QC Shop

Thế kỷ XXI và những biến động xung quanh vấn đề hôn nhân và gia đình ở Việt Nam

GS. Lê Thi(*)

Nguồn: Triết học, số 4 (131), tháng 4-2002

 

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ của sự phát triển nền kinh tế tri thức với xu hướng toàn cầu hoá, Việt Nam cố gắng đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập vào nền kinh tế của thời đại mới. Những chuyển đổi về kinh tế tất yếu sẽ kéo theo những thay đổi về văn hoá, tâm lý, xã hội. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến những thay đổi về tâm lý đã ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề hôn nhân và gia đình của các tầng lớp nhân dân, trước hết là ở nam nữ thanh niên nước ta trong những năm tới.

Xu hướng kết hôn và xây dựng gia đình có những biến động khi môi trường và quan niệm sống thay đổi, dưới ảnh hưởng của những luồng văn hoá mới đang xâm nhập vào nước ta, cùng với quá trình toàn cầu hoá về kinh tế.

1. Qua điều tra dân số tháng 4 - 1999, trong cơ cấu dân số từ 15 tuổi trở lên thì 63% có vợ có chồng, goá là 6,7%, ly hôn là 0,8%, ly thân là 0,6%. Như vậy, nam nữ có vợ có chồng vẫn chiếm đa số. Tuy nhiên, xu hướng kết hôn chậm đang gia tăng, các vụ ly dị, ly thân cũng đang phát triển. Năm 1999, tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi chưa kết hôn đã tăng lên 3,3% so với năm 1989; tuổi kết hôn lần đầu của nữ tăng lên 0,5 tuổi, của nam tăng lên 1 tuổi so với năm 1989. Nhìn chung, xu hướng kết hôn chậm hay không muốn lập gia đình đang phát triển trong nam nữ thanh niên, đặc biệt là ở thành phố, do ảnh hưởng của những quan niệm mới về tự do cá nhân và tâm trạng muốn sống thoải mái.

Nguyện vọng được sống tự do, thoải mái, bình đẳng, dân chủ là yêu cầu tự nhiên của con người. Đó cũng là mục tiêu phấn đấu của Đảng ta, của nhân dân ta trong suốt bao nhiêu năm đấu tranh cho nền Độc lập - Tự do - Dân chủ của đất nước. Nhiều thế hệ nam nữ thanh niên đã từng khát vọng được tự do trong hôn nhân và xây dựng gia đình hạnh phúc. Vì vậy, chúng ta rất thông cảm với tâm trạng của thanh niên muốn được tự do yêu đương và tự quyết định việc lập gia đình sớm hay muộn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh.

Hiện nay, trong hôn nhân, đa số các trường hợp do đôi nam nữ tự tìm hiểu và quyết định, nhưng đáng tiếc, vẫn còn những trường hợp do cha mẹ giới thiệu và thúc ép con cái phải cưới xin (thường xảy ra ở nông thôn). Môi trường sống bình đẳng, dân chủ của xã hội ngày càng phát triển, do vậy, việc các ông bố, bà mẹ, hay họ hàng, can thiệp quá sâu, không tôn trọng nguyên tắc tự do lựa chọn và tự quyết định việc hôn nhân và gia đình của con cái là điều không thể chấp nhận được, là hành vi vi phạm pháp luật.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hiện đang có khuynh hướng không lành mạnh trong quan hệ nam nữ, đó là khuynh hướng muốn được tự do trong sinh hoạt tình dục, được thoả mãn nhu cầu nhục dục chốc lát mà không tính đến hôn nhân nghiêm chỉnh, cũng như hậu quả sẽ dẫn tới của kiểu sinh hoạt tự do này. Do động cơ ích kỷ, thích hưởng lạc, những thanh niên có quan hệ tình dục với người khác giới không muốn gánh lấy trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ, cố bảo vệ cuộc sống “tự do” của mình. Đó là xu hướng hưởng lạc, đề cao khoái lạc vật chất, coi tự do tình dục như một nhân quyền (sự kiện đã xảy ra ở các nước Tây Âu những năm 1960 - 1970 trong “cuộc cách mạng tình dục”). Từ đó dẫn đến những kiểu sinh hoạt tình dục bừa bãi giữa nam nữ, kể cả sinh hoạt tình dục tập thể, làm băng hoại những nguyên tắc luân lý sơ đẳng. Những hiện tượng trên đang diễn ra ở không ít nam nữ thanh niên và đang có xu hướng gia tăng.

Sinh hoạt tình dục của con người gắn liền với những quan hệ văn minh giữa người với người, chứ không phải giống như sinh hoạt tình dục của loài động vật. Những cặp nam nữ quan hệ tình dục với nhau một cách tự do, tuỳ tiện, nhiều trường hợp đã có vợ, có chồng, đã không gắn quyền lợi với trách nhiệm, với những hậu quả mà họ gây ra. Hiện nay, số phụ nữ, nhất là các cô gái trẻ, trót mang thai ngoài ý muốn xin nạo hút thai ngày càng nhiều(1); nạn lan truyền các bệnh qua đường tình dục, đặc biệt là bệnh AIDS, cũng như tệ mua bán dâm, sự tan vỡ lòng chung thuỷ giữa đôi vợ chồng, dẫn đến ly hôn ngày càng phát triển. Đáng chú ý là kiểu sinh hoạt tình dục bừa bãi cũng để lại những chấn thương về mặt tâm lý, tình cảm cho những kẻ trong cuộc. Vì vậy, những người có tâm huyết, có trách nhiệm với việc xây dựng hôn nhân, gia đình lành mạnh, hạnh phúc cần phải đấu tranh, ngăn chặn sự phát triển của khuynh hướng trên. Đồng thời, chúng ta vẫn tôn trọng quyền tự do của những người chủ trương kết hôn chậm hay không  muốn lập gia đình, nếu việc làm của họ không để lại hậu quả tai hại cho người khác, cho xã hội.

Có một số nam nữ, đặc biệt là trong công nhân, viên chức, trí thức và ở thành phố, do muốn có tự do cá nhân cao, không muốn lập gia đình sớm. Họ muốn có cuộc sống cá nhân độc lập, không bận bịu về công việc gia đình, không bị phụ thuộc vào các quan hệ vợ chồng, cha mẹ, con cái, để tập trung làm việc cho kết quả! Có người chủ trương sống độc thân suốt đời và rất khó chịu khi thấy mọi người có vẻ ái ngại về tình cảnh đặc biệt của họ. Nữ tiến sĩ Nguyễn Thị Oanh, một người sống độc thân, đã phát biểu: “Phụ nữ sống độc thân, việc gì phải thương hại họ”(2).

Tỷ lệ kết hôn ở nước ta đang giảm, trong khi tỷ lệ ly hôn lại đang gia tăng. Do sống trong môi trường sinh hoạt có nhiều đổi mới, tiếp xúc với những quan hệ xã hội và những luồng văn hoá khác nhau, nên một số cặp vợ chồng đã nảy sinh những quan niệm sống đa dạng, không giống nhau. Họ khó thông cảm với nhau, lại không chịu nhường nhịn nhau, chấp nhận sự chia tay, do đó, việc ly hôn, ly thân dễ dàng hơn trước.

Nhưng sau ly hôn, việc tái hôn cũng diễn ra nhanh chóng hơn trước. Nhiều người tái lập gia đình lại tìm được niềm vui mới. Thường là nam giới tái hôn nhiều hơn, nhanh hơn nữ giới, bởi chị em còn phải vượt qua nhiều cản trở từ phía con cái, gia đình nội, ngoại và bản thân. Tuy nhiên, tái hôn cũng là xu hướng đang gia tăng đối với phụ nữ (đặc biệt là đối với phụ nữ còn trẻ không có con hay ít con), khi các cuộc ly hôn diễn ra ngày càng nhiều.

Hiện nay, nhân dân ta vẫn xem trọng hôn nhân và gia đình. Vì vậy, kết hôn chính thức, có đăng ký với chính quyền lấy giá thú và tổ chức đám cưới do hai bên nhà trai, nhà gái đứng ra lo liệu vẫn được coi là việc làm cần thiết, phù hợp với thuần phong mỹ tục truyền thống. Tuy nhiên, những năm gần đây đã diễn ra hiện tượng nhiều đôi nam nữ chung sống tự nguyện như vợ chồng, tự do, thoải mái, thích thì ở với nhau, chán thì bỏ nhau và không đăng ký kết hôn, một kiểu sống du nhập từ phương Tây nhưng chưa được dư luận xã hội nước ta ủng hộ(3).

Những gia đình kiểu tạm bợ này dễ dàng tan vỡ nhanh hơn so với các gia đình có hôn nhân chính thức. Họ thường không được cha mẹ hai bên nội, ngoại đồng tình và hỗ trợ về mặt tinh thần, vật chất. Khi chia tay nhau, thường người phụ nữ phải nuôi con một mình, vì người tình không nhòm ngó, chăm sóc đến nữa. Nhà nước lại chưa có chế độ phụ cấp cho các bà mẹ nuôi con một mình (khác với nhiều nước phương Tây, phụ nữ sinh con được nhận trợ cấp xã hội, bất cứ ở hoàn cảnh có hay không có chồng). Cũng cần nhắc tới các trường hợp nam hay nữ có lý do riêng không thể đăng ký kết hôn chính thức. Chẳng hạn, nam đã có vợ lén lút sống với người phụ nữ thứ hai; phụ nữ đã ly hôn, goá chồng tự nguyện sống với một người đàn ông để lấy đó làm chỗ dựa, hay phụ nữ đơn thân đứng tuổi muốn “xin” một đứa con với người đàn ông chung sống tạm thời.

Theo tâm lý truyền thống của gia đình Việt Nam, nam nữ lấy nhau phải sinh con để báo hiếu với cha mẹ, giữ gìn nòi giống. Đứa con là sự hoà đồng dòng máu của đôi vợ chồng, là sợi dây liên kết họ với nhau suốt đời; họ cùng có quyền lợi và trách nhiệm với đứa con sinh ra. Người Việt Nam còn thích sinh nhiều con (nhiều con là nhiều phúc), đặc biệt là muốn có con trai để nối dõi tông đường; họ quan niệm rằng không có con là bất hiếu với cha mẹ, có tội với tổ tiên, dòng họ.

Hiện nay đang nảy sinh một tâm lý mới: nam nữ lấy nhau muốn tận hưởng hạnh phúc lứa đôi nên chưa muốn sinh con đầu lòng sớm và muốn sinh ít con. Có gia đình còn chủ trương không sinh con để đỡ bận bịu, để có điều kiện tiếp tục làm việc, kinh doanh thuận lợi và hưởng thụ cuộc sống cặp đôi, sau này, nếu cần có con, họ sẽ xin con nuôi (như hiện tượng nhiều gia đình phương Tây). Như vậy, tình hình sinh con đầu lòng chậm, sinh ít con hay không sinh con cũng là một xu hướng mới. Điều này được thể hiện ngay trong tỷ lệ tăng dân số giảm đi, từ 2,1% năm 1989 xuống 1,7% năm 1999. Chắc chắn tỷ lệ đó tiếp tục giảm đi trong những năm tới, phù hợp với yêu cầu của chiến lược phát triển  dân số của nước ta đến năm 2020.

2. Những biến động xung quanh vấn đề kết hôn, ly hôn, sinh con có ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều kiểu gia đình hiện tại và tương lai ở nước ta.

Trước hết, kiểu gia đình vợ chồng kết hôn chính thức. Ở các gia đình kiểu này, vợ chồng ở với con cái do họ sinh ra hay con nuôi. Đây vẫn là kiểu gia đình chiếm số đông ở cả thành phố và nông thôn, bao gồm nhiều cặp vợ chồng trẻ và ít con. Cùng với kiểu gia đình này, nhiều kiểu gia đình khác sẽ tăng lên trong thời gian tới.

Thứ hai, kiểu gia đình vợ chồng kết hôn lại, trong đó vợ hoặc chồng, hay cả hai bên đã kết hôn một lần, sau đó goá, ly dị, v.v.. Họ ở với con cái do cuộc hôn nhân trước để lại và con cái chung do họ sinh ra. Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình dễ có những điều phức tạp, tế nhị. Nếu hai vợ chồng không quan tâm đến những va chạm, những hiểu lầm nhỏ nhặt thường ngày và không có cách ứng xử đúng đắn thì sẽ xảy ra những mâu thuẫn, lủng củng, dẫn đến phá vỡ hạnh phúc gia đình. Các gia đình kiểu này có xu hướng gia tăng khi tỷ lệ các vụ ly hôn tiếp tục phát triển và số nam, nữ goá vợ, goá chồng hay sau ly hôn nhanh chóng kết hôn lại.

Thứ ba, kiểu gia đình bà mẹ hay ông bố đơn thân sống với con cái của họ, sau khi bị goá bụa hay ly hôn, ly thân. Họ chủ trương không kết hôn lại, hay khó có điều kiện kết hôn lại. Cũng có người chưa lập gia đình nhưng chủ trương sống đơn thân, mặc dù đã có con ngoài giá thú.

Những bà mẹ đơn thân nuôi con một mình thường gặp những khó khăn về kinh tế, vì chỉ có người mẹ lao động nuôi cả nhà; những ông bố đơn thân nuôi con lại có khó khăn do thiếu người phụ nữ quán xuyến việc nội trợ gia đình. Nhìn chung, việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái ở các gia đình này có những trở ngại không chỉ về mặt kinh tế và thời gian dành cho con cái, mà chính là sự thiếu tiếng nói, sự chăm sóc của người khác giới (bố hay mẹ) đối với con cái.

Thứ tư, kiểu gia đình của đôi nam nữ chung sống tự nguyện không đăng ký kết hôn, sống với con chung của họ hay con riêng của từng người. Họ có thể sống với nhau hạnh phúc, nhưng khi nếu gia đình tan vỡ thì điều quan trọng là ai sẽ chịu trách nhiệm trong việc chăm sóc con cái? Khi đó các cháu không được pháp luật bảo vệ quyền được nuôi dưỡng, học hành từ phía cha hay mẹ của chúng; thường người phụ nữ phải gánh chịu trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con cái trong cảnh thiếu thốn, khó khăn.

3. Sự biến đổi trong việc kết hôn, ly hôn cũng ảnh hưởng đến cơ cấu hộ gia đình và quy mô gia đình.

Về cơ cấu hộ gia đình, bên cạnh số hộ gia đình gồm hai thế hệ vẫn chiếm số đông (hiện nay chiếm khoảng 70% tổng số hộ) thì số hộ gia đình ba thế hệ ngày càng giảm đi. Ngay ở hộ gia đình hai thế hệ, nhiều trường hợp chỉ có mẹ hoặc cha sống với các con cái, mà có khi con cái lại có nguồn gốc từ cha mẹ khác nhau.

Hộ gia đình một thế hệ có xu hướng tăng lên. Trước hết, ở nhiều gia đình, ông bà già không ở chung với con cái, mà tách ra sống riêng, do điều kiện nhà ở được cải thiện hay sống cùng nhà với con cái, nhưng khác phòng và tách hộ, sinh hoạt riêng. Hoặc ở một số gia đình, con cái lớn cho tách hộ riêng dù chưa lập gia đình, sinh hoạt độc lập và có chỗ ở riêng (điều này là phổ biến ở phương Tây). Vì vậy, xuất hiện hộ độc thân một người, là người già hay trẻ sống một mình. Theo số liệu điều tra năm 1999, số hộ độc thân chỉ chiếm 4,3% tổng số hộ gia đình ở nước ta, nhưng chắc chắn tỷ lệ này sẽ tăng lên trong những năm tới do xu hướng kết hôn chậm và không kết hôn của nam nữ đang phát triển (ở một số nước phương Tây, số hộ độc thân một người chiếm tới 1/5 tổng số hộ gia đình).

Cùng với sự biến đổi của cơ cấu hộ gia đình, quy mô hộ gia đình cũng giảm. Năm 1999, bình quân mỗi hộ gia đình có 4,6 người. Tỷ lệ này đang tiếp tục giảm dần đi.

Những biến động trong hôn nhân và gia đình ở Việt Nam sẽ diễn ra ngày càng sâu sắc hơn trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI, làm nảy sinh những thách thức mới cho cuộc sống gia đình. Tất cả đều phụ thuộc vào sự quan tâm của chúng ta đối với cuộc sống của gia đình mình, đồng thời đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách xã hội cập nhật hơn cho gia đình, trong đó có chính sách bảo vệ và hỗ trợ cho mọi thời kỳ của chu kỳ sống của gia đình và cho các kiểu gia đình khác nhau.

Giá trị cuộc sống gia đình là vĩnh cửu. Năm 1994, Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã tuyên bố là Năm quốc tế về gia đình với chủ đề “Gia đình, các nguồn lực, các trách nhiệm trong thế giới đang biến động”. Tư tưởng chỉ đạo là: sự thay đổi thế giới cần gắn liền với sự tiến bộ, sự tăng cường các phúc lợi cho cá nhân và thúc đẩy sự phát triển ổn định của gia đình.

Các nhà nghiên cứu UNESCO cũng nhấn mạnh đến giá trị gia đình trong vốn tinh thần của nhân loại, nghĩa là gia đình ở tất cả các thời đại, các châu lục đều mang đặc trưng chung của con người, đều mang tính nhân văn, nhân ái và nhân đạo. Vì vậy, khi nhấn mạnh đến tính đa dạng của gia đình trong một thế giới đang biến động, Liên hợp quốc vẫn khẳng định gia đình là một yếu tố tự nhiên và cơ bản của xã hội, là một đơn vị kinh tế. Gia đình được coi là một giá trị tinh thần vô cùng quý giá của nhân loại, cần được giữ gìn và phát huy.

Như vậy, tiến vào thế kỷ XXI, với nền kinh tế tri thức, và sự toàn cầu hoá về kinh tế, văn hoá, xã hội, thì cuộc sống bền vững của gia đình vẫn tiếp tục được duy trì. Mỗi người chúng ta, nam nữ, già trẻ quyết tâm củng cố và nâng cao chất lượng sống của các thành viên, xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc.

 


(*) Giáo sư triết học.

(1) Tỷ lệ nạo phá thai đang gia tăng. 30% số ca nạo hút thai hàng năm thuộc về các em gái lứa tuổi vị thành niên là một báo động đáng lo lắng (Báo Tuổi trẻ Chủ nhật, ngày 3 - 12 - 2000). Bệnh viện Từ Dũ ở thành phố Hồ Chí Minh, mỗi ngày nhận 100 ca nạo hút thai, nhiều nhất ở Việt Nam (Báo Phụ nữ, ngày 11 - 8 - 2001).

(2) Báo Phụ nữ, ngày 30 - 8 - 1997.

(3) Năm 2000, Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vấn đề này ra thăm dò dư luận bạn đọc nam nữ. Họ nhận được nhiều ý kiến phản đối hơn là tán thành.

Đã xem: 590
Thời gian đăng: Thứ tư - 04/02/2015 02:56
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất