QC Shop

Cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì phát triển bền vững trong xu thế toàn cầu hóa và tác động của nó đến sự vận động của chủ nghĩa xã hội những thập niên đầu thế kỷ XXI

Đoàn Trường Thụ(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 4 (155), tháng 4 - 2004

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Chiến tranh lạnh kết thúc bằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đã dẫn tới sự biến đổi cơ bản cục diện quan hệ quốc tế. Trật tự thế giới lưỡng cực dựa trên sự đối đầu quyết liệt giữa hai hệ thống kinh tế - chính trị và xã hội vốn tồn tại hơn 4 thập kỷ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai không còn. Thế giới đang trong thời kỳ quá độ chuyển sang một trật tự mới, đa cực.

Nhìn chung, trong bối cảnh quốc tế mới, nền hoà bình của thế giới được củng cố thêm một bước, mặc dù đây đó vẫn đang xảy ra những cuộc xung đột hoặc chiến tranh cục bộ. Sự phát triển (theo quan niệm mới) là tâm điểm mà tất cả các nước đang hướng tới; ranh giới phân chia giữa các quốc gia theo ý thức hệ ngày càng mờ nhạt. Nhân loại tiến bộ hy vọng và tin tưởng rằng, thế giới sẽ bước vào một thời kỳ mới, ổn định để tập trung phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống phồn vinh. Tuy nhiên, để phát triển thực sự trở nên bền vững là một việc không hề dễ dàng hoặc có thể làm được trong một thời gian ngắn. Sự tác động đan xen của nhiều nhân tố, trong đó, trước hết và nổi bật là xu thế toàn cầu hoá kinh tế đã, đang đặt ra nhiều thời cơ thuận lợi cũng như những thách thức không nhỏ cho nhân loại tiến bộ trong quá trình đấu tranh vì một thế giới công bằng, hoà bình, dân chủ và phát triển bền vững.

1. Trong khoảng một vài thập kỷ trở lại đây, dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, quá trình toàn cầu hoá kinh tế diễn ra mạnh mẽ, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất, làm cho lực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá cao độ, đưa lại sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc; đồng thời, mang lại những nguồn lực rất quan trọng, cần thiết cho các quốc gia, từ các nguồn lực kinh tế đến các nguồn tri thức và kinh nghiệm, mở rộng khả năng và cơ hội rút ngắn khoảng cách giữa các nước đang phát triển với các nước phát triển. Trên cơ sở đó, toàn cầu hoá kinh tế khiến cho các quốc gia, dân tộc ngày càng xích lại gần nhau hơn, làm tăng thêm khả năng hội nhập và giao lưu, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các quốc gia trên toàn cầu; đồng thời, góp phần thúc đẩy việc nâng cao dân trí, làm phong phú thêm bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc. Mặt khác, nhờ quá trình toàn cầu hoá kinh tế, các quốc gia và các dân tộc ngày càng có điều kiện để tự khẳng định vị thế của mình. Cùng với những tác động tích cực của quá trình toàn cầu hoá, sự  nỗ lực của các quốc gia, đặc biệt là trong lĩnh vực cải cách quản lý kinh tế (theo nguyên tắc bằng chi phí thấp nhất để đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá) đã làm cho nền kinh tế đạt được bước tăng trưởng và có năng lực cạnh tranh. Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia, khi tham gia vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế, phải nỗ lực vươn lên để tự hoàn thiện mình.

Đồng thời, có thể coi quá trình toàn cầu hoá như một “diễn đàn” nhằm gắn kết các cộng đồng. Dựa vào đó, mỗi một dân tộc, hay một quốc gia có thể bày tỏ quan điểm, tìm kiếm và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế cũng như  phát huy những lợi thế của mình. Quá trình toàn cầu hoá kinh tế còn tạo nên sự phối hợp, hợp tác giữa các quốc gia trong việc giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu, như khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, ngăn chặn và thanh toán dịch bệnh, chống khủng bố quốc tế, chống xung đột sắc tộc, xoá đói, giảm nghèo... Ngoài ra, quá trình đó còn làm tăng thêm tính đa dạng về văn hoá của mỗi cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Điều này thể hiện ở chỗ, nó cùng tồn tại với văn hoá bản địa, làm tăng khả năng phát triển và quảng bá của văn hoá bản địa và do vậy, làm cho môi trường kinh tế, văn hoá và xã hội của các quốc gia trở nên mở hơn, năng động hơn.

Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng, toàn cầu hoá kinh tế là quá trình có tính hai mặt. Nó là một hiện tượng kinh tế nhưng không thuần tuý kinh tế, mà xen vào đó là nhiều yếu tố chính trị, văn hoá, xã hội khác. Ngoài mặt tích cực, nó còn có mặt tiêu cực, dẫn tới nhiều hậu quả đáng lo ngại, như sự bất công trong phân phối thành quả lao động, tình trạng người giàu, nước giàu được lợi và người nghèo, nước nghèo bị thua thiệt… Một khi sự hội nhập vào quá trình toàn cầu hoá ngày càng mạnh thì càng nhanh dẫn đến sự gia tăng tình trạng bất bình đẳng. Thực tế cho thấy, hiện có một bộ phận dân cư trên thế giới, đặc biệt là tại các nước đang phát triển đứng trước nguy cơ bị gạt ra bên lề tiến trình toàn cầu hoá. Quá trình toàn cầu hoá kinh tế được đẩy mạnh khiến cho cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất vốn đã gay gắt lại càng thêm gay gắt hơn. Nó buộc các nhà sản xuất phải ra sức tìm cách giảm chi phí, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm. Một mặt, đây là quá trình không thể đảo ngược, xét từ bản chất của chủ nghĩa tư bản; mặt khác, nó cũng có tác động tiêu cực tới nền công nghiệp quốc gia ở các nước đang phát triển, làm xấu đi bầu không khí xã hội ở trong và ngoài các cơ sở sản xuất, đồng thời làm gia tăng nạn thất nghiệp và đói nghèo ở nhiều nơi. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới các cuộc thôn tính lẫn nhau, xảy ra thường xuyên trong thời gian gần đây, giữa các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia hay giữa những quốc gia tư bản trên thế giới có lợi ích kinh tế không trùng hợp, thể hiện qua những mâu thuẫn về chính trị núp dưới các chiêu bài như “nhân quyền”, “dân chủ” hay “chủ quyền quốc gia, dân tộc”...

Không những thế, quá trình toàn cầu hoá hiện nay còn diễn ra một cách thiếu cân đối, không hài hoà. Giữa các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội và văn hoá đang có sự khập khiễng, chênh lệch cả về chiều rộng và chiều sâu. Sở dĩ có tình trạng này là do hai nguyên nhân cơ bản sau: Thứ nhất, quá trình toàn cầu hoá kinh tế không đi đôi với sự quan tâm đúng mức về xã hội và con người. Bởi vì, đối với các nước phát triển (những nước có tiềm lực lớn về kinh tế), mục tiêu cao nhất của họ trong quá trình toàn cầu hoá là lợi nhuận. Thông qua lợi nhuận (dưới dạng đầu tư…), họ muốn tăng cường ảnh hưởng và áp đặt sự thống trị toàn diện, trước hết là trong lĩnh vực kinh tế, đối với các nước trên thế giới. Điều đó khiến cho phần thua thiệt về xã hội và con người trên thế giới nói chung và ở những nước đang phát triển nói riêng trở nên rất nặng nề. Chính do sự đề cao lợi nhuận hơn con người mà bên trong toàn cầu hoá kinh tế hiện nay đang diễn ra xu hướng xem nhẹ vai trò của nhà nước, xem nhẹ những tác động của xã hội và tới xã hội. Thứ hai, quá trình toàn cầu hoá kinh tế chưa có được một cơ chế quản lý toàn cầu tương xứng, hiệu quả, và do vậy, nó “có vẻ như một con tàu không được điều khiển”.

Những tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá còn bị chi phối bởi mặt trái của sự phát triển khoa học, công nghệ. Những mặt trái của tiến bộ khoa học, công nghệ đang tiềm ẩn mối đe doạ đối với nền văn minh của nhân loại trong tương lai, như nguy cơ san bằng các hình thức sinh hoạt của các dân tộc, tàn phá các nền văn hoá, làm tan vỡ cơ cấu xã hội cổ truyền, phá vỡ nhiều quan hệ đạo đức, thuần phong mỹ tục của các quốc gia, gây ô nhiễm môi trường v.v.. Tình hình đó buộc nhân loại phải hợp sức giải quyết những vấn đề chung do quá trình toàn cầu hóa đặt ra.

Quá trình toàn cầu hoá cũng là một trong những tác nhân làm gia tăng nguy cơ và mức độ xung đột sắc tộc, dân tộc trên thế giới. Có thể nói, hiện nay, đa số các cuộc bạo lực có quy mô lớn đều ít nhiều bắt nguồn từ xu thế toàn cầu hoá. Tại những nơi này, ảnh hưởng và tác động tích cực của xu thế toàn cầu hoá bị giảm đáng kể do những phản ứng cực đoan với mặt trái của toàn cầu hoá. Dưới tác động của toàn cầu hoá, các cuộc xung đột sắc tộc, dân tộc ngày nay không chỉ dễ xảy ra mà còn khó chấm dứt và có nhiều nguy cơ bùng phát trở lại hơn so với trước đây. Gần đây, các phong trào chống toàn cầu hoá mang tính cực đoan đang có xu hướng trỗi dậy, một mặt, chúng thể hiện ra bằng những cuộc khủng bố đẫm máu; mặt khác, cũng phải thừa nhận rằng, sự xuất hiện của những phong trào này đã phản ánh tình trạng bế tắc trong quan hệ giữa các quốc gia do không tìm được sự nhất trí trong việc phân chia các nguồn lợi kinh tế và chính trị.

Các chương trình “tự do hoá”, đặc biệt là “tự do hoá kinh tế” trong quá trình toàn cầu hoá ngày càng làm cho thước đo sự phát triển kinh tế, xã hội và định hướng xã hội cũng như các giá trị xã hội khác phải lệ thuộc nhiều hơn vào các lực lượng kinh tế bên ngoài. Thực trạng này đang diễn ra ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi. Đó là lý do để các quốc gia cần cân nhắc và thận trọng hơn khi tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu.

2. Quá trình toàn cầu hoá kinh tế ngày càng phát triển thì mặt trái của nó lại càng biểu hiện rõ hơn. Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và chất lượng của sự phát triển xã hội trong quá trình toàn cầu hoá chưa được giải quyết hài hoà. Những vấn đề chính trị, xã hội đó đặt ra một nhu cầu khách quan là toàn cầu hoá kinh tế cần có một môi trường, một hệ điều tiết chính trị, xã hội phù hợp để nó phát triển hướng đến bình đẳng và tiến bộ xã hội. Kiểu toàn cầu hoá như đang diễn ra trong thực tế hiện nay chủ yếu chỉ đem lại lợi ích cho các nước tư bản phát triển, cho giới chủ, cho các tập đoàn tư bản độc quyền xuyên quốc gia mà thôi. Nó không những không thể giải quyết được các mâu thuẫn thuộc về bản chất của xã hội tư bản, cũng như những vấn đề nóng bỏng của thời đại, mà còn làm cho chúng trở nên sâu sắc, trầm trọng hơn. Toàn cầu hoá càng đi vào chiều sâu thì mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản càng trở nên gay gắt với quy mô ngày càng mở rộng. Nó trở thành mâu thuẫn giữa tính quốc tế hoá, thậm chí toàn cầu hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư bản về tư liệu sản xuất. Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng, những mâu thuẫn (giữa nước giàu với nước nghèo, giữa trung tâm với ngoại vi, giữa các nước tư bản với nhau, giữa chủ nghĩa đế quốc bá quyền với các lực lượng dân chủ, hoà bình và tiến bộ xã hội...) do tiến trình toàn cầu hoá tạo ra sẽ ngày càng gay gắt và trở thành nhân tố khởi sinh một lực lượng toàn cầu, đấu tranh chống lại sự phát triển của chính bản thân toàn cầu hoá.

Chính vì vậy, trong một vài năm trở lại đây, trên thế giới đã xuất hiện một phong trào chính trị - xã hội rộng lớn chống lại toàn cầu hoá. Hầu như ở bất cứ cuộc gặp thượng đỉnh nào của các nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới, như G8 hay của các thiết chế kinh tế - tài chính thế giới (WTO, IMF, WB...) đều có một phong trào phản kháng xã hội mạnh mẽ diễn ra bên ngoài các phòng họp. Thành phần tham gia phong trào chống toàn cầu hoá rất đa dạng. Họ đến từ nhiều nơi, thuộc nhiều tổ chức và phong trào khác nhau, nhưng đều là đại diện cho những tầng lớp xã hội bị thiệt thòi nhất trong quá trình toàn cầu hoá. Tuy nhiên, mục đích của họ không phải là chống lại xu thế phát triển khách quan của toàn cầu hoá, mà là chống kiểu toàn cầu hoá tiêu cực, phi nhân tính của chủ nghĩa tư bản, chống chiến lược toàn cầu hoá theo mô hình chủ nghĩa tự do mới, chống hệ thống quyền lực tư bản quốc tế. Nói cách khác, phong trào đó chống lại quá trình toàn cầu hoá đang bị chủ nghĩa tư bản độc quyền quốc tế chi phối, lũng đoạn. Tổng thư ký Liên hợp quốc Côphi Annan đã khẳng định rằng, rất ít cá nhân, đoàn thể và chính phủ các nước chống lại bản thân toàn cầu hoá. Điều mà họ phản đối là sự chênh lệch của toàn cầu hoá. Thứ nhất, mặt tích cực và cơ hội của toàn cầu hoá vẫn đang tập trung cao độ ở một số nước mà sự phân bố ở ngay tại các nước này cũng không đồng đều. Thứ hai, trong mấy thập niên gần đây, hiện tượng mất cân đối đã xuất hiện: trong lúc người ta rất thành công trong vấn đề thúc đẩy mở rộng thị trường toàn cầu thì đứng trước những mục tiêu xã hội chân chính, như tiêu chuẩn lao động, vấn đề môi trường, vấn đề quyền con người, quyền được xoá đói nghèo, bệnh tật luôn bị bỏ rơi lại đằng sau. Nói rộng ra, đối với nhiều người, toàn cầu hoá đã mang ý nghĩa là sức mạnh gây tổn thương không thể lường trước được; là sức mạnh tạo nên mất cân đối về kinh tế, về chính trị một cách hết sức nhanh chóng. Thậm chí, đối với những quốc gia hùng mạnh, người ta cũng không biết được ai là chủ, họ lo lắng về công việc của mình và lo sợ cả tiếng kêu của mình cũng sẽ bị nhấn chìm trong làn sóng toàn cầu hoá.

Mặc dù có những khác biệt, nhưng tựu trung lại, mục tiêu chủ yếu của phong trào chống toàn cầu hoá được thể hiện ở 3 điểm: Một là, chống lại sự phân phối bất bình đẳng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng; hai là, chống lại cơ cấu trật tự tài chính - thương mại quốc tế hiện nay; ba là, chống chủ nghĩa tư bản toàn cầu mà đại diện là các công ty xuyên quốc gia. Những lực lượng tham gia phong trào đều thể hiện một nguyện vọng bức thiết là cần phải xây dựng một nền kinh tế đoàn kết, tiến tới một quá trình toàn cầu hoá mang tính nhân bản, phát triển bền vững, công bằng về mặt xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu cơ bản của mọi công dân; trong đó, con người được sống bình đẳng, đoàn kết, được tham gia vào dòng chảy toàn cầu hoá với tư cách là những chủ thể đích thực và tích cực. Với mục tiêu như vậy, nội dung đấu tranh của phong trào chống toàn cầu hoá trước hết và chủ yếu là kêu gọi thay thế quá trình toàn cầu hoá của thiểu số và cho thiểu số như hiện nay bằng một quá trình toàn cầu hoá mới, của tất cả và cho tất cả mọi người. Nội dung bao trùm này được cụ thể hoá thành nhiều mũi nhọn đấu tranh như chống đói nghèo, chống bất công xã hội, chống chủ nghĩa tự do mới, chống nền chính trị cường quyền nước lớn, chống việc trợ giá cho các sản phẩm nông nghiệp của các nước công nghiệp phát triển... hoặc thành những yêu sách về xoá nợ cho các nước kém phát triển, bảo vệ môi trường sống, phát triển một nền nông nghiệp sinh thái bền vững, dân chủ hoá cơ cấu và cơ chế của các tổ chức quốc tế như WTO, WB, IMF... Sự phản đối của những người chống toàn cầu hoá không phải nhằm vào một quốc gia nào, mà là vào chính toàn bộ cơ cấu lợi ích trên thế giới hiện nay. Vì vậy, xét về bản chất, có thể coi phong trào chống toàn cầu hoá chính là hành động chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản, chống lại mô hình kinh tế do Mỹ áp đặt; đồng thời, là sự ủng hộ khuynh hướng phát triển các mô hình kinh tế đa dạng, phù hợp với đặc điểm riêng của mỗi quốc gia, dân tộc. Trên một ý nghĩa nào đó, phong trào chống toàn cầu hoá còn là sự đóng góp vào việc xây dựng một nền kinh tế quốc tế phát triển lành mạnh, có tác động tích cực đối với đời sống kinh tế - chính trị thế giới; là sự thức tỉnh của ý thức công dân toàn cầu trước những vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường... cấp bách của nhân loại trong giai đoạn hiện nay.

3. Sự phát triển của toàn cầu hoá kinh tế dưới những tác động, cả tích cực và tiêu cực của chủ nghĩa tư bản hiện đại cho thấy, chủ nghĩa tư bản không thể là con đường đi tới tương lai của nhân loại. Dù sớm hay muộn, chủ nghĩa xã hội cũng sẽ thay thế cho chủ nghĩa tư bản. Đó là xu thế tất yếu của lịch sử, là quy luật khách quan không thể thay đổi. Những mặt trái của quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện nay đã chứng tỏ rằng, những mâu thuẫn cố hữu của chủ nghĩa tư bản không thể giải quyết được trong nội bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa; ngược lại, chúng ngày càng trở nên căng thẳng, gay gắt hơn và tất yếu sẽ dẫn tới sự bùng nổ của cách mạng. Mặt khác, chính sự tăng lên của mâu thuẫn kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu là nguồn gốc sâu xa khiến cho chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ bị phủ định và được thay thế bằng chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh đó, sự phát triển của khuynh hướng dân chủ thông qua thực tiễn của phong trào đấu tranh vì tiến bộ xã hội mà đặc trưng là chống toàn cầu hoá, đến mức độ nhất định, sẽ làm lộ rõ sự bất lực của chủ nghĩa tư bản đối với việc quản lý xã hội. Khi đó, khuôn khổ dân chủ tư sản trở nên quá chật hẹp so với sự phát triển của xã hội, và một yêu cầu khách quan đặt ra là tiến trình dân chủ hoá phải được xây dựng trên một cơ sở mới. Đây là những nét mới trong sự phát triển của xã hội, song đó hoàn toàn không phải là cái gì xa lạ. Thực ra, điều này đã được Mác, Ăngghen và Lênin dự báo khi các ông nghiên cứu, phân tích về quy luật tự phủ định của chủ nghĩa tư bản trong tiến trình phát triển của nó. Với ý nghĩa này, sự phát triển của toàn cầu hoá là bước chuẩn bị cho sự “cáo chung” của chủ nghĩa tư bản hiện đại trên quy mô toàn thế giới. Hiện nay, chủ nghĩa tư bản đang mưu toan lợi dụng xu thế toàn cầu hoá để phổ biến các giá trị và luật chơi tư bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu. Song, điều đó vấp phải xu hướng vươn tới tự do, bình đẳng ngày càng mạnh mẽ của cả nhân loại tiến bộ. Do vậy, quá trình toàn cầu hoá cũng chính là quá trình đấu tranh và sàng lọc, là quá trình hội nhập, giao thoa của các nền kinh tế, các giá trị văn hóa, chính trị khác nhau; trong đó, các giá trị văn minh - nhân đạo của loài người sẽ được tiếp thu, kế thừa. Và trong quá trình ấy, những cái gì là tích cực và tiến bộ, sớm hay muộn, sẽ được phát triển, đó chính là quy luật tất yếu trong sự phát triển của xã hội.

Có thể nói, phong trào chống toàn cầu hoá diễn ra ngày một sâu rộng là sự phản ánh một cách chân xác tính đa dạng và phức tạp của thế giới hiện nay. Đồng thời, đó cũng là một minh chứng khẳng định rằng, chế độ tư bản chủ nghĩa đang bị phê phán và tấn công trên khắp mọi cơ tầng kinh tế - xã hội nội tại của chính nó. Rõ ràng, phong trào chống toàn cầu hoá đang trở thành một lực lượng mới trong nền chính trị thế giới ngày nay với những mục tiêu đấu tranh tích cực, tiến bộ. Tuy chưa phải là chủ thể của một cuộc cách mạng, nhưng phong trào chống toàn cầu hoá đang ẩn chứa một tiềm năng cách mạng, báo hiệu một giai đoạn mới của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.

Cùng với phong trào chống toàn cầu hoá, sự ảnh hưởng và ngày càng lan rộng của những tư tưởng về chủ nghĩa xã hội đang có những bước phát triển mới về chất. Những tư tưởng về chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục thẩm thấu vào trong nhận thức và biến thành hành động của đại đa số nhân dân lao động trên khắp thế giới. Chủ nghĩa xã hội vẫn luôn là tình cảm và nguyện vọng, là định hướng đấu tranh để vươn tới của họ. Với bản chất tốt đẹp của nó là đấu tranh và cổ vũ loài người đấu tranh vì một xã hội ấm no, công bằng, bình đẳng, dân chủ, hoà bình và quyền con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, chủ nghĩa xã hội vẫn đang và sẽ là một mục tiêu trùng khít với những mục tiêu chung của nhân loại tiến bộ. Cho đến nay, các định hướng của chủ nghĩa xã hội như giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, xoá bỏ áp bức và bóc lột, xoá bỏ phân hoá giàu nghèo, xây dựng một xã hội phồn vinh, hạnh phúc, không có sự bất công…, vẫn là những giá trị cơ bản, phù hợp với quy luật tự nhiên của sự phát triển lịch sử, phù hợp với lợi ích của đại đa số quần chúng nhân dân và là sự lựa chọn sáng suốt của nhân loại. Khác hẳn chủ nghĩa tư bản coi con người chỉ là phương tiện để đạt được lợi ích hẹp hòi của nó, chủ nghĩa xã hội – với hệ giá trị trên – coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực, và hơn thế, còn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển xã hội. Và, lẽ dĩ nhiên, nhân dân sẽ lựa chọn khuynh hướng phát triển xã hội theo hệ giá trị tiên tiến này và chung sức để xây dựng thắng lợi xã hội đó trên toàn thế giới. Có thể nói, triển vọng phát triển của chủ nghĩa xã hội trong những năm đầu của thế kỷ XXI là không thể bác bỏ, vì nó đã bám rễ trong ý thức của con người, được vật chất hoá trong tư duy của nhân loại tiến bộ. “Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới”(1), bởi đó là quy luật tiến hoá của lịch sử nhân loại.

 

 

(*) Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX.  Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.65.

Đã xem: 709
Thời gian đăng: Thứ năm - 04/06/2015 03:39
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất