QC Shop

Đổi mới quản lý các doanh nghiệp nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

TS. Nguyễn Văn Thức(*)

Nguồn: Triết học, số 5 (132), tháng 5-2002

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, "kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế"(1).

Xem xét cả trên phương diện lý luận lẫn phương diện thực tiễn, nếu không có một lực lượng kinh tế đủ mạnh làm công cụ và chỗ dựa thì sự lựa chọn con đường phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta không thể thực hiện được. Chính vì thế mà thành phần kinh tế nhà nước nói chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng, có một vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nước ta. Để phát huy vai trò đặc biệt này, doanh nghiệp nhà nước không chỉ là công cụ trong tay Nhà nước mà cao hơn, phải trở thành hình mẫu tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, hơn hẳn các doanh nghiệp dựa trên các loại hình sở hữu khác. Vấn đề làm thế nào để doanh nghiệp nhà nước có thể phát huy được vai trò đó, thì cho đến nay, các nhà hoạt động lý luận và thực tiễn vẫn đang trong quá trình tiếp tục làm sáng tỏ. Theo chúng tôi, để phát huy vai trò của các doanh nghiệp nhà nước, cần đổi mới tổ chức quản lý nhà nước phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các doanh nghiệp đó. Nhưng để có được cách tổ chức quản lý mới của Nhà nước và phương thức lãnh đạo có hiệu quả, trước hết cần phải biết những nguyên nhân nào dẫn đến hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước.

Một vấn đề đặt ra là, để đánh giá đúng, khách quan hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, chúng ta cần có sự thống nhất trong cách đánh giá. Hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước. Có ý kiến cho rằng, đánh giá doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả hay không nhất thiết phải xét từng doanh nghiệp. Điểm hợp lý của ý kiến này là, mục đích của sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường là hướng tới lợi nhuận. Nếu doanh nghiệp nhà nước hoạt động không có lợi nhuận thì phải đình chỉ đầu tư thêm vốn, thậm chí rút vốn ra để đầu tư vào lĩnh vực khác. Do đó, cần phải thu hẹp và giải thể càng nhanh càng tốt các doanh nghiệp nhà nước làm ăn không có lãi để tránh việc làm suy giảm thêm sức cạnh tranh vốn đã yếu kém và tình trạng làm ăn thua lỗ kéo dài của hệ thống doanh nghiệp hiện nay.

Ý kiến khác lại chú trọng đến khía cạnh chính trị của vấn đề, khi cho rằng không chỉ cần phải giữ nguyên các doanh nghiệp hiện có, mà còn phải phát triển càng nhanh càng tốt về số lượng các doanh nghiệp, cũng như quy mô của từng doanh nghiệp để đảm bảo cho thành phần kinh tế của Nhà nước nói chung và hệ thống các doanh nghiệp nhà nước nói riêng thực hiện được vai trò chủ đạo và định hướng nền kinh tế nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Theo chúng tôi, cả hai loại ý kiến trên đều không phù hợp với đặc điểm, thực trạng của nền kinh tế nước ta hiện nay. Bởi vì, khi xem xét hiệu quả của doanh nghiệp cần phải chú ý tới hai phương diện:

Thứ nhất, vai trò của hệ thống các doanh nghiệp cần phải được xem xét cả ở góc độ hiệu quả kinh tế lẫn góc độ chính trị - xã hội. Bởi vì, hệ thống các doanh nghiệp không chỉ có vai trò chủ đạo làm cho nền kinh tế quốc dân phát triển với hiệu quả kinh tế cao, mà còn là lực lượng nòng cốt, chủ lực để chúng ta giải quyết các vấn đề chính trị - xã hội của đất nước.

Thứ hai, cần xem xét hiệu quả và vai trò của doanh nghiệp như là một hệ thống hơn là hiệu quả cá biệt của từng doanh nghiệp. Bởi vì, dù các doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân độc lập đến đâu đi chăng nữa thì chúng cũng đều thuộc Nhà nước. Hệ thống các doanh nghiệp nhà nước mạnh tức là thành phần kinh tế nhà nước có tiềm lực kinh tế mạnh, đủ sức cạnh tranh và định hướng được sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế đất nước. Dĩ nhiên, sẽ không có một hệ thống mạnh nếu như từng bộ phận cấu thành của nó yếu kém. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để yếu tố hiệu quả, lợi nhuận trở thành mối quan tâm hàng đầu của từng doanh nghiệp.

Có một thực tế đáng buồn là, từ nhiều năm qua, đặc biệt là những năm gần đây, mặc dù chúng ta đã tích cực và chủ động đổi mới cơ chế quản lý và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, nhưng nhìn chung, hiệu quả của chúng còn thấp, chưa đạt được mức như chúng ta mong muốn. Thậm chí, trong 5 năm trở lại đây, hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm. Điều đó thể hiện ở các mặt: công nghệ lạc hậu, quản lý yếu kém, doanh thu và lợi nhuận được tạo ra từ một đồng vốn đầu tư tiếp tục suy giảm; danh sách các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ ngày càng dài; tệ nạn tham nhũng và thiếu trách nhiệm làm thất thoát tài sản của Nhà nước có chiều hướng gia tăng; nợ tồn đọng kéo dài, không được giải quyết kịp thời đã tạo ra tình trạng lãi giả, lỗ thật một cách phổ biến đối với hầu hết các doanh nghiệp nhà nước (trừ một số ngành như dầu khí, bưu điện...). Chẳng hạn, kết quả khảo sát doanh nghiệp nhà nước của 10 ngành cho thấy, ngoài một số doanh nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại và trung bình của thế giới và khu vực, số còn lại lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm, thậm chí 30 năm. Đến tháng 5 năm 2001 mới chỉ có 4,1% doanh nghiệp nhà nước được chứng nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, kết quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước cũng chưa tương xứng với nguồn vốn đầu tư và hỗ trợ của Nhà nước: từ năm 1997 - 2000, Nhà nước đã đầu tư thêm cho các doanh nghiệp nhà nước gần 8200 tỷ đồng, miễn giảm thuế 1351 tỷ đồng, xoá nợ 1080 tỷ đồng, khoanh nợ 3392 tỷ đồng, giãn nợ 540 tỷ đồng, giảm tính khấu hao 200 tỷ đồng và cho vay ưu đãi đầu tư 900 tỷ đồng. Trong khi đó, tính đến năm 2000 chỉ có 40% số doanh nghiệp nhà nước kinh doanh có hiệu quả, có tới 29% số doanh nghiệp nhà nước bị lỗ liên tục (2).

Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả do nhiều nguyên nhân, như các doanh nghiệp vẫn đang còn phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề từ thời bao cấp; khả năng tự đổi mới công nghệ, phát triển ngành nghề và đa dạng hoá sản phẩm còn yếu kém, dẫn đến sức cạnh tranh thấp; trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn sản xuất kinh doanh hiện đại; tệ nạn tham nhũng và thiếu trách nhiệm có xu hướng gia tăng ... Chúng ta có thể kể ra đây nhiều nguyên nhân khác nữa dẫn đến tình trạng kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do chúng ta chưa có được một cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn sản xuất hiện nay. Điều đó thể hiện ở chỗ, một mặt, chúng ta đã trao quyền tự chủ khá rộng rãi cho các doanh nghiệp, nhưng mặt khác, chúng ta lại chưa có được hình thức hợp lý trong việc thể chế hoá sở hữu nhà nước. Và đây chính là  nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay.

Vấn đề được đặt ra là, để giải quyết những nguyên nhân trên cần đổi mới tổ chức quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước theo hướng nào?

Trước hết, cần phải nhận thấy rằng quá trình đổi mới quản lý tổ chức  nhà nước là quá trình cải tiến và hoàn thiện quan hệ sản xuất. Điều đó cũng có nghĩa là, để phát huy hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, chúng ta cần có một cơ chế tổ chức, quản lý phù hợp với trình độ và yêu cầu phát triển của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay. Trong quá trình tìm kiếm cơ chế quản lý mới, chúng ta có thể và cần phải tìm ra nhiều biện pháp hữu hiệu. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến hai giải pháp sau đây:

Thứ nhất, cần thực hiện chế độ quản lý công ty đối với tất cả các doanh nghiệp nhà nước.

Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước đã được trao quyền tự chủ trong hạch toán kinh doanh. Tuy nhiên, về thực chất, đa số các doanh nghiệp nhà nước hiện vẫn đang hoạt động theo cơ chế cũ, tỷc là cơ chế “xin- cho” và ỷ lại vào Nhà nước. Trong cơ chế đó, sự năng động của giám đốc doanh nghiệp được đánh giá bằng việc kiếm được nhiều dự án hoặc làm thế nào xin được nhiều tiền đầu tư của Nhà nước. Sau khi xin được tiền đầu tư của Nhà nước, không ít giám đốc dùng số tiền đó vào việc mua sắm các trang thiết bị đắt tiền, ô tô sang trọng, tiếp khách và không chú ý nhiều đến công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình. Với cơ chế đó, tình trạng các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ kéo dài, tội tham nhũng, hối lộ và sự thoái hoá, biến chất trong một bộ phận không nhỏ cán bộ Nhà nước là khó tránh khỏi.

Để sớm khắc phục tình trạng trên, theo chúng tôi, cần thực hiện sớm chế độ quản lý công ty đối với tất cả các doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, các doanh nghiệp nhà nước đều phải hoạt động theo Luật doanh nghiệp, thực sự là một pháp nhân trong kinh doanh, là một chủ thể tự chủ kinh doanh, lời ăn, lỗ chịu và có đầy đủ các quyền trong kinh doanh như các loại hình doanh nghiệp khác.

Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động theo chế độ quản lý công ty thông qua Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Uỷ ban kiểm soát và Giám đốc điều hành. Giám đốc điều hành do Hội đồng quản trị tuyển chọn từ nhiều nguồn (cả trong và ngoài nước), là người có kinh nghiệm kinh doanh, có tinh thần trách nhiệm, gắn bó với sự thành đạt của doanh nghiệp, được trả lương theo năm và theo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài trong nhiều năm thì Hội đồng quản trị phải xem xét nguyên nhân để có thể bãi nhiệm hoặc quy trách nhiệm cho giám đốc theo luật định.

Cơ chế đó cần được áp dụng ngay cả đối với các doanh nghiệp nhà nước. Các cấp Nhà nước có thẩm quyền thành lập Hội đồng quản trị đối với các doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước và cử cán bộ tham gia Hội đồng quản trị ở các doanh nghiệp nhà nước có cổ phần chi phối hoặc không chi phối theo Luật công ty.

Những người được Nhà nước cử tham gia Hội đồng quản trị là những người đại diện chủ sở hữu của vốn nhà nước và phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và pháp luật về việc bảo toàn và phát triển vốn đó. Lương của các thành viên Hội đồng  quản trị do Nhà nước cử được trả theo năm, gắn với hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn nhà nước và một phần từ kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà Nhà nước có cổ phần.

Thực chất của việc thực hiện chế độ quản lý công ty đối với mọi doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước là quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp, là sự đổi mới và cải tiến hình thức đầu tư vốn của các công ty tài chính nhà nước nhằm thực hiện đa dạng hoá sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước.

Thứ hai, đổi mới chức năng quản lý nhà nước và phương thức lãnh đạo của Đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước.

Cũng như các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất và kinh doanh trong khuôn khổ và phạm vi của luật pháp Nhà nước. Do đó, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bằng quyền lực hành chính, mà chi phối chúng dưới hình thức là một cổ đông, thông qua những đại diện của sở hữu vốn nhà nước được cử tham gia Hội đồng quản trị. Đối với những doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng, Nhà nước có thể chiếm tới 100% vốn, hoặc tham gia cổ phần chi phối để vừa có thể chi phối hoạt động kinh doanh với tư cách là cổ đông chi phối, vừa có thể quyết định với tư cách là Nhà nước. Như vậy, phương thức lãnh đạo của Nhà nước được chuyển từ hình thức hành chính, mệnh lệnh sang hình thức kinh tế, mà biểu hiện trực tiếp của nó là vốn và năng lực quản lý của người đại diện. Đó cũng chính là biện pháp nhằm kết hợp chặt chẽ giữa vốn (sở hữu) với khâu quản lý trong quá trình cải tiến, hoàn thiện quan hệ sản xuất.

Bên cạnh đó, phương thức lãnh đạo của Đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước cần phải có sự đổi mới sao cho phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp theo chế độ công ty. Bí thư và một số thành viên chủ chốt của tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp tham gia Hội đồng quản trị được tổ chức theo cơ chế đề cử đối với doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước và được giới thiệu để Đại hội cổ đông bầu vào Hội đồng quản trị hoặc làm chủ tịch Hội đồng quản trị.

Tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp phát huy vai trò lãnh đạo của mình thông qua công tác giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát huy vai trò của người lao động, bảo vệ lợi ích của người lao động và các chủ sở hữu, khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản trị kinh doanh hiện đại cho người lao động và cán bộ quản lý. Để có thể làm tốt vai trò lãnh đạo của mình, các đảng viên cần có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực quản lý kinh doanh để có thể được tín nhiệm và giới thiệu vào bộ máy quản trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cần tổ chức giám sát chặt chẽ người được giao làm chủ đại diện cho phần vốn thuộc sở hữu nhà nước; khuyến khích đảng viên gương mẫu trong việc thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước; mạnh dạn cùng Nhà nước đầu tư sản xuất, kinh doanh để làm giàu cho mình và làm giàu cho xã hội.

Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách đối với các doanh nghiệp nhà nước để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả của chúng đang đặt ra trước chúng ta những thách thức lớn với rất nhiều khó khăn nan giải. Nếu không quyết tâm thực hiện một cách triệt để, nhất quán các cơ chế, chính sách đã được đổi mới, chúng ta sẽ có nguy cơ không duy trì được những thành tựu kinh tế - xã hội đã đạt được trong những năm đổi mới vừa qua và làm suy giảm khả năng sớm hòa nhập với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế giới.

Phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là xu hướng khách quan và tất yếu của xã hội ta hiện nay. Tuy nhiên, xu hướng đó chỉ có thể trở thành hiện thực khi nó được cụ thể hoá trong từng lĩnh vực cụ thể của đời sống kinh tế - xã hội, mà một trong những lĩnh vực quan trọng là quản lý các doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, đổi mới quản lý các doanh nghiệp nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nhằm mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

 


(*) Tiến sĩ Triết học, Viện Triết học.

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 30.

(2) Xem: Tô Huy Dứa. Doanh nghiệp nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tạp chí Cộng sản, số đặc biệt + số 2, 2001, tr. 33.

 

Đã xem: 2325
Thời gian đăng: Thứ tư - 04/02/2015 02:30
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất