QC Shop

Chủ quyền, an ninh quốc gia dưới tác động của toàn cầu hóa kinh tế

Ths. Phan Thanh Long(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 3(154), tháng 3 - 2004

An ninh luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nước, bởi lẽ, đây là vấn đề tồn vong của các chủ thể chính trị cấu thành hệ thống quốc tế. Trong các xã hội khác nhau và ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, quan niệm về an ninh không đồng nhất, mà trái lại, khác nhau về nội dung và bản chất. Quan niệm truyền thống hiểu an ninh gần với chiến tranh (như trong thời kỳ chiến tranh lạnh), hoà bình, độc lập, chủ quyền quốc gia hoặc sự tồn tại của hệ thống chính trị. Trong thời gian gần đây, dưới tác động của toàn cầu hoá, khái niệm an ninh được hiểu một cách tổng thể hơn, bao quát cả những bình diện mang bản chất phi quân sự. Cùng với những thay đổi trong quan niệm về an ninh quốc gia, tư duy chiến lược, bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia cũng đang có sự thay đổi về cơ bản.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

1. Khái niệm an ninh trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, khái niệm an ninh trong quan hệ quốc tế khá đơn giản. An ninh quốc gia thường gắn liền với đối đầu quân sự, vũ lực; thủ đoạn thực hiện an ninh gắn liền với phòng bị an ninh, với việc chống lại sự uy hiếp bằng vũ lực. Quan niệm an ninh quốc tế với cục diện hai cực, hai trận tuyến lớn Đông - Tây do Liên Xô và Mỹ đứng đầu bất đồng nhau về hình thái ý thức, đối lập nhau về bố trí phòng vệ quân sự. Lúc đó, tư tưởng tiêu biểu về chiến lược an ninh là tư tưởng tạo lập cơ chế "an ninh tập thể" dưới hình thức liên minh. Theo tư tưởng chiến lược "an ninh tập thể", một số quốc gia thường dùng phương thức liên kết phòng vệ để bảo vệ an ninh cho bản thân hay cho liên minh giữa các quốc gia thuộc phía mình. Quan niệm về an ninh trong thời kỳ chiến tranh lạnh cho rằng, mối đe doạ từ bên ngoài đối với an ninh quốc gia là lâu dài, theo đó, hàm nghĩa trước nhất của "bảo vệ an ninh" là ngăn chặn sự can thiệp, lật đổ và xâm lược từ bên ngoài. Khái niệm mất an ninh thường để chỉ các mối đe doạ đối với sự sinh tồn của một quốc gia. Như vậy, đặc điểm của quan hệ an ninh quốc tế trong thời kỳ chiến tranh lạnh là tính chất loại trừ lẫn nhau. Do tính chất hạn hẹp của khái niệm an ninh, nên đa phần hiểu quan hệ an ninh là sự cạnh tranh, đối kháng về quân sự hay đối đầu về thực lực giữa các quốc gia; đồng thời, tính tương đối của khái niệm an ninh dẫn đến quan điểm cho rằng chỉ có chiếm lấy tư thế áp đảo đối phương mới có thể tạo cho mình một sự bảo đảm an ninh thực sự.

2. Khái niệm an ninh trong kỷ nguyên mới nhấn mạnh đến an ninh toàn diện thay vì an ninh quân sự duy nhất.

An ninh bao gồm cả an ninh trong nước và an ninh ngoài nước. Phát triển kinh tế quốc gia, bảo đảm sự ổn định và tiến bộ xã hội được coi là những nội dung quan trọng trong việc bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia.

Quan niệm về an ninh toàn diện đã được các nước ASEAN chấp nhận với tư cách quan niệm về an ninh chung cho hiệp hội. An ninh toàn diện. (comperehensive security) là một trong những khái niệm về an ninh được phổ biến rộng rãi nhất ở các nước thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Theo tiến sĩ Hassan, an ninh toàn diện có nghĩa là theo đuổi một nền an ninh bền vững ở tất cả các phương diện (con người, chính trị, kinh tế, xã hội, quân sự, tư tưởng, môi trường) cả bên trong và bên ngoài lãnh thổ. Quan niệm an ninh toàn diện nhấn mạnh tới tầm quan trọng của những phản ứng chính sách có tính phi quân sự.

Ở Inđônêsia, "an ninh toàn diện" được thể hiện qua sức đề kháng dân tộc. Sức đề kháng dân tộc bao gồm sức mạnh về tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự. Sức mạnh tư tưởng là khả năng phản ứng thắng lợi trước tư tưởng thù địch; sức mạnh chính trị dựa trên sự ổn định của đường lối đối nội, đối ngoại tích cực; sức mạnh về văn hoá có nghĩa là duy trì và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; sức mạnh về quân sự là khả năng quốc phòng vừa để phòng vệ, vừa để đánh trả lại những mối đe doạ từ bên ngoài và từ bên trong. Như vậy, trong quan điểm của Inđônêsia, sức đề kháng dân tộc vừa là phương tiện đảm bảo an ninh quốc gia, vừa là mục tiêu để quốc gia này vươn tới. Sức đề kháng dân tộc càng cao thì an ninh quốc gia càng được bảo đảm. Ngược lại, an ninh quốc gia vững chắc sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho sự nghiệp kiến quốc của Inđônêsia. Quan niệm về an ninh toàn diện của Inđônêsia, về bản chất, là nhằm đối phó với các mối đe doạ từ bên trong đối với nền an ninh và sự ổn định của đất nước. Quan điểm này làm giảm nhẹ mối lo sợ của các nước láng giềng, bởi nó tập trung chủ yếu vào phát triển kinh tế và duy trì sự ổn định ở bên trong.

Tương tự như Inđônêsia, quan niệm an ninh toàn diện của Malaysia cũng đặt sự ưu tiên vào mục tiêu phát triển kinh tế, thống nhất quốc gia và cải thiện các mối đe doạ phi quân sự, mặc dù nhìn bề ngoài, quan niệm này có vẻ hướng ngoại nhiều hơn. Cụ thể, nó bao gồm 3 nội dung cơ bản: một là, "Đảm bảo an toàn cho Đông Nam Á"; hai là, "Đảm bảo một cộng đồng ASEAN mạnh và có hiệu quả"; và nội dung thứ ba - nội dung cơ bản nhất là "Cần thiết có một nước Malaysia vững chắc, an toàn và mạnh". Nhà nghiên cứu Sopie đã tóm tắt quan niệm đó "như là sự đảm bảo an ninh quốc gia, chủ yếu thông qua an ninh khu vực và đảm bảo an ninh khu vực thông qua sức bật dân tộc và an ninh quốc gia". Cách tiếp cận này đã phản ánh một quan niệm đa chiều về an ninh. Những mối đe doạ riêng khác về an ninh toàn diện được Malaysia xác định bao gồm: nạn nghiện hút ma tuý, chủ nghĩa cực đoan tôn giáo, di cư bất hợp pháp, tội phạm và sự trì trệ kinh tế. Trong một bài diễn văn đọc vào năm 1986, Tun Hussein Onn đã lưu ý rằng, các mối đe doạ an ninh của Malaysia "nằm vắt ngang các chiều kích chính trị, văn hoá, xã hội, tâm lý và kinh tế".

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, chi phí quân sự bị cắt giảm ở nhiều nước. Các nước Mỹ, Anh, Đức đều điều chỉnh tư duy, điều chỉnh cơ cấu điều hành an ninh của họ. Một loạt diễn biến như vụ 11-9-2001 ở Mỹ, bom rải thảm xuống Ápganixtan nhằm truy tìm Bin Lađen, cuộc chiến đánh đổ chế độ Saddam ở Irắc... đã dẫn đến sự hình thành những góc độ tư duy mới. Đặc biệt, cán cân quyền lực thế giới chuyển sang một cực dưới "chiến lược thống lĩnh thế giới" của nhóm bá quyền ở Mỹ khiến các nhà lãnh đạo an ninh ở nhiều nước phải suy nghĩ.

Ở các nước ASEAN, quan điểm an ninh cũng được mở rộng, bao gồm cả những thách thức an ninh phi truyền thống. Chẳng hạn, ở Xingapo, quan niệm về an ninh toàn diện được phản ánh qua khái niệm "phòng thủ toàn bộ" (total defence) với nội dung tương tự như trong khái niệm "sức đề kháng dân tộc" của Inđônêsia. Quan điểm của Xingapo về phòng thủ toàn bộ cũng nhấn mạnh tới sự ổn định bên trong của đất nước, thông qua việc củng cố bản sắc văn hoá dân tộc thống nhất và phát triển kinh tế.

Ở Cămpuchia, những vấn đề được xem là thách thức nghiêm trọng đối với an ninh quốc gia không phải là những vấn đề về một mối xâm lược. Trong sách trắng về quốc phòng được công bố ngày 20 - 2 - 2002, chính phủ Cămpuchia nhận định rằng: "Những mối đe doạ quân sự đối với Cămpuchia trong thời gian trước mắt là rất thấp". Đối với họ, các vấn đề môi trường, lây nhiễm HIV/AIDS, nạn cướp phá các ngôi đền... là những quan ngại hàng đầu về an ninh.

Dựa trên quan niệm về sức đề kháng dân tộc của Inđônêsia, ASEAN đã xây dựng nên một quan niệm an ninh toàn diện của hiệp hội, được phản ánh qua khái niệm về sức đề kháng khu vực (regional resilience). Theo Tan Sri Ghazali, cựu ngoại trưởng Malaysia, sức đề kháng khu vực là khả năng của mỗi nước thành viên trong khu vực cam kết một cách đầy đủ về sự phụ thuộc lẫn nhau. Như vậy, quan niệm về an ninh toàn diện của các nước thành viên ASEAN đã thể hiện được những vấn đề quan trọng nhất của tư duy mới sau chiến tranh lạnh. Nó hướng đến một cộng đồng an ninh ASEAN, kinh tế ASEAN và cộng đồng văn hoá ASEAN nhằm xây dựng một hiệp hội ASEAN ngang tầm với thế kỷ XXI như kết luận của Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 9 vừa qua tại Bali, Inđônêsia.

Nói tóm lại, sự tác động của toàn cầu hoá đòi hỏi:

Thứ nhất, cần có một định nghĩa mới về khái niệm an ninh; trong đó, nhấn mạnh tới "an ninh con người". Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), có 7 mối đe doạ đối với an ninh con người, gồm: Bất ổn định kinh tế, bất ổn định lương thực, bất ổn định y tế, bất ổn định năng lượng, bất ổn định môi trường, bất ổn định cộng đồng và văn hoá, bất ổn định về chính trị.

Việc phân tích như trên cũng chưa hẳn làm rõ được vấn đề, bởi còn nhiều điều kiện phức tạp mâu thuẫn nhau, ví dụ giữa tự do thương mại trong thế giới toàn cầu hoá với phát triển nhận thức của người dân, giữa chính sách năng lượng và sự dồn ép cộng đồng, giữa an ninh kinh tế và chủ quyền quốc gia.

Thứ hai, những bộ phận cấu thành nền an ninh quốc gia không chỉ gồm nhân tố quân sự mà cả các nhân tố kinh tế, tư tưởng, văn hoá, xã hội; trong đó, kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

Thứ ba, an ninh quốc gia và an ninh khu vực có tác động tương hỗ và tuỳ thuộc lẫn nhau. Do đó, để xây dựng một nền an ninh toàn diện của quốc gia, các nước ASEAN phải tham gia xây dựng an ninh khu vực. Đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là lợi ích an ninh của chính họ.

Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 10, vấn đề hợp tác chính trị – an ninh sẽ được  tăng cường, vì tất cả các nước thành viên đều chia sẻ lợi ích chung trong một khu vực Đông Nam Á hoà bình, ổn định và phát triển.

3. Nội dung cốt lõi của khái niệm mới về an ninh là sự tôn trọng và bảo vệ chủ quyền của tất cả các quốc gia. Cách thức tốt nhất để đảm bảo an ninh quốc gia là xây dựng và phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị thay vì sự đối đầu giữa các quốc gia. Đối thoại trong đấu tranh, hợp tác trong cạnh tranh, tránh đối đầu toàn diện, tìm kiếm điểm tương đồng về lợi ích quốc gia giữa các bên... chính là những đặc trưng chủ yếu của quan hệ an ninh quốc tế hiện nay.

Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan và các quan hệ quốc tế đang phát triển theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá. Trong bối cảnh đó, nước nào cũng muốn tạo dựng cho mình một tư thế quốc tế năng động, linh hoạt. Thực tế cho thấy, một quốc gia càng đa dạng hoá được quan hệ đối ngoại của mình, thì quốc gia đó càng có nhiều khả năng thực hiện chính sách độc lập, tự chủ hơn. Về phương diện kinh tế, nước nào tận dụng được lợi thế tương đối của mình và từ đó, tranh thủ được vị trí tối ưu trong quan hệ quốc tế, thì càng giữ được tư thế tự chủ hơn. Thực tiễn của nhiều nước cho thấy, nguy cơ đe doạ chủ quyền, an ninh quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ nằm ngay ở bên trong. Nhiều trường hợp đất nước không bị nước ngoài xâm lăng, song chủ quyền và an ninh quốc gia vẫn bị rối loạn, lãnh thổ bị chia cắt (như Nga, Inđônêsia...). Những nguy cơ nảy sinh tình trạng mất an ninh không chỉ do sự bất ổn của các nhân tố chính trị - xã hội, mà nhiều khi còn bắt nguồn từ chính những sai lầm trong chính sách kinh tế, văn hoá, tôn giáo, sắc tộc. Có thể nói, mối đe doạ đối với an ninh quốc gia nằm cả ở bên ngoài lẫn bên trong đất nước, hoặc là ở sự kết hợp của cả hai nhân tố đó. Vì vậy, để đảm bảo an ninh của mình, các quốc gia cần có một sức mạnh tổng hợp hay là sức mạnh tổng lực bao gồm cả sức mạnh về chính trị, sự phát triển về kinh tế, sự ổn định về xã hội, thậm chí cả bản sắc văn hoá dân tộc.

Vấn đề an ninh quốc gia cũng như an ninh khu vực trở nên đặc biệt quan trọng, kể từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã tác động không nhỏ đến tình hình phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh quốc gia ở tất cả các nước trên thế giới. Trên thực tế, ngay sau khi Tổng thống G.Busơ đắc cử, nước Mỹ đã chủ động thực hiện chiến lược an ninh quốc gia mới với "đòn đánh phủ đầu" mà cuộc xâm lược Irắc là một bằng chứng cụ thể. Điều đó cho thấy, quan niệm về an ninh bắt đầu có sự chuyển đổi, từ chỗ coi thực lực kinh tế quan trọng hơn thực lực quân sự, quay trở lại nhấn mạnh thực lực về quân sự và chí ít cũng là đặt thực lực kinh tế và quân sự quan trọng như nhau.

4. Tác động của xu thế toàn cầu hoá đối với quan niệm về an ninh và tư duy chiến lược.

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, của xu thế hoà bình, hợp tác để phát triển và vai trò của các công ty xuyên quốc gia, quá trình toàn cầu hoá ngày nay đã đạt đến một đỉnh cao mới và bao trùm toàn bộ các quan hệ quốc tế. Trong điều kiện đó, an ninh của mỗi quốc gia cũng như an ninh của khu vực và quốc tế đứng trước những chuyển biến mới, cả về nội dung lẫn cơ hội và thách thức.

Về cơ hội, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy sự ra đời và góp phần củng cố mạng lưới dày đặc các thiết chế quốc tế, nhất là các tổ chức quốc tế trong mọi lĩnh vực. Thông qua các thiết chế và tổ chức quốc tế này, các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước nhỏ và vừa, có nhiều khả năng hơn trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia cũng như an ninh của mình; đồng thời, có vị thế ít bất lợi hơn trong quan hệ với các nước lớn. Xu thế toàn cầu hoá cũng tạo ra những cơ hội quan trọng khác (thị trường, vốn, công nghệ, cạnh tranh nâng cao hiệu quả kinh tế...) mà các nước có thể tận dụng để phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ sở vững chắc để đảm bảo an ninh quốc gia.

Tuy nhiên, toàn cầu hoá không chỉ đơn thuần là một phạm trù kinh tế. Để tiến tới một thị trường hợp nhất, toàn cầu hoá sẽ làm thay đổi kiến trúc thượng tầng của các quốc gia. Chủ quyền an ninh quốc gia, do vậy, cũng có những biến đổi nhất định. Thực tế hiện nay cho thấy, các quốc gia, dân tộc, các thể chế chính trị khác nhau là những chủ thể chính trị trực tiếp tham gia hoặc bị lôi cuốn vào quá trình toàn cầu hoá; họ vừa gặt hái được nhiều thành quả của quá trình đó, lại vừa bị tác động bởi những mặt trái của nó. Rõ ràng, dưới nhãn quan chính trị, mặt trái của toàn cầu hoá trở nên phức tạp hơn nhiều và đây là một quá trình chứa đựng đầy mâu thuẫn, giữa một bên là quyền lực và lợi ích của các nước lớn, có tiềm lực kinh tế và khoa học công nghệ cao, kể cả trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng với một bên là quyền lợi và chủ quyền an ninh quốc gia của các dân tộc yếu và nhỏ hơn. Chính vì lẽ đó, trong quan hệ quốc tế bắt đầu xuất hiện những sự điều chỉnh và thay đổi mới.

Xu hướng chung hiện nay của các quốc gia là đều thừa nhận sự cần thiết phải có một quan niệm tổng thể về an ninh. Nhiều nước có quan niệm rất rộng về an ninh quốc gia, bao quát nhiều lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá xã hội, môi trường đến con người. Theo học giả Bari Biuđơn(1), nội dung của khái niệm an ninh bao gồm một số lĩnh vực được xác định như sau:

- An ninh quân sự liên quan đến việc đánh giá sự tồn tại các mối đe doạ, tấn công, xâm lược của các thế lực quân sự đối địch có thể làm tổn hại nền độc lập, chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia cũng như khả năng đối phó của quốc gia trước các hiểm hoạ đó.

- An ninh chính trị liên quan tới sự ổn định chính trị, sự tồn tại của các thể chế chính trị, hệ thống nhà nước và các ý thức hệ là nền tảng tư tưởng của quốc gia.

- An ninh kinh tế liên quan đến khả năng tiếp cận các nguồn lực, tài chính, thị trường cần thiết đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế, phúc lợi của nhân dân và sức mạnh của nhà nước. An ninh kinh tế bao gồm cả an ninh năng lượng, an ninh tài chính. Trong tương lai, phát triển kinh tế là nền tảng và an ninh kinh tế là nội dung trụ cột của an ninh quốc gia trong một thế giới toàn cầu hoá và tri thức hoá. Chiến lược an ninh quốc gia của Hoa Kỳ năm 1994 đã xác định: an ninh kinh tế là một trong ba trụ cột chính (bao gồm an ninh kinh tế, an ninh quân sự và dân chủ hoá toàn cầu); trọng tâm của chiến lược này là thúc đẩy và duy trì sự phồn vinh kinh tế. Trong những năm gần đây, Trung Quốc cũng hết sức quan tâm đến an ninh kinh tế. Sau cuộc khủng hoảng tiền tệ ở khu vực Đông Á, Trung Quốc rút ra kết luận quan trọng là phải đảm bảo an ninh tiền tệ, vì nó có ảnh hưởng nhiều đến an ninh kinh tế, xuyên suốt quá trình hợp tác kinh tế và qua đó, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Tháng 11 năm 2002, tại Đại hội lần thứ 16 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Giang Trạch Dân đã nêu rõ quan niệm mới của Trung Quốc về an ninh: Chủ thể an ninh là an ninh chủ quyền, nội dung an ninh là an ninh tổng hợp, biện pháp an ninh là an ninh hợp tác. Thực chất, quan niệm đó hướng đến xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển. Khuynh hướng không liên minh, không đối kháng, không nhằm vào nước thứ ba, tin tưởng lẫn nhau, đối xử bình đẳng với các nước khác theo nguyên tắc cùng có lợi... là đặc trưng điển hình của quan niệm mới về an ninh.

Vấn đề văn hoá truyền thống và bản sắc dân tộc ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nước và có xu hướng được coi là một trong những nội dung của khái niệm an ninh quốc gia. Trong quá trình hội nhập vào xu thế toàn cầu hoá, vấn đề quan trọng đặt ra đối với mỗi nước là phải xác định đúng những nét đẹp, những đặc trưng hay của văn hoá dân tộc cần gìn giữ; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá nhân loại để làm phong phú thêm đời sống văn hoá và các giá trị tinh thần khác của dân tộc.

Sự phát triển của toàn cầu hoá khiến người ta phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề môi trường. Ngày càng có nhiều nước đặt vấn đề môi trường lên tầm chính sách và gắn môi trường với an ninh quốc gia, hoặc coi đó là một bộ phận của an ninh quốc gia.

Bên cạnh đó, thực tế của các nước trong những năm qua cho thấy, vấn đề an ninh con người được quan tâm nhiều hơn; thậm chí có quan điểm cho rằng, an ninh con người là mục tiêu hàng đầu, và suy cho cùng, an ninh quốc gia phải nhằm phục vụ an ninh con người. Tuy nhiên, hiện vẫn có sự khác biệt lớn giữa các nước về vấn đề này, đặc biệt là giữa phương Tây và phương Đông, giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển.

Tác động hai mặt của quá trình toàn cầu hoá đã đặt ra yêu cầu đổi mới về tư duy chiến lược. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, an ninh quốc gia và an ninh quốc tế ngày càng trở thành những vấn đề chung của tất cả các quốc gia. Để phát triển và bảo đảm sự an ninh, tất cả các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau. Xu hướng phát triển các thể chế toàn cầu và diễn đàn hợp tác an ninh khu vực (ASEAN, ARF...) như là một chiến lược để duy trì an ninh quốc gia của mỗi nước cũng như an ninh quốc tế tiếp tục được khẳng định, cả về tính hợp lý lẫn tính hiệu quả. Trong một thế giới mà quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra sôi động và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, an ninh quốc gia trở thành một trong những vấn đề quan trọng nhất của tất cả các nước, đặc biệt là các nước nhỏ và yếu hơn.

Là một nước đang phát triển, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội thuận lợi có thể tận dụng để phát triển nhanh; đồng thời, phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn và không dễ vượt qua. Vấn đề quan trọng đặt ra là, một mặt, phải xác định cho được những cơ hội, điều kiện thuận lợi để tận dụng; mặt khác, phải dự báo sớm những khó khăn, thách thức sẽ gặp phải. Trên cơ sở đó, chủ động xây dựng hệ thống các phương hướng, giải pháp phù hợp, đảm bảo vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ được an ninh quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. "Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ" đã được Đảng ta xác định là "nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt"(2) để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

 


(*) Trung tá, thạc sĩ triết học, Bộ Công an.

(1) Xem: Bari Biuđơn. Toàn cầu hoá kinh tế: Bản chất, thời cơ và thách thức (Tài liệu dịch của Bộ Công an, năm 2003).

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.117.

Đã xem: 2469
Thời gian đăng: Thứ tư - 03/06/2015 22:47
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất