, để đảm bảo cho sự phát triển được bền lâu, hầu như các Nhà nước khi hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đều phải tính dến văn hoá- như một nhân tố nội tại, như một chỉ báo về chất lượng sống trong các lĩnh vực. Cũng vậy, việc thế giới chỉ sử dụng chỉ số phát triển con người (HDI) để đánh giá phát triển là cả một cuộc cách mạng trong tư tưởng. Bởi một thời gian dài trong điều hành đất nước do nhấn mạnh tính quyết định của kinh tế, đồng nhất phát triển với tăng trưởng kinh tế, quen đánh giá phát triển chỉ bằng tiêu chí mang nặng tính sản xuất như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP).

Ở Việt Nam, để tiếp tục sự nghiệp đổi mới, Nghị quyết đại hội Đảng IX đặt vấn đề: “Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân”(2). Đòi hỏi này là phù hợp với luận điểm Macxit về xây dựng nền văn hoá mới trong xã hội xã hội chủ nghĩa, có vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến bộ văn hoá. V.I.Lênin xem việc giải quyết những nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá mới là điều kiện cần thiết để hình thành lối sống XHCN, phát triển sức sáng tạo lịch sử của người lao động trong việc tạo ra nền kinh tế mới và những quan hệ xã hội mới, làm cho mọi tầng lớp nhân dân tiếp xúc với sự quản lý mọi công việc xã hội. Người cũng cho rằng: “Đảng không thể bó tay để cho quá trình văn hoá phát triển đến đâu thì đến. Đảng phải có kế hoạch chỉ đạo quá trình ấy và tổ chức kỷ luật cho nó” (3).

Điều hành quá trình văn hoá có hiệu quả, sự tác động của Nhà nước- chủ thể QLNN trước hết đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm nội tại của khách thể văn hoá như là một căn cứ khoa học. Sự phát triển xã hội bao giờ cũng là sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan.

Trở lại với một khái niệm vốn có xuất phát ban đầu từ chữ Latinh: Colere, có nghĩa là cày cấy, vun trồng gắn với hoạt động nông nghiệp cổ xưa. Sau này cùng với sự phát triển xã hội, khái niệm văn hoá mở rộng phát triển thành ý nghĩa vun trồng, bồi đắp hoạt động tinh thần của con người. Như vậy, để trở thành văn hoá trước hết phải được vun trồng, được rèn luyện. Nội dung làm cho con người phát triển gắn chặt với sự sáng tạo, đó là bản chất của văn hoá. Làm chủ văn hoá một cách chân chính là phải biết vận dụng hiểu biết của mình vào hoạt động thực tiễn xã hội. Chính từ đặc điểm này của văn hoá cho thấy nếu Nhà nước muốn có nhân tài, muốn có những đỉnh cao văn hoá tiêu biểu cho dân tộc thì phải vun trồng bằng chính sách văn hoá. Chính sách văn hoá là sự vun trồng, sự cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển văn hoá của Nhà nước. Trong các hoạt động can thiệp mang tính vĩ mô của Nhà nước đối với văn hoá, thì chính sách văn hoá đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Chính sách văn hoá là tổng thể các nguyên tắc hoạt động, các cách làm mang tính thực hành được Nhà nước sử dụng để hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá.

Các thành tố cấu thành văn hoá cho thấy văn hoá thẩm thấu trong mọi mặt của đời sống xã hội. Do đó, việc xây dựng nền văn hoá của một đất nước rõ ràng không thể là nhiệm vụ chỉ của một Bộ, Ngành mang tên văn hoá. Cũng vậy, nói đầu tư cho văn hoá là đầu tư để xây dựng con người nhưng không thể quy lại đầu tư cho hoạt động của Bộ, Ngành mang tên văn hoá tức là đầu tư cho xây dựng con người. Đặc điểm này của văn hoá dòi hỏi cùng với việc ban hành những chính sách dành riêng cho văn hoá cần có sự lồng ghép quan điểm văn hoá trong các chính sách, nói chung cũng như trong các chương trình, dự án phát triển kinh tế- xã hội của Nhà nước. Sự quán triệt quan điểm văn hoá của Nhà nước thể hiện trong việc giải quyết tốt vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng của đời sống xã hội: Giáo dục, thông tin, chăm sóc sức khoẻ, phúc lợi công cộng, phát huy các giá trị truyên thống... Mặc dù, việc thuyết phục các nhà quản lý kinh tế lồng ghép mục tiêu văn hoá trong các hoạt động kinh tế là việc làm không dễ. Song khi thắng lợi trong cạnh tranh ngày nay là phải bằng trí tuệ tài năng thì việc tạo dựng một khung cảnh văn hoá- xã hội thuận lợi cho phát triển của mỗi quốc gia thực sự là trách nhiệm to lớn của các Nhà nước trên thế giới hiện nay. Ở nước ta, công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đang đòi hỏi đưa văn hoá vào mọi lĩnh vực để huy động cao nhất nhân tố con người- tiềm năng của đất nước và điều kiện của thời đại- nhằm tạo chuyển biến vững chắc cho phát triển. Đạo đức, lối sống, nghệ thuật, sinh thái, sự an toàn và phát triển đầy đủ năng lực... là những nhu cầu không thể hiện bằng tiền nhưng trong bối cảnh mở cửa ra thế giới, đòi hỏi Nhà nước ta phải tạo dựng và khuyến khích các nhu cầu này như một nền tảng tinh thần cho phát triển bền vững của quốc gia.

Văn hoá gắn với cá nhân. Văn hoá xã hội có phong phú, lấp lánh được hay không là nhờ vào văn hoá cá nhân. Văn hoá cũng gắn với sắc cộng đồng của mỗi địa phương. Nó là câu trả lời, cách thức giải quyết các thách đố gắn với điều kiện sống của từng địa phương. Đặc điểm này quy định việc không thể Nhà nước hoá văn hoá, cũng như không thể tập trung hoá văn hoá. Nhà nước  không thể đưa ra các khuôn mẫu văn hoá buộc người dân phải tuân theo. Chẳng hạn quy định không được để tóc dài, mặc quần loe. Ai không tuân theo sẽ dùng biện pháp hành chính cưỡng chế: rạch quần, cắt tóc như thời bao cấp trước đây. Cũng vâỵ, không thể cho một vùng văn hoá nào đó thành kiểu mẫu để các vùng văn hoá khác phải tuân theo. Để sự tác động của Nhà nước xuất phát từ lợi ích dân tộc, không chỉ thuần tuý phục vụ nhiệm vụ chính trị, chính sách văn hoá phải dựa trên mẫu số chung là sự tự quản, sự xã hội hoá các hoạt động văn hoá. Nói cách khác, Nhà nước chỉ làm những gì dân không làm được. Hơn nữa, ngày nay trong bối cảnh chịu tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu, của những thành tựu về công nghệ thông tin thì những ảnh hưởng trước đây vốn từ bên trong, theo quan hệ chiều dọc từ trên xuống là chính, vốn rất “thuận lợi” cho sự quản lý thì nay sẽ chịu những tác động to lớn từ bên ngoài vào, theo các quan hệ chiều ngang, trực tiếp ảnh hưởng tới từng cá nhân. Bối cảnh này lại càng đòi hỏi phải chú trọng tới mẫu số chung của chính sách văn hoá. Nghĩa là chính sách văn hoá cần tới sự tăng cường hợp tác với các cơ quan  công quyền ở mọi cấp, đặc biệt là với các chính quyền địa phương, các hội đồng văn hoá, các tổ chức xã hội và tư nhân để vạch kế hoạch hoạt động thực hiện các chương trình, văn hoá. Bằng cách này để phát huy sáng kiến, khát vọng, nhu cầu văn hoá của các tầng lớp nhân dân. Bởi sự  thay đổi tâm lý, diện mạo tinh thần của con người trong xây dựng văn hoá chỉ có thể đạt được trong quá trình tham gia đầy tính chủ động của nhân dân. Chính sách, luật pháp của Nhà nước phải tạo điều kiện phát huy tính tự quản  thông qua việc phát triển các tổ chức xã hội và tư nhân, tổ chức nghề nghiệp. Đồng thời để tăng cường sự hợp tác với các cơ quan công quyền ở mọi cấp, gắn với cải cách hành chính, việc thiết kế tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước nói chung, cũng như bộmáy quản lý Nhà nước về văn hoá nói riêng, cần chú ý phát triển quan hệ công việc theo cả chiều ngang, mà không chỉ giảm bớt tầng nấc về chiều dọc. Thẩm quyền hành chính trong lĩnh vực văn hoá đặc biệt cần được trao nhiều hơn cho chính quyền địa phương. Vì hơn ai hết, họ là những người am hiểu những vấn đề văn hoá của địa phương mình và sẽ sáng tạo những cách thức giải quyết nó phù hợp với nhu cầu, điều kiện của địa phương. Do đó, có thể nói quản lý văn hoá trong giai đoạn hiện nay cần chú trọng tăng cường phân cấp và phát triển các hình thức tự quản văn hoá. Chính quyền địa phương cần được trao trách nhiệm phát triển sự nghiệp văn hoá, bảo vệ tính đa dạng và tính thống nhất của văn hoá Việt Nam.Vừa qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần VIII về cải cách hành chính mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, Chính phủ đã cho phép 2 thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh thử nghiệm cải cách thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực trong đó có việc cấp phép cho các dịch vụ văn hoá. Kết quả thu được từ những thử nghiệm này rất khả quan. Thẩm quyền cấp phép cho các dịch vụ văn hoá khi được chuyển xuống cho cấp Quận, Huyện dã giúp người dân không phải đi nhiều cửa, thời gian được rút gọn. Và khi cấp Quận, Huyện cấp phép cho các dịch vụ văn hoá trên địa bàn mình thì họ cũng giám sát tốt hơn các hoạt động theo giấy phép hành nghề.

Tuy nhiên sự can thiệp, tác động vào văn hoá căn cứ vào các đặc điểm nội tại của bản thân văn hoá chưa đủ. Vì văn hoá mà chúng ta xây dựng trong vận hành lại chịu tác động của cơ chế thị trường. Do đó, trong mối quan hệ văn hoá và kinh tế, nếu chỉ xem xét ảnh hưởng của văn hoá tới phát triển, tới kinh tế chưa đủ mà còn phải cân nhắc ảnh hưởng trở lại của thị trường tới văn hoá như là một căn cứ khoa học cho sự định hướng can thiệp của Nhà nước.

Hoạt động văn hoá vốn rất đa dạng mà sự tác động của cơ chế thị trường tới các hoạt động này cũng không như nhau. Có hoạt động không thích ứng thị trường như Thư viện, bảo tàng, nghiên cứu khoa học cơ bản...  nhưng có một số hoạt động lại thích ứng thị trường một phần như hoạt động của các câu lạc bộ, nhà văn hoá, nhà hát, lại có những hoạt động hoàn toàn sống được và có thu nhập cao nhờ thị trường như biểu diễn nhạc nhẹ, sản xuất kinh doanh băng hình, vũ trường, karaoke... Do đó việc phân loại  các nhóm văn hoá để chọn lựa cách thức, biện pháp để Nhà nước can thiệp là rất cần thiết. Sự phân loại dựa trên một số tiêu chí sau:

Mức độ ảnh hưởng của loại hoạt động văn hoá này tới lợi ích và tiến bộ xã hội như thế nào?

Cần thiết phát triển, mở rộng loại hình văn hoá này tới đâu trong tương quan với các hoạt động khác, xét trong cơ cấu văn hoá.

Mức độ thích ứng của nó với thị trường tới đâu.

Các tiêu chí này phản ánh tính đặc thù và tính phổ biến của hàng hoá văn hoá. Tính đặc thù của hàng hoá văn hoá là lý do giải thích sự cần thiết phải tài trợ cho văn hoá dù dươí danh nghĩa Nhà nước hay các tổ chức kinh tế, xã hội. Buông lỏng quản lý văn hoá, để văn hoá trôi nổi theo quy luật của kinh tế thị trường là tiêu diệt mục tiêu của văn hoá. Muốn quản lý văn hoá có hiệu quả, không thể chỉ định tính sự tác động của thị trường tới văn hoá mà còn nhất thiết phải định lượng tác động như một trong những căn cứ để xác lập chính sách văn hoá.

Xét các hoạt động văn hoá trong quá trình sản xuất, bảo quản, phân phối và tiêu dùng văn hoá cũng thấy sự can thiệp của thị trường cũng không như nhau trong các công đoạn. Trong điều kiện tiến bộ kỹ thuật càng cao thì nguy cơ bị tước đoạt bản quyền sáng tạo cũng rất lớn bởi thị trường can thiệp rất mạnh vào công doạn phân phối. Do đó đối vỡi những hoạt động văn hoá gắn với sở hữu, với anh ninh quốc gia và an toàn xã hội... lại rất cần tới sự bảo hộ bằng pháp luật của Nhà nước.

Để  thể hiện lợi ích của các tầng lớp xã hội, giữ gìn tính đa dạng  và bản sắc văn hoá dân tộc chông lại sự xâm nhập mạnh mẽ của những tác động từ bên ngoài, của lối sống quốc tế, chính sách về đầu tư cho văn hoá trong nền kinh tế hàng hoá, cần huy động sự tham gia của  nhiều thành phần kinh tế. Việc Nhà nước đầu tư bằng ngân sách cho mới chỉ là cách nhìn của Nhà nước về văn hoá, mà dù muốn hay không nó vẫn thiên về lợi ích chính trị của Nhà nước. Để giữ cho ngôi nhà văn hoá với tính nhiều chiều cạnh của nó, chính sách của Nhà nước cần hướng vào sự khuyến khích các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và tư nhân đầu tư cho văn hoá nhằm thúc đẩy văn hoá năng động hơn đáp ứng nhu cầu da dạng của mỗi công chúng đang phân tầng sâu sắc, trong tiến trình kinh tế- xã hội theo tinh thần Nghị quyết đại hội IX là: “Đẩy mạnh xã hội hoá khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, bảo trợ cho văn hoá” (4). Nhà nước cần sử dụng các biện pháp giảm thuế, miễn thuế cho các tổ chức này khi họ có đầu tư cho văn hoá. Tạo khuôn khổ pháp lý để phát triển nhiều hơn nữa quỹ đầu tư cho văn hoá với các thể chế Nhà nước hoặc nửa Nhà nước hoặc hoàn toàn phi Nhà nước.

Các cách nhìn nêu trên, tuyệt nhiên không đối lập văn hoá tinh thần với sản xuất vật chất. Ngược lại, chính trong sự phát triển kỹ thuật- công nghệ và quan hệ kinh tế chúng ta nhận thấy điều kiện cần thiết cho sự tiến bộ của đời sống tinh thần của xã hội.

Ngày nay các đơn vị sản xuất kinh doanh phục vụ các nhu cầu văn hoá muốn tồn tại và phát triển đều phải tuân theo quy luật của thị trường. Phần lớn các sản phẩm văn hoá và dịch vụ văn hoá đều lấy hình thức hàng hoá thông qua thị trường, theo nguyên tắc trao đổi ngang giá mà phục vụ người tiêu dùng văn hoá. Trừ một số ít các đơn vị sự nghiệp văn hoá mang tính công ích xã hội của Nhà nước, (phát thanh, truyền hình, thư viện, bảo tàng...) còn các đơn vị sản xuất kinh doanh văn hoá khác khi xác định phương hướng đầu tư, bố trí sản xuất sản phẩm đều phải căn cứ vào nhu cầu của thị trường, phải chọn các hạng mục và sản phẩm có hiệu quả kinh tế tương đối cao và hiệu qủa xã hội để ưu tiên. Ở đây có thể thấy, quy luật giá trị đã có tác dụng trong phát triển văn hoá và chi phối hoạt động của các đơn vị sản xuất- kinh doanh văn hoá. Vô hình chung, quy luật cạnh tranh trong lĩnh vực văn hoá cũng phát huy tác dụng. Có thể thấy ảnh hưởng của kinh tế hàng hoá có kế hoạch đối với phát triển văn hoá ở các khía cạnh:

Tính chất hàng hoá của các sản phẩm văn hoá.

Cơ chế thị trường và kế hoạch trong phát triển văn hoá

Hiệu quả kinh tế và xã hội trong phát triển văn hoá.

Trong xu thế phát triển của thời đại, cần vận dụng phát huy mặt tích cực nền kinh tế hàng hoá đối với phát triển văn hoá, đồng thời ngăn chặn những tác động tiêu cực của nó, theo nguyên tắc:

Phát huy tác dụng tích cực của quy luật giá trị trong phát triển văn hoá nhưng không thể lấy hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển của văn hoá mà phải đặt nguyên tắc hiệu quả xã hội đứng hàng đầu.

Phát huy tác dụng thúc đẩy của cơ chế thị trường và điều tiết thị trường đối với phát triển văn hoá nhưng không thể hoàn toàn dựa vào điều tiết tự phát của thị trường mà phải xác lập nguyên tắc điều tiết tự phát của thị trường dưới sự chỉ đạo của kế hoạch.

Thực tiễn đang đòi hỏi chúng ta phải khắc phục tình trạng vừa thiên kiến với thị trường văn hoá, vừa buông lỏng quản lý văn hoá. Mặt khác, chúng ta cũng phải chống khuynh hướng “thương mại hoá” văn hoá và cả khuynh hướng “hành chính hoá” các đơn vị sự nghiệp văn hoá. Vì chúng ta mới ra khỏi cơ chế bao cấp chưa lâu. Thể chế để quản lý các tổ chức sự nghiệp như trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu, nhà hát ... không thể dập khuôn với thể chế quản lý các cơ quan hành chính.

Phương hướng, nhiệm vụ của Nghị quyết đại hội Đảng phải được cụ thể hoá thông qua việc xây dựng và thực hiện các mục tiêu định tính và định lượng đối với chính sách văn hoá của Nhà nước.

Mục tiêu định tính thể hiện cách thức hướng tới và sử dụng đối tượng văn hoá để xây dựng một nền văn hoá như thế nào cho đất nước. Mục tiêu định lượng thể hiện sự phát triển các loại hình văn hoá, đến mức nào cho đất nước. Loại mục tiêu này rất thiết yếu cho việc kế hoạch hoá và đầu tư can thiệp của Nhà nước vào phát triển văn hoá.

Các quốc gia khi nói về phương hướng phát triển văn hoá đều nhằm xây dựng một nền văn hoá vì con người, vì tiến bộ, nhân dậo và công bằng xã hội nhưng cách thức, tính chất con đường đi tới ấy khác nhau và sử dụng đối tượng văn hoá ấy như thế nào thì rõ ràng có sự khác nhau. Chẳng hạn nước nào cũng nhấn mạnh xây dựng nền văn hoá thể hiện bản sắc, tâm hồn dân tộc. Song mục tiêu định tính chính sách văn hoá của mỗi nước lại có sự khác nhau giữa các quan điểm trong việc hiện đại hoá văn hoá, trong kế thừa văn hoá dân tộc và giao lưu văn hoá thế giới.

Nói chung, mục tiêu của chính sách văn hoá là khó xác định được rõ ràng như những mục tiêu của chính sách kinh tế, đặc biệt là những mục tiêu định tính của văn hoá. Những mục tiêu của chính sách kinh tế thường được quy vào những mục tiêu dễ xác định hơn như: nhịp độ phát triển đều đặn, mức độ thất nghiệp, cân bằng cán cân thanh toán... Còn các mục tiêu định tính của chính sách văn hoá thường thể hiện ở tính nhân văn hơn và chất lượng hơn. Do đó muốn đưa quan điểm của Đảng vào cuộc sống, phát triển văn hoá luôn phải tranh luận với những vấn đề về chất lượng cuộc sống tinh thần, sự phá huỷ nhân cách, sự bảo tồn văn hoá dân tộc... Đánh giá trình độ tiến bộ văn hoá là cực kỳ khó khăn. Bởi sự tiến bộ này không thể chỉ tính bằng cách diễn đạt số lượng, hiệu quả, năng suất, tỷ lệ tăng trưởng hoặc tổng thu nhập quốc dân. Song với các mục tiêu định lượng là những loại mục tiêu hướng vào sự phát triển của các hoạt động văn hoá thì có thể xác định được. Vì vậy trong quản lý văn hoá cần quan tâm đến loại mục tiêu định lượng  này của chính sách văn hoá. Việc xác lập các loại mục tiêu và hướng ưu tiên các mục tiêu này tuỳ vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và truyền thống văn hoá của từng nước.

Tùy mức độ đậm nhạt, tỷ trọng nặng nhẹ khác nhau trong từng thời điểm song sự định lượng của chính sách văn hoá thường thể hiện ở các loại mục tiêu sau:

Mục tiêu về phát triển các hoạt động sáng tạo văn hoá nhằm tạo chất lượng cao cho các sản phẩm văn hoá.

Mục tiêu về nghiên cứu bảo tồn và phát huy những di sản văn hoá dân tộc.

Mục tiêu về phát triển văn hoá ở cơ sở dân cư, huy động sự tham gia của các tầng lớp xã hội vào các hoạt động sáng tạo và tiêu dùng văn hoá. Đảm bảo công bằng, đâu chỉ trong lĩnh vực văn hoá.

Mục tiêu phát triển xuất- nhập những hoạt động và sản phẩm văn hoá nhằm làm giàu cho văn hoá dân tộc và giới thiệu văn hoá dân tộc với cộng đồng quốc tế.

Mục tiêu về phát triển hệ thống các cơ quan sản suất, bảo quản,phân tích những giá trị văn hoá một cách hợp lý, có hiệu quả.

Mục tiêu về phát triển và đào tạo đội ngũ nghệ sĩ, cán bộ văn hoá đồng bộ, có trình độ cao.

Mục tiêu về đảm bảo ngân sách, điều kiện vật chất và pháp lý cho sự phát triển văn hoá.

Mục tiêu về sự tự quản và phân cấp quản lý văn hoá.

Các mục tiêu này đều có quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau. Muốn phát triển văn hoá ở cơ sở dân cư, muốn giảm bớt khoảng cách ngày càng tăng về văn hoá giữa thành phố với các vùng cao, vùng xa mà không có trí thức về nông thôn, thiếu các thiết chế văn hoá để nâng cao chất lượng của phong trào quần chúng, thiếu các điều kiện pháp lý để thúc đẩy các tổ chức tự quản xã hội phát triển và là cơ sở cho công tác quản lý ... thì cũng không thể thực hiện công bằng và dân chủ văn hoá.

Trong bài báo nổi tiếng “Tổ chức Đảng và văn hoá có tính Đảng” Lênin nhận định: Chỉ khi khẳng định được quyền lực và năng lực lãnh đạo của Đảng, mới khắc phục được tính tự phát của quá trình hình thành văn hoá. Trong điều kiện Việt Nam, vai trò của chính trị và hành chính nhà nước dường như không tách bạch nhau trong nền kinh tế tập trung chỉ huy. Nay chuyển sang nền kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi tách biệt làm rõ vai trò của chính trị và hành chính Nhà nước dường như không tách bạch nhau. Nay trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế hàng hoá theo định hướng XHCN, cần tách biệt làm rõ vai trò của chính trị và vai trò của hành chính Nhà nước.

Để khẳng định quyền lực và năng lực lãnh đạo của Đảng, hành chính Nhà nước phải phục vụ tốt chính trị bằng khoa học và công nghệ tổ chức hành động để đưa các định hướng chính trị vào cuộc sống, phải thực hiện tốt vai trò chủ thể quản lý văn hoá trong phát triển hiện nay.

(1). Lênin toàn tập. NXB Tiến bộ, Maxcơva, 1976. Tập 40, trang 215.

(2). Văn Kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, trang 208.

(3). Lênin toàn tập. “Tổ chức Đảng và văn học có tính Đảng”, NXB Tiến bộ, Maxcơva. Tập 2, trang 121- 128.

(4)Văn Kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, trang 209.

Đã xem: 2518
Thời gian đăng: Thứ hai - 02/02/2015 22:54
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất