QC Shop

Đạo Công giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa

Phạm Huy Thông(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 6 (157), tháng 6 - 2004

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa


Từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta thường nói đến vấn đề toàn cầu hoá. Đây là một xu thế tất yếu khách quan, không thể đảo ngược của sự phát triển kinh tế thế giới dù cho có kẻ muốn, người phản đối quyết liệt. Với các tôn giáo, khái niệm toàn cầu hoá không có gì xa lạ. Chẳng hạn, cách đây hai ngàn năm, tư tưởng này đã xuất hiện khi Đức Giêsu - người sáng lập đạo Công giáo, nói với các môn đệ: “Vậy anh em hãy đi thâu nạp môn đệ khắp muôn dân, thanh tẩy cho họ, nhân danh cha và con và thánh thần”(1). Như vậy, phải chăng toàn cầu hoá là cơ hội để phát triển của đạo Công giáo? Không hẳn như vậy. Nếu với từng quốc gia, toàn cầu hoá mang lại cả hoa hồng và nước mắt thì với đạo Công giáo, nó cũng đem đến cả thời cơ và những thách đố. Từ sau công đồng Vaticanô 2, đạo Công giáo luôn có những canh tân, đổi mới để thích nghi với thời đại. Chúng ta hãy tìm hiểu những thay đổi của tôn giáo này trong bối cảnh toàn cầu hoá.

1.Những phương thức truyền giáo mới

Hoạt động bao trùm và xuyên suốt toàn bộ lịch sử của đạo Công giáo là truyền giáo. Đây không phải là công việc của riêng Bộ Truyền giáo được thành lập từ ngày 22-6-1662 (nay gọi là Bộ Phúc âm hoá các dân tộc) mà là nhiệm vụ chung của mọi thành phần trong giáo hội, từ giáo sĩ đến giáo dân. Nhưng nhiệm vụ này đã thay đổi rất nhiều với những phương tiện mới, mục tiêu mới và cách thức mới trong hoàn cảnh mới hiện nay.

Thời đại ngày nay là thời đại bùng nổ các phương tiện thông tin. Đạo Công giáo đã không bỏ qua cơ hội thuận lợi này. Huấn thị của Hội đồng giáo hoàng ngày 23-5-1999 đã viết: “Chúng ta cần phải đưa sứ điệp Tin mừng vào trong nền văn hoá do các phương tiện thông tin đại chúng tạo ra. Đây là một vấn đề khá phức tạp vì nền văn hoá này không chỉ khai sinh từ bất kỳ nội dung thông tin nào, mà còn từ sự kiện, hiện nay đang có những cách truyền thông mới, với những kỹ thuật mới và một tâm lý mới”(2). Trên thực tế, giáo hội đã tích cực sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại để thực hiện nhiệm vụ truyền giáo. Năm 2000, Giáo hoàng Giăng Pôn II (Jean Paul 2) đã tự tay ấn nút truyền đi Tông huấn Thượng hội đồng giám mục châu Phi qua mạng Internet. Rất nhiều website của các dòng tu, các tổ chức truyền giáo được thiết lập.

Uỷ ban truyền thông của Liên Hội đồng giám mục Á châu cũng đã lập dự án đào tạogiảng dạy giáo lý qua mạng, với sự tham gia của nhiều trường đại học Công giáo ở Thái Lan và Hoa Kỳ. Các giám mục châu Á cũng nhận định rằng: “Sứ mạng phúc âm hoá của giáo hội không thể không chịu tác động sâu xa của các phương tiện thông tin đại chúng. Vì các phương tiện ấy ngày càng có ảnh hưởng nhiều hơn, ngay tại những vùng xa xôi của châu Á nên chúng có thể hỗ trợ rất nhiều cho công cuộc loan báo Tin mừng bất kể chân trời góc biển nào”(3). Ngày nay, các nhà truyền giáo không cần phải trèo đèo lội suối như những thế kỷ trước mà vẫn đạt hiệu quả. Việc đồng bào dân tộc thiểu số ở phía Bắc nước ta chỉ nghe đài phát thanh từ Manila hay Hồng Kông mà theo đạo là một bằng chứng. Mọi tin tức sinh hoạt giáo hội toàn cầu được cập nhật hàng ngày, thậm chí hàng giờ. Mỗi bước đi của Giáo hoàng được hàng tỷ người trên khắp thế giới theo dõi qua màn hình. Báo chí Công giáo cũng không phải phát hành qua bưu điện mới đến tay người đọc như trước đây, vừa mất thời gian vừa tốn kém cước phí vận chuyển. Chẳng hạn, bản tin Hiệp thông của Hội đồng giám mục Việt Nam được phép xuất bản từ năm 2001 với số lượng 100 bản, nhưng thực tế, rất khó kiểm soát nổi vì chỉ cần một đĩa mềm chứa nội dung đó là có thể nhân ra theo yêu cầu.

Qua 2000 năm tồn tại và phát triển, đạo Công giáo đã trở thành một tôn giáo lớn, có số lượng tín đồ đông nhất so với các tôn giáo khác hiện có. Theo Niên giám của giáo hội năm 2000, số tín đồ Công giáo toàn cầu là 1 tỷ 45 triệu người,  chiếm 17,4% dân số thế giới, tập trung chủ yếu ở các nước thuộc châu Mỹ (63,1%) và châu Âu (27,8%). Trong khi đó, ở châu Á, quê hương của Đức Giêsu, số giáo dân chỉ có hơn 105 triệu người, chiếm 10,5% giáo dân toàn cầu, bằng 3,1% dân số của châu lục này nhưng lại chủ yếu tập trung vào một vài nước như Philippin, Ấn Độ. Rõ ràng, đây là mảnh đất màu mỡ mà giáo hội nhắm tới để “gieo hạt” trong thiên niên kỷ mới này. Trong Tông huấn Giáo hội tại Á châu” (Ecclesia in Asia), Giáo hoàng Giăng Pôn II viết: “Nếu trong thiên niên kỷ thứ nhất của Kitô giáo, Thánh giá được trồng trên đất Âu châu, trong thiên niên kỷ Kitô giáo thứ hai, Thánh giá được trồng trên đất Mỹ châu và Phi châu, thì chúng ta có thể cầu xin trong thiên niên kỷ Kitô giáo thứ ba, Giáo hội sẽ được một mùa gặt lớn trên lục địa vừa rộng lớn vừa tràn trề sức sống này”(4). Như vậy, mục tiêu truyền giáo của giáo hội Công giáo đã chuyển hướng sang châu Á.

Toàn cầu hoá tạo điều kiện cho các quốc gia có thể tận dụng những lợi thế về kỹ thuật, công nghệ, vốn của những nước giàu và nguồn tài nguyên, lao động dồi dào, rẻ hơn của những nước nghèo. Đồng thời, nó cũng ngày càng đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo trên thế giới và ngay ở từng quốc gia. Tình trạng người lao động ở nông thôn đổ xô ra thành thị kiếm việc làm, hay người lao động ở các nước đang phát triển sang làm ăn ở các nước phát triển là một hiện tượng được giáo hội quan tâm. Các vùng và khu vực này ẩn chứa những tiềm năng lớn, hứa hẹn cung cấp nhiều tín đồ mới cho giáo hội, vì “nơi nào có đau khổ, ở đó có tôn giáo” (Bares). Tông huấn Giáo hội tại châu Mỹ” đưa ra nhận định rằng, giáo hội đã từng phúc âm hoá được nền văn hoá nông thôn trong nhiều thế kỷ, thì nay giáo hội được mời gọi thực hiện cuộc phúc âm hoá đô thị một cách có phương pháp và kết quả lâu dài. Rõ ràng, đạo Công giáo không chỉ thay đổi mục tiêu truyền giáo mà còn thay đổi cả địa bàn truyền giáo. Hiện nay, địa bàn truyền giáo của nó không bó hẹp trong phạm vị địa lý mà được mở rộng ra mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong Thư chung năm 2003, các giám mục Việt Nam viết: “Hãy mạnh dạn đến với những môi trường mới. Có thể đó là những môi trường địa lý chưa bao giờ được nghe rao giảng Tin mừng, những vùng đất chưa được in dấu chân nhà truyền giáo. Đó là những môi trường văn hoá, chính trị kinh tế, khoa học kỹ thuật… Đó là những lĩnh vực cần có sự hiện diện của Chúa Kitô, chứng tá của Hội thánh và ánh sáng của Tin mừng”(5).

Không chỉ thay đổi mục tiêu, địa bàn, đối tượng truyền giáo và sử dụng triệt để các phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ nhiệm vụ này, đạo Công giáo - dưới tác động của toàn cầu hoá, còn đổi mới cả đội ngũ nhân sự làm công việc truyền giáo. Nếu trước đây, nhiệm vụ truyền giáo chủ yếu được giao cho các giáo sĩ chuyên nghiệp tiến hành, thì ngày nay, việc rao giảng Tin mừng không còn là độc quyền của các giáo sĩ nữa mà trở thành bổn phận của mọi Kitô hữu. Trong Sứ điệp truyền giáo năm 2000, có đoạn viết: “Những ai đã từng cảm nghiệm niềm vui khi gặp gỡ Đức Kitô, sẽ không giữ lại cho riêng mình mà phải chia sẻ”(6). Vì thế, số giáo dân tham gia giảng dạy giáo lý (gọi là giáo lý viên) trong thời gian qua đã tăng lên nhanh chóng. Trước năm 1990, đội ngũ này có số lượng không đáng kể, nhưng đến năm 2001, nó đã lên tới 2,3 triệu người. Nhằm bù lấp lại sự thiếu hụt linh mục, do có nhiều người hồi tục và số người đi tu giảm sút nhất là tại châu Âu và châu Mỹ, giáo hội đã khôi phục lại chức phó tế vốn có từ thế kỷ thứ V nhưng sau đó bị mai một dần. Năm 2002, số phó tế toàn cầu đã lên tới 28.600 người, riêng châu Âu có 9200 người và châu Mỹ có 15000 người, trong đó Hoa Kỳ có 13.361 người. Sự thay đổi này đã mang lại một sức sống mới cho giáo hội. Tại Hoa Kỳ, sau các vụ bê bối do giáo sĩ lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên, giáo hội ở đây rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Có nơi, như ở Boston, giáo hội phải quyết định đóng cửa 50 nhà thờ để bán lấy tiền nộp phạt vì số tiền lên tới 85 triệu đôla. Mặc dù vậy, trong lễ Phục sinh năm 2003, vẫn có 100.000 người trở lại đạo Công giáo. Kết quả này có sự đóng góp rất lớn của đội ngũ phó tế(7). Tại một vài nơi thiếu linh mục nghiêm trọng, như Braxin có 139 triệu giáo dân mà chỉ có 15927 linh mục, giáo hội cho phép một số người cao tuổi đã có gia đình được nhậm chức linh mục, nhưng vẫn kiên quyết giữ luật độc thân linh mục và không phong chức linh mục cho phụ nữ như giáo hội Anh đã làm.

Một cách thức mới của giáo hội trong việc truyền giáo hiện nay là không chủ trương rao giảng bằng lời nói, mà thông qua các hoạt động từ thiện nhân đạo. Những phương pháp cổ điển của các dòng chuyên về hoạt động truyền giáo, như dòng Tên, dòng Đa minh, Hội Thừa sai Pari (MEP)… tỏ ra không có kết quả; trái lại, các dòng chuyên về hoạt động từ thiện xã hội, như dòng Don Bosco, dòng Thừa sai bác ái của Mẹ Têresa Cancutta, dòng Nữ tử bác ái Vinh sơn… lại được đánh giá cao. Giáo hoàng Giăng Pôn II nói: “Tôi cảm ơn các nhà truyền giáo, nhờ sự hiện diện đầy tình mến và sự phục vụ khiêm tốn đã hoạt động cho việc phát triển toàn diện con người cũng như xã hội, nhờ các cơ sở giáo dục, các trung tâm sức khoẻ, các trại phong, các nơi đón tiếp những người già cả và tàn tật, những sáng kiến thăng tiến phụ nữ và nhiều điều khác nữa… Quả thực, chính những công việc ấy đã làm chứng cho tinh thần của mọi hoạt động truyền giáo. Đó là tình yêu thương vẫn mãi mãi là động cơ thúc đẩy việc truyền giáo”(8). Các hoạt động từ thiện nhân đạo không những tạo ra được sự hấp dẫn, thu hút nhiều người đến với tôn giáo này mà còn tạo ra thiện cảm của cả chính quyền nữa. Có người hẳn sẽ ngạc nhiên thấy một số quốc gia như Campuchia vốn lấy Phật giáo là quốc đạo mà sau khi lật đổ Khơ me đỏ đã mở cửa đón nhiều dòng tu công giáo vào hoạt động. Đến nay, tổ chức giáo hội của nước này đã có 1 phủ doãn tông toà, 2 giám mục, 35 linh mục, 74 tu sĩ, 35 cơ sở truyền giáo và 19.000 giáo dân. Năm 1992, mặc dù không có một tín đồ công giáo nào, song Mông Cổ vẫn thiết lập quan hệ ngoại giao với Toà thánh Vaticăng, mời các dòng tu công giáo vào truyền giáo. Đến năm 2003, quốc gia này đã có 150 giáo dân, 35 tu sĩ nam nữ, 1 giám quản cùng với một số cơ sở từ thiện về giáo dục, y tế do giáo hội xây dựng. Và, nhằm đề cao các hoạt động từ thiện trong thế giới ngày nay, Mẹ Têresa Cancutta, người nhận giải Nôben hoà bình năm 1976 đã được lập hồ sơ phong thánh ngay sau khi qua đời 2 năm mà không phải đợi đến 5 năm như luật định.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, giáo hội Công giáo đã chủ động quốc tế hoá các hoạt động của mình. Quan hệ ngoại giao của Vaticăng được đẩy mạnh và mở rộng, từ 84 nước có quan hệ ngoại giao năm 1978 tăng lên 182 nước năm 2003. Giáo hoàng Giăng Pôn II, sau 25 năm trị vì, đã thực hiện 101 chuyến xuất ngoại và mặc dù đã sang tuổi 83, sức khoẻ không được tốt nhưng ông vẫn có kế hoạch đi Áo, Thuỵ Sĩ, Mêhicô trong năm 2004 này. Hồng y đoàn hiện có 193 người, đông nhất từ trước tới nay, có quốc tịch từ 69 nước, trong đó có cả những nước ở thế giới thứ ba như Ghana, Xuđăng, Nigiêria, Cuba, Việt Nam, Croatia…

Để tăng sức lôi cuốn, đạo Công giáo tổ chức nhiều buổi gặp gỡ theo nghề nghiệp, giới tính như ngày Quốc tế giới trẻ, ngày Bác sĩ công giáo, ngày Văn bút quốc tế… Ngày Quốc tế giới trẻ tổ chức năm 2000, ở Rôma, đã có 2 triệu người tham dự chứng tỏ những hình thức quy tụ này rất có hiệu quả. Giáo hội Công giáo, một mặt, chống lại một cách mạnh mẽ sự nghèo đói, xung đột chiến tranh; mặt khác, cũng chính thức lên tiếng xin lỗi trước công chúng vì những sai lầm trong lịch sử, từ thái độ bất bao dung với các tôn giáo khác đến cách ứng xử hà khắc với những nhà khoa học, thần học có quan điểm trái với giáo lý của giáo hội, như Galilê, Hus, Canvin, Luthơ… Giáo hoàng Giăng Pôn II đã nhiều lần lặp lại những lời này: “Hôm nay, tôi, Giáo hoàng của giáo hội Roma, nhân danh tất cả những người công giáo, tôi xin lỗi về tất cả những điều lầm lỗi đã gây ra cho người ngoài công giáo suốt dòng lịch sử sóng gió của các dân tộc này và đồng thời tôi đứng ra nhận làm người bảo lãnh về sự xin lỗi của giáo hội công giáo về tất cả những điều tổn hại mà con cái của giáo hội đã gây ra”(9). Giáo hội cũng có nhiều quan điểm cởi mở hơn, như phê phán tư tưởng “trời sinh voi trời sinh cỏ” và thay vào đó bằng quan niệm “sinh đẻ có trách nhiệm”... Giáo hội cũng chấp nhận nhiều nghi lễ, lối sống văn hoá của các tôn giáo, các dân tộc và cho phép thực hiện biến đổi gen trong chăn nuôi, trồng trọt để giải quyết vấn đề cung cấp thức ăn cho con người…

Không thể phủ nhận rằng, nhờ những thay đổi trên mà giáo hội Công giáo vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba. Tuy nhiên, tôn giáo này cũng không thể thoát khỏi quy luật của phép biện chứng. Đó là những mâu thuẫn, thách đố nảy sinh ngay trong quá trình canh tân, thích nghi của giáo hội.

2. Những thách đố đối với giáo hội Công giáo hiện nay

Trong tình hình toàn cầu hoá, giáo hội Công giáo cũng sớm nhận ra cả những thời cơ và thách đố đối với sự tồn vong của mình. Toà thánh Vaticăng nhận định: “Chưa bao giờ bằng bây giờ, người ta thấy mình có nhiều tài và khả năng như thế. Nhưng đồng thời, cũng chưa bao giờ trong lịch sử có nhiều sự phủ nhận và xúc phạm nhân phẩm như thế, kết quả của việc chối bỏ hay lãng quên Thiên chúa”(10). Biểu hiện của tình trạng này là xu hướng tục hoá đang diễn ra trầm trọng tại nhiều nước thuộc châu Âu và châu Mỹ vốn được coi là gốc đạo. Cuối năm 2003, giáo phận Boston (Hoa Kỳ) đã quyết định phải đóng cửa thêm 50 nhà thờ vì thiếu tiền, thiếu giáo dân, trong khi đó, suốt 18 năm vừa qua chỉ phải đóng cửa có 48 nhà thờ. Tại Rôma, thủ đô của giáo hội, số tín hữu đi nhà thờ cũng chỉ chiếm 15-20%. Ở Đức, mỗi năm có khoảng 100.000 tín hữu làm đơn xin ra đạo để khỏi phải đóng thuế thu nhập. Còn tại Pháp, số linh mục giảm đi nhiều, năm 1948 có 42.500 vị, đến năm 2001 chỉ còn 26.598 vị với tuổi đời bình quân là 70. Để bù lấp sự thiếu hụt này, giáo hội chuyển hướng sang châu Á và vì vậy, ở Mông Cổ đã có mặt các nhà truyền giáo người Philippin, hoặc ở châu Phi có mặt các thừa sai người Nam Hàn. Tuy nhiên, ở châu Á, đạo Công giáo cũng gặp những cản trở vì vẫn bị coi là xa lạ, bởi nơi đây có rất nhiều tôn giáo đã gắn bó lâu đời với các cộng đồng dân cư bản địa và có ảnh hưởng lớn trong đời sống xã hội. Vì vậy, nó vẫn bị nghi kỵ và khó chấp nhận ở “miền đất mới” này và thực tế, những tranh chấp tôn giáo vẫn luôn xảy ra, như với Tin lành ở Bắc Ailen, với Hồi giáo ở Philippin và Indonesia, với Chính thống giáo ở Nga hoặc Ấn giáo ở Ấn Độ…

Một vấn đề khác là sự khủng hoảng về niềm tin, lối sống, đạo đức, hôn nhân gia đình do mặt trái của toàn cầu hoá cũng như sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu cộng với những luật lệ khắt khe của đạo Công giáo đã làm cho không ít người bỏ đạo và đi theo các giáo phái khác. Đài Veritat Asia ngày 16-2-1996 đưa tin rằng, tại châu Mỹ Latinh, mỗi ngày có khoảng 8000 người Công giáo bỏ đạo theo các giáo phái. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do có quá ít linh mục, mỗi người phải coi sóc từ 8-10000 tín hữu; hơn nữa, đa số các linh mục là người ngoại quốc, ít hiểu phong tục tập quán của địa phương. Trong khi đó, các giáo phái khác nhau mọc lên như nấm. Theo Đại từ điển Bách khoa của Anh thống kê năm 1991, số lượng giáo phái ở châu Phi là 8000, châu Mỹ latinh có 3000, châu Úc 1000, riêng Nhật Bản và Đông Bắc Á có 700 giáo phái.

Ngoài ra, một vấn đề khác luôn được giáo hội nhắc đến gần đây là khái niệm “hội nhập văn hoá”. Giáo hoàng Giăng Pôn II cho rằng, cuộc đối thoại giữa đức tin và văn hoá trong thời đại ngày nay là vấn đề mang tính sinh tử. Thật ra, vấn đề này cũng không có gì mới, bởi vì, ngay từ năm 1659, Vaticăng đã nhắc nhở các giám mục được cử tới Việt Nam rằng, “các thừa sai phải được huấn luyện theo bác ái và tin mừng, biết thích nghi với phong tục và tính tình người khác. Hãy rao giảng cho tín hữu biết bổn phận trung thành với chính quyền… Đừng đưa vào nước của họ nước của mình mà là đức tin. Đức tin này không làm tổn thương hay khai trừ những nghi lễ tập tục của bất kỳ dân tộc nào”(11). Thế nhưng, sự căn dặn đó đã không được thi hành triệt để biểu hiện ở chỗ, các thừa sai vẫn bắt tân tòng khi gia nhập đạo phải cắt tóc ngắn, bỏ trang phục truyền thống, bỏ tên cúng cơm của cha mẹ đặt cho…

Một số giáo sĩ có tinh thần tiến bộ như A.Rhodes cũng bất bình về cách cư xử như vậy với người dân bản xứ. Ông viết: “Ở trong thành và miền lân cận có nhiều lương dân đang theo học để theo đạo. Nhưng tôi không thể giấu hai điều làm cho chúng tôi không hài lòng khi qua khu vực này. Theo tôi, đó là việc làm cho người lương dân không muốn vào đạo ta. Tôi cũng thấy khó xử. Người ta tỏ ra rất tôn trọng và mơn trớn lương dân, thế nhưng khi đã rửa tội cho họ rồi thì người ta không thèm nhìn tới họ nữa. Hơn nữa, khi người ta trở lại, người ta lại bắt họ phải cởi bỏ y phục xứ sở, y phục của tất cả những người lương dân. Không thể tưởng tượng được, lương dân rất bất bình… Tại Trung Quốc, tôi đã cực lực phản đối những kẻ bắt giáo dân tân tòng phải cắt tóc, họ có thói quen để tóc dài như đàn bà, nếu không, họ không được tự do đi lại trong xứ hay đến thăm các nhà dòng. Tôi đã bảo những kẻ ấy rằng, Phúc âm bắt họ gạt bỏ những điều sai lầm khỏi tâm trí chứ không phải mớ tóc trên đầu”(12).

Chính những điều đó đã dẫn đến sự đụng độ, va chạm về văn hoá, tín ngưỡng tôn giáo và lệnh cấm đạo được ban hành ở nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam kéo dài nhiều thế kỷ dưới thời phong kiến, gây thiệt hại nặng nề cho giáo hội. Đây là bài học đau xót cho đạo Công giáo và Giáo hoàng Pôn VI phải đưa ra hiến chương về hội nhập văn hoá năm 1975 qua thông điệp “Loan báo Phúc âm”. Hội nhập văn hoá, theo Giáo hoàng Giăng Pôn II, là sự nhập thể phúc âm vào nền văn hoá bản xứ và dẫn nhập các nền văn hoá đó vào đời sống giáo hội. Lúc đầu, quan niệm hội nhập đó chỉ mang tính một chiều: “Tin mừng được tháp nhập vào nền văn hoá bản địa để sàng lọc và thanh tẩy nó”, và, mãi sau này, mới theo hai chiều là Tin mừng và văn hoá bổ sung cho nhau. Tuy nhiên, ngay vấn đề này cũng gặp phải sự chống đối từ chính hàng ngũ giáo sĩ cao cấp. Giám mục Lefebvre - Tổng giám mục Darka  (Pháp) không chấp nhận việc dùng tiếng bản xứ thay cho tiếng Latinh và đưa các phong tục địa phương vào nghi lễ của giáo hội. Năm 1976, ông tự phong linh mục, giám mục bất chấp lệnh cấm của Vaticăng và lập ra giáo hội riêng. Ông tố cáo Giáo hoàng Pôn VI là “ giáo hội gian dâm với cách mạng”.

Một vấn đề nữa đặt ra khi hội nhập văn hoá dân tộc là làm giảm tính quốc tế của tôn giáo này. Người châu Phi không thể chấp nhận tranh ảnh đạo vẽ thần thánh là màu da trắng, còn ma quỷ là màu da đen. Thế nhưng, khi mỗi dân tộc tự trình bày khuôn mặt Chúa giống người dân tộc mình, như các bức tranh vẽ Đức Mẹ Việt Nam mặc trang phục Việt Nam, một câu hỏi không thể không đặt ra và cũng không dễ trả lời: vậy thì sự thật lịch sử là như thế nào? Chúa Giêsu là người châu Á hay người châu Âu?

Công giáo vẫn thường được coi là tôn giáo của người nghèo. Công đồng Vaticanô 2 tuyên bố rằng: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, vì không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ”(13). Tuy nhiên, giáo hội cũng lo lắng về những phong trào dấn thân cho người lao động, như phong trào linh mục thợ năm 1950 ở Pháp, Thần học giải phóng ở châu Mỹ Latinh những năm 80 hay một số phong trào công giáo yêu nước ở các nước xã hội chủ nghĩa trước kia cũng như hiện nay. Nhiều thần học gia nổi tiếng đã bị kết án như Chenu, Congar, Pheret, Boisêlot… Đạo Công giáo từng tuyên bố giữ lập trường phi chính trị, nhưng trong một văn bản mới đây, Toà thánh cũng kể công “đã đánh bại một cách ngoạn mục chủ nghĩa mácxít - lêninnít vô thần tập thể, ý thức hệ đối lập hay chủ nghĩa tự do”(14). Tuy vậy, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, vai trò của Vaticăng không còn được Hoa Kỳ coi trọng như trước đây. Điều đó thể hiện ở chỗ, trong cuộc chiến xâm lược Irắc vừa qua do Hoa Kỳ đơn phương phát động, Toà thánh đã cực lực phản đối và cử đoàn đại biểu sang gặp Tổng thống Hoa Kỳ nhưng không được lắng nghe. Khi cuộc chiến nổ ra, ngoại trưởng Vaticăng, lúc đó là Hồng y Tauran, lên án cuộc chiến này khiến đại sứ Hoa Kỳ ở Roma là Gi.Nichenson (J.Nichelsol) nổi giận và Toà thánh đã phải thay một ngoại trưởng mới là Tổng giám mục Giovanni Lagiolo (người Italia lai Hoa Kỳ). Như vậy, rốt cuộc Vaticăng cũng phải luỵ nước giàu, nước mạnh.

Rõ ràng, toàn cầu hoá đang đặt trước đạo Công giáo cả những thời cơ lẫn thách thức. Đây là một biện chứng khách quan của hiện thực và đạo Công giáo cũng không thể trốn tránh được quy luật tất yếu đó.

 

 


(*) Báo Người Công giáo Việt Nam.

(1) Hồng y giám mục Trịnh Văn Căn. Kinh thánh Tân ước. Toà Tổng giám mục Hà Nội, 1989, tr. 81.

(2) Bản tin Hiệp thông của Hội đồng Giám mục Việt Nam, số 5 – 1999, tr. 62.

(3) Sđd., số 7 – 2000, tr. 131.

(4) Sđd., số 7 – 2000, tr. 14.

(5) Thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Báo Người Công giáo Việt Nam, số 43, ngày 25 – 10 – 2003, tr.4.

(6) Bản tin Hiệp thông của Hội đồng Giám mục Việt Nam,  số 9 – 2000, tr. 27.

(7) Xem: Báo Người Công giáo Việt Nam, số 7, ngày 13 – 2 – 2004.

(8) Bản tin Hiệp thông của Hội đồng Giám mục Việt Nam, số 12,  2002, tr. 41.

(9) Luigi Accattoli: Quand le Papa demande pardon. Albil Michel, 2000, p. 189.

(10) Bản tin Hiệp thông của Hội đồng Giám mục Việt Nam, số 5- 1999, tr. 61.

(11) Giáo lý giáo hội Công giáo. Nxb Thuận Hoá, 1996, tr.158.

(12) A.de Rhodes. Hành trình truyền giáo. Tủ sách Đại kết, 1994, tr.16.

(13) Gaudium et Spes. Thánh công đồng Vaticanô 2. Đà Lạt, 1972, tr.727.

(14) Bản tin Hiệp thông của Hội đồng giám mục Việt Nam,  số 5, 1999, tr.59.

Đã xem: 1067
Thời gian đăng: Thứ tư - 17/06/2015 05:03
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất