QC Shop

Kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội

Nguyễn Ngọc Hà(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 8 (171), tháng 8 - 2005

Trước đổi mới người ta quan niệm rằng, kinh tế thị trường không tồn tại trong chủ nghĩa xã hội, còn sau đổi mới, người ta lại quan niệm rằng kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ nghĩa xã hội. Sự thay đổi này có nguyên nhân ở sự thay đổi quan niệm về chủ nghĩa xã hội từ chỗ coi chủ nghĩa xã hội là xã hội nhất thiết có chế độ công hữu đến chỗ coi chủ nghĩa xã hội là xã hội không nhất thiết có chế độ công hữu. Trình tự phát triển của kinh tế thị trường là: kinh tế phi thị trường nguyên thủy ® kinh tế thị trường nhỏ ® kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ® kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ® kinh tế phi thị trường văn minh. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không có công bằng, còn kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa có công bằng vì chủ nghĩa xã hội là xã hội công bằng.

 

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Trong sách báo lý luận mácxít trước đổi mới, người ta quan niệm rằng chủ nghĩa xã hội là một xã hội không có kinh tế thị trường, mặc dù trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn có kinh tế thị trường ở một mức độ nào đó; còn sau đổi mới, người ta quan niệm rằng kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ nghĩa xã hội. Sự thay đổi quan niệm từ chỗ không thừa nhận đến chỗ thừa nhận có kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội là cần thiết(1). Nhưng vì sao có sự thay đổi ấy (vì quan niệm về kinh tế thị trường thay đổi hay vì quan niệm về chủ nghĩa xã hội thay đổi) và sự khác nhau giữa kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là gì? Đây là hai vấn đề còn ít được quan tâm. Bài viết này sẽ đề cập đến hai vấn đề ấy.

1. Điều kiện ra đời và tồn tại của kinh tế thị trường

Thông thường, người ta hiểu thị trường là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hóa, còn hàng hoá là sản phẩm do con người sản xuất ra để trao đổi trên thị trường. Vậy, kinh tế thị trường là gì? Hiện đang có ít nhất hai cách hiểu khác nhau về khái niệm này. Thứ nhất, kinh tế thị trường chính là kinh tế hàng hóa, hay cũng có thể coi kinh tế hàng hóa là kinh tế thị trường. Thứ hai, kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao nhất của kinh tế hàng hóa. Chẳng hạn, có tác giả viết: “Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao nhất của kinh tế hàng hóa, trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường”(2). Theo cách hiểu thứ hai này thì kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa, nhưng không phải mọi kinh tế hàng hóa đều là kinh tế thị trường. Chúng ta có thể sử dụng khái niệm kinh tế thị trường theo một trong hai cách hiểu nói trên. Tuy nhiên, để thuận lợi hơn cho việc xem xét mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, sau đây chúng tôi sử dụng khái niệm kinh tế thị trường theo cách hiểu thứ nhất.

Nói đến kinh tế thị trường (= kinh tế hàng hoá) thì cần phải xác định điều kiện ra đời và tồn tại của nó. Có quan niệm cho rằng, kinh tế thị trường ra đời và tồn tại khi có hai điều kiện là phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu (về tư liệu sản xuất). Trong xã hội có chế độ tư hữu, các cá nhân được quyền sở hữu riêng về tư liệu sản xuất, còn trong xã hội có chế độ công hữu thì ngược lại, các cá nhân không được quyền sở hữu riêng về tư liệu sản xuất. Xã hội nào ít nhiều cũng có sự phân công lao động, nhưng không phải xã hội nào cũng có chế độ tư hữu. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy đã có sự phân công lao động (chẳng hạn, giữa người chuyên săn bắt và người chuyên trồng trọt) nhưng vẫn chưa có chế độ tư hữu và do đó, chưa có kinh tế thị trường. Tương tự, trong xã hội cộng sản tương lai cũng không có chế độ tư hữu và do đó, cũng sẽ không có kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường chỉ tồn tại trong các xã hội có chế độ tư hữu. Không có chế độ tư hữu và phân công lao động thì không thể có kinh tế thị trường. Quan niệm như vậy về điều kiện ra đời và tồn tại của kinh tế thị trường được thừa nhận trong các sách giáo khoa kinh tế - chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây.

Quan niệm khác lại cho rằng, một xã hội trong đó không có chế độ tư hữu nhưng vẫn có thể có sự tồn tại của kinh tế thị trường. Chẳng hạn, một số tác giả viết: “Các sách giáo khoa kinh tế - chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây viết rằng: hai điều kiện ra đời và tồn tại của kinh tế hàng hóa là sự phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất... từ đó đi tới kết luận sai lầm rằng vì không còn chế độ tư hữu nên cũng không còn sản xuất hàng hóa nữa”(3)  .

Trong hai quan niệm trên, quan niệm thứ nhất, theo chúng tôi, là đúng đắn. Để có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì phải có ít nhất hai người chủ sở hữu. Nhưng trong chế độ công hữu (như ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây), chỉ còn lại duy nhất một người chủ sở hữu là “toàn dân”. Sản phẩm được trao đổi giữa các đơn vị kinh tế trong xã hội đó không phải là hàng hóa theo đúng nghĩa của từ này. Nếu “toàn dân” là người chủ sở hữu duy nhất thì người đó sẽ không cần phải trao đổi hàng hoá với chính mình. Chúng ta không thể coi các giám đốc của các doanh nghiệp nhà nước là những người chủ sở hữu để từ đó cho rằng, giữa họ có sự trao đổi hàng hóa. Người chủ sở hữu của đơn vị sản xuất hàng hóa phải là người được hưởng khi có lãi và chịu thiệt hại khi bị lỗ. Thế nhưng, khi một doanh nghiệp nhà nước nào đó bị lỗ thì người chịu thiệt hại là nhà nước (đại diện của “toàn dân”) chứ không phải là giám đốc của doanh nghiệp nhà nước ấy. Nhà nước là người chủ sở hữu duy nhất của tất cả doanh nghiệp nhà nước, các giám đốc chỉ là “những người lao động làm thuê” cho nhà nước.

Trong chế độ tư hữu, có rất nhiều người chủ sở hữu khác nhau và nhờ đó, mới có kinh tế thị trường. Ở nước ta hiện nay, chế độ sở hữu là chế độ tư hữu(4) và vì thế, nền kinh tế là nền kinh tế thị trường. Những người chủ trang trại (hoặc những chủ hộ nông dân) tuy không có quyền sở hữu ruộng đất (vì theo luật pháp, đất đai thuộc sở hữu toàn dân) nhưng vẫn được coi là những người chủ sở hữu, chứ không phải là những người lao động làm thuê. Họ tuy không có quyền sở hữu ruộng đất nhưng có quyền sử dụng ruộng đất trong thời hạn luật định; nghĩa là có một sức mạnh kinh tế nhất định đã được thừa nhận và do đó, có thể được coi là chủ (sở hữu) một loại tư liệu sản xuất. Hơn nữa, họ còn là những người chủ sở hữu đích thực của nhiều loại tư liệu sản xuất khác. Nói cách khác, với những quyền đã có, họ là những người chủ sở hữu trong nền kinh tế thị trường, trong khi các giám đốc của các doanh nghiệp nhà nước không phải là những người chủ sở hữu.

Chế độ tư hữu và kinh tế thị trường gắn liền với nhau như hình với bóng. Trên thực tế, kinh tế thị trường cũng như chế độ tư hữu được biểu hiện ở nhiều hình thức và nhiều trình độ phát triển khác nhau; thêm vào đó, còn có nhiều bước trung gian trong quá trình thay đổi từ chỗ có kinh tế thị trường đến chỗ không có kinh tế thị trường, từ chỗ có chế độ tư hữu đến chỗ không có chế độ tư hữu. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, khi thừa nhận kinh tế thị trường, chúng ta cũng phải thừa nhận chế độ tư hữu. Và như vậy, quan niệm về điều kiện ra đời và tồn tại của kinh tế thị trường, trước và sau đổi mới, không thay đổi.

2. Chủ nghĩa xã hội với chế độ công hữu và sự công bằng

Khi cho rằng kinh tế thị trường có tồn tại trong chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải xác định rõ nội dung của cả khái niệm kinh tế thị trường lẫn khái niệm chủ nghĩa xã hội. Giống như khái niệm kinh tế thị trường đã được phân tích trên đây, khái niệm chủ nghĩa xã hội cũng đang được sử dụng không theo một nghĩa. Trong sách báo lý luận, khái niệm chủ nghĩa xã hội ít nhất được sử dụng theo hai nghĩa sau. Thứ nhất, đó là xã hội có nền kinh tế giàu mạnh, có sự công bằng trong quan hệ giữa người với người và nhất thiết phải có chế độ công hữu (trong đó chế độ công hữu được coi là điều kiện cần để có nền kinh tế giàu mạnh và quan hệ công bằng giữa người với người). Thứ hai, đó là xã hội có nền kinh tế giàu mạnh, có sự công bằng trong quan hệ giữa người với người và không nhất thiết có chế độ công hữu.

 Trước đổi mới, chúng ta cho rằng, chủ nghĩa tư bản là xã hội bất công, chế độ tư hữu tư bản (hình thức phát triển cao nhất của chế độ tư hữu) là nguyên nhân gây ra sự bất công ấy; rằng, còn chế độ tư hữu tư bản thì còn sự bất công, muốn xóa bỏ sự bất công thì phải xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản nói riêng và chế độ tư hữu nói chung. Nói cách khác, chúng ta coi chủ nghĩa xã hội là xã hội có nền kinh tế giàu mạnh, có sự công bằng trong quan hệ giữa người với người và nhất thiết có chế độ công hữu (theo nghĩa thứ nhất).

Sau đổi mới, chúng ta quan niệm rằng, chủ nghĩa xã hội là một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Căn cứ vào định nghĩa này chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, hiện nay, chủ nghĩa xã hội không còn được quan niệm là “xã hội có kinh tế giàu mạnh, có sự công bằng trong quan hệ giữa người với người và nhất thiết có chế độ công hữu”, mà là “xã hội có kinh tế giàu mạnh, có sự công bằng trong quan hệ giữa người với người và không nhất thiết có chế độ công hữu” (theo nghĩa thứ hai).

Như đã nói ở trên, phân công lao động và chế độ tư hữu là những điều kiện cho sự ra đời và tồn tại của kinh tế thị trường. Trong điều kiện có phân công lao động, khi còn kinh tế thị trường sẽ còn chế độ tư hữu, hay nói cách khác, khi không còn chế độ tư hữu sẽ không còn kinh tế thị trường. Nếu chủ nghĩa xã hội được quan niệm là xã hội nhất thiết phải có chế độ công hữu (cũng có nghĩa là nhất thiết phải xoá bỏ chế độ tư hữu) thì chủ nghĩa xã hội sẽ không có kinh tế thị trường. Còn nếu chủ nghĩa xã hội được quan niệm là xã hội không nhất thiết có chế độ công hữu (tức là không nhất thiết xoá bỏ chế độ tư hữu) thì chủ nghĩa xã hội không nhất thiết không có kinh tế thị trường. 

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin quan niệm chủ nghĩa xã hội là xã hội nhất thiết có chế độ công hữu. Chính vì thế, các ông mới quan niệm rằng, không thể có kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội. Ph.Ăngghen viết: “Cùng với việc xã hội nắm lấy những tư liệu sản xuất thì sản xuất hàng hóa cũng bị loại trừ”(5). V.I.Lênin cũng khẳng định: “Về chủ nghĩa xã hội thì ai cũng biết rằng nó nhằm xóa bỏ nền kinh tế hàng hóa... Khi còn có sự trao đổi mà nói đến chủ nghĩa xã hội thì thật là tức cười”(6).

Trước đây, theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta không thừa nhận có kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội, nhưng giờ đây lại cho rằng trong chủ nghĩa xã hội có kinh tế thị trường. Sở dĩ như vậy là do có sự thay đổi quan niệm về chủ nghĩa xã hội như đã nói ở trên. Sự thay đổi quan niệm về chủ nghĩa xã hội lại có nguyên nhân ở sự thay đổi quan niệm về cơ sở của công bằng xã hội. Có kinh tế thị trường thì không có chế độ công hữu, mà không có chế độ công hữu thì không có công bằng, không có công bằng thì cũng không có chủ nghĩa xã hội và như vậy, nếu có chủ nghĩa xã hội thì không có kinh tế thị trường. Đó là quan niệm của chúng ta trước đổi mới. Còn sau đổi mới, quan niệm của chúng ta đã có sự thay đổi: không có chế độ công hữu thì vẫn có thể thiết lập được sự công bằng và do đó, vẫn có thể có chủ nghĩa xã hội.

3. Quan hệ giữa khái niệm kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và khái niệm kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa

Kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Nói đến kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thì phải nói đến kinh tế thị trường phi xã hội chủ nghĩa. Tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường phi xã hội chủ nghĩa là ở chỗ có hay không có công bằng; bởi vì, chủ nghĩa xã hội là xã hội có công bằng.

Nói đến kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa còn phải nói đến kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đồng thời phải xác định tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa theo cách hiểu ở đây là kinh tế thị trường lớn, có quan hệ giữa người lao động làm thuê và người thuê lao động, còn tình trạng bất công, được hình thành từ kinh tế thị trường nhỏ. Trên thực tế, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường nhỏ có thể tồn tại cùng nhau và đan xen với nhau, nhưng xét về lôgíc phát triển thì kinh tế thị trường nhỏ là giai đoạn thấp, còn kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là giai đoạn cao. Kinh tế thị trường được hình thành từ kinh tế phi thị trường nguyên thủy và sẽ bị thay thế bởi kinh tế phi thị trường văn minh. Nếu kinh tế thị trường dựa trên chế độ tư hữu, thì kinh tế phi thị trường dựa trên chế độ công hữu. Kinh tế phi thị trường nguyên thủy tồn tại trong xã hội cộng sản nguyên thủy, còn kinh tế phi thị trường văn minh sẽ tồn tại trong xã hội cộng sản văn minh. Trình tự phát triển của kinh tế thị trường là: kinh tế phi thị trường nguyên thủy -® kinh tế thị trường nhỏ ® kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ® kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ® kinh tế phi thị trường văn minh.

Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là giai đoạn cao nhất của kinh tế thị trường (vì giai đoạn tiếp sau là kinh tế thị trường xã hôi chủ nghĩa). Vậy, quan hệ giữa khái niệm “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” với khái niệm “kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa” có phải là quan hệ tách rời hay không? Trong lôgíc học hình thức, khái niệm A tách rời khái niệm B khi và chỉ khi mọi A không phải là B hoặc ngược lại, mọi B không phải là A. Vận dụng lôgíc học hình thức về quan hệ tách rời trên đây vào việc xem xét quan hệ giữa khái niệm “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” với khái niệm “kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa” thì chúng ta phải suy ra rằng, khái niệm kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tách rời khái niệm kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa không phải là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Vấn đề có tính nguyên tắc của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là phải thực hiện và đảm bảo sự công bằng. Do vậy, thực hiện công bằng là tiêu chí cơ bản để phân biệt kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

Nền kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện hay (kể cả nước ta(7)) là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở những mức độ phát triển khác nhau vì đều dựa trên cơ sở (thừa nhận) chế độ tư hữu và chưa có công bằng. Cho đến nay, chưa có quốc gia nào đạt đến kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa vì chưa thực hiện được sự công bằng. Sự bất công trong phân phối sản phẩm đang là một vấn đề nan giải xét trên phạm vi toàn cầu cũng như trong từng quốc gia. Nó xuất hiện không chỉ do các hành vi phạm pháp (cướp bóc, tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế...) mà còn do sự bất hợp lý của chế độ phân phối. Chính vì thế, khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội đang tăng lên nhanh chóng. Và như một tất yếu, khi tình trạng bất công càng tăng lên thì những nạn nhân của nó càng tin, càng hy vọng vào chủ nghĩa xã hội, vì trong quan niệm của họ, chủ nghĩa xã hội là một xã hội công bằng.

 

 


(*) Tiến sĩ triết học, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ và Đào tạo, Viện Triết học.

(1) Nói về sự thay đổi này, một số tác giả viết: “Sự tồn tại khách quan kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ và cả trong chủ nghĩa xã hội”, “Trước đây thịnh hành một quan điểm sai lầm đối lập  một cách giản đơn chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản, từ đó đối lập chủ nghĩa xã hội với kinh tế thị trường...” (Xem:  Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Giáo trình kinh tế- chính trị Mác-Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.111).

(2) Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Giáo trình kinh tế- chính trị Mác-Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.111-112.

(3) Xem: Sđd., tr.111 - 112.

(4) Ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay, tư liệu sản xuất đều được phân thành hai loại căn cứ vào chủ sở hữu; đó là tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của toàn dân (nhà nước là đại diện của toàn dân) và tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của các cá nhân. Tỷ lệ giữa tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân và tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của các cá nhân ở những nước khác nhau có thể nhiều ít khác nhau. Riêng đối với một số nước (trong đó có nước ta), tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân nhiều hơn tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của các cá nhân. Tuy nhiên, chế độ sở hữu ở các nước này vẫn là chế độ tư hữu, chứ không phải là chế độ công hữu; bởi vì, chế độ tư hữu nói ở đây là chế độ sở hữu mà trong đó, mỗi người đều có quyền sở hữu riêng về tư liệu sản xuất .

(5) C. Mác và Ph.Ăngghen.  Toàn tập, t.20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.392.

(6) V.I.Lênin. Toàn tập, t.17. Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, tr.152 (tiếng Việt).

(7) Nước ta đang xây dựng (chưa xong) “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Thuật ngữ “định hướng xã hôi chủ nghĩa” được sử dụng bắt đầu từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6, khóa VI (tháng 3 năm 1989); còn thuật ngữ  “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” được sử dụng bắt đầu từ Đại hội Đảng IX. Có thể hiểu “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” tuy chưa phải là “nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” nhưng cũng không còn là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa

 

Đã xem: 656
Thời gian đăng: Chủ nhật - 01/11/2015 01:08
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất