QC Shop

Tộc người và xung đột tộc người xét từ góc độ triết học

Nghiêm Văn Thái

Nguồn: Triết học, số 6 (133), tháng 6-2002

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Trước đây, cặp khái niệm tộc người và xung đột tộc người ít được đề cập trên sách báo mácxít; chúng thường được hoà lẫn vào trong các khái niệm dân  tộc, giai cấp, đấu tranh giai cấp hay chiến tranh. Cặp khái niệm này chỉ mới được nhắc tới nhiều trong khoảng hơn một thập niên gần đây, nhất là sau thời kỳ chiến tranh lạnh - khi những cuộc xung đột tộc người xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới và ngày càng diễn ra gay gắt. Rất tiếc, vấn đề mang tính thời sự chính trị và thời sự khoa học này chưa được giới khoa học nước ta quan tâm một cách thích đáng, kể cả các nhà xã hội học và dân tộc học. Còn giới triết học hình như đang vướng víu với những nhận thức nào đó mà chưa vào cuộc. Trong bài viết này, từ góc độ triết học, chúng tôi tập trung giải quyết những vấn đề sau: Tộc người là gì? Xung đột là gì? Xung đột tộc người - hiện thực và huyền thoại.

1. Tộc người là gì?

Theo nghĩa hẹp, tộc người có thể được hiểu là một cộng người có chung tiếng mẹ đẻ. Như vậy, tộc người tương đương với nhóm ngôn ngữ hay với nhóm dân tộc - ngôn ngữ mà các nhà ngôn ngữ học gọi là nhóm nói tiếng mẹ đẻ. Theo nghĩa này, tộc người là dùng để chỉ những tập hợp người khá thuần nhất, sống cạnh nhau và có chung các đặc điểm về văn hoá mà trong đó yếu tố biểu hiện rõ nhất là việc sử dụng một ngôn ngữ. Nhưng, vấn đề đặt ra là, có rất nhiều cá nhân sống đây đó trên thế  giới có cùng một ngôn ngữ mẹ đẻ song lại cách xa nhau về nhiều mặt, như về mặt địa lý (giữa các châu lục), về mặt lịch sử (thuộc nhiều quốc gia khác nhau), về mặt chủng tộc (thuộc các nguồn gốc khác nhau)… thì liệu họ có cùng một tộc người kg, hay họ là những tộc người khác nhau có cùng một ngôn ngữ, hay họ là một tộc người được chia ra làm nhiều tộc người nhỏ?…

Theo nghĩa rộng, tộc người được hiểu là một cộng đồng người liên kết với nhau bởi một phức hợp các tính chất chung về các mặt: nhân chủng, ngôn ngữ, chính trị,… Sự kết hợp các tính chất đó tạo thành một hệ thống riêng, một cấu trúc mang tính văn hoá chủ yếu - một nền văn hoá riêng biệt. Nói một cách ngắn gọn, tộc người là một tập thể hay đúng hơn, là một cộng đồng người, được gắn bó với nhau bởi một nền văn hoá riêng biệt. Theo nghĩa này, các yếu tố trong hệ thống tộc người có thể phát triển không đồng đều ở mỗi thành viên, hay sự vắng mặt của một trong số các yếu tố ở một thành viên cũng không làm cho họ tách khỏi nhóm tộc người của mình.

Cách hiểu theo nghĩa rộng trên đây cho phép bao quát tốt hơn các nhóm cộng đồng tộc người hiện đang tồn tại.  Ở đây, mặc dù có những ranh giới không rõ ràng, nhưng chúng vẫn là thực thể thực tế so với so với những con số thống kê đơn giản về các cá nhân chỉ được xác định theo một tiêu chuẩn duy nhất.

Để nhận thức chính xác và sâu sắc hơn về tộc người hay nhóm tộc người (group ethnique), điều quan trọng là phải hiểu được những đặc điểm của các yếu tố cấu thành của nó. Về vấn đề này, chúng ta có thể tiếp cận các yếu tố đặc trưng sau:

Trước hết yếu tố nhân chủng. Đây là yếu tố nền tảng của việc xác định nguồn gốc tộc người. Căn cứ vào yếu tố này chúng ta có thể xác định được các tộc người được sinh ra từ những bộ phận nào của nhân loại; chúng xuất hiện khi nào và hoà nhập vào nhau ra sao… Khi căn cứ vào yếu tố đặc trưng này, điều quan trọng là phải nc các thành phần lịch sử khác nhau của cư dân trong tộc người, chứ không phải chỉ là thu thập và phân tích các dữ liệu nhân chủng trực quan. Những thành phần cư dân ít nhiều có tính nguyên gốc, cùng với những thành phần cư dân đóng góp về sau làm thành cơ sở cho qt phát triển tộc người. Các phương hướng pha tạp, kết hợp kế cận hay chồng chéo của các thành phần cư dân sẽ soi sáng cho tình trạng hiện tại của tộc người.

Thứ hai là yếu tố dân số. Bất cứ tộc người nào cũng đều được xác định bằng số lượng người mà nó tập hợp. Chính vì vậy, những số liệu thống kê về dân số là đặc biệt quý giá để đo lường cả về mức độ tiến hoá của tộc người. Mặt hhác, chúng còn soi sáng cả về quá trình phát sinh, phát triển hay triển vọng của tộc người.

Thứ ba là yếu tố ngôn ngữ.  Ngôn ngữ là tiêu chí cơ bản để phân biệt tộc người này với tộc người khác. Nó là sợi dây liên hệ đặc biệt giữa các thành viên của tộc người. Ngôn ngữ vừa là dấu hiệu bên ngoài, vừa là một yếu tố cấu kết bên trong của cộng đồng tộc người. Nó là sở hữu chung, tài sản chung của tộc người, là phương tiện chuyển tải nền văn hoá của tộc người.

Thứ tư là yếu tố lãnh thổ. Với tư cách là một xã hội toàn vẹn và tự lập, mỗi tộc người đều chiếm một phần lãnh thổ riêng trên bề mặt trái đất. Lãnh thổ là cái khung vật chất mà trong đó tộc người được cố định, thích nghi và cải biến môi trường tự nhiên. Lãnh thổ của các tộc người có sự khác nhau về hình thức và tuỳ thuộc vào khả năng và cung cách sinh sống của họ.

Thứ năm là yếu tố phương thức sản xuất. Mỗi tộc người đều hình thành trong nó một lối sống nhất định. Lối sống đó phụ thuộc vào môi trường thiên nhiên, phương thức sản xuất của riêng nó. Đó là công nghệ, tri thức, tín ngưỡng,…Phương thức sản xuất có khả năng chấn chỉnh lại lối sống tổng thể. Phương thức sản xuất là cái dễ biến đổi, nhưng là cái làm cho mỗi tộc người mang đặc trưng riêng, làm cho nó trở thành thuần nhất có cấu trúc riêng và phân biệt nó với các tộc người khác.

Thứ sáu là yếu tố văn hoá và ý thức tộc người. Tộc người, với tư cách là công động người, tồn tại trên lãnh thổ của mình, có những nét độc đáo về văn hoá. Theo nghĩa rộng, văn hoá của tộc người là những cái “phi vật chất” bao gồm những di sản tinh thần của cộng đồng tộc người dưới tất cả các hình thức của nó. Nó dựa trên cái giá đỡ đặc biệt là ngôn ngữ. Bất cứ một thành viên nào của tộc người mà về mặt tinh thần được hình thành trước hết bởi ngôn  ngữ thì đều có thể hoàn thiện thế giới quan của mình thông qua sự thanh lọc của văn hoá tộc người. Điều này tạo cho thành viên đó một nhân cách cơ sở mà trong nhiều trường hợp, anh ta không ý thức được. Nó tạo cho anh ta một tập hợp những tri giác, tình cảm và sự nhận biết về giá trị chung của cộng đồng tộc người. Đó chính là ý thức tộc người.

2. Xung đột là gì?

Theo tính chất chặt chẽ, khoa học, khái niệm xung đột (iếng Latinh là Confliktus) bao gồm nghĩa mâu thuẫn (giữa các bên, các ý kiến, các thế lực). Nguyên nhân của nó là do có những mâu thuẫn gay gắt nhất trong đời sống xã hội. Chẳng hạn, mâu thuẫn về vật chất, về các giá trị và các phương thức sống chủ yếu nhất, về quyền lực (vấn đề quyền khống chế), về những khác biệt địa vị, vai trò trong cơ cấu xã hội, về những khác biệt cá nhân (trong đó có các khác biệt về tình cảm - tâm lý), v.v.. Như vậy, xung đột bao trùm mọi phạm vi hoạt động sống  của con người, mọi quan hệ xã hội, mọi sự tương tác xã hội. Xung đột thực chất là một trong số những kiểu tương tác xã hội mà các bên tham gia là các cá thể đơn lẻ, các tập đoàn, các tổ chức xã hội lớn hoặc nhỏ khác nhau… Tuy nhiên, chỉ có các tương tác tạo ra sự đối đầu giữa các bên, tức các bên tham gia có những hành động chống đối nhau, mới là xung đột.

Cơ sở của xung đột là mâu thuẫn. Nhưng không nên đồng nhất chúng với nhau. Bởi mâu thuẫn có thể tồn tại trong một thời gian tương đối dài mà không dẫn tới xung đột. Vì vậy, có thể nói, cơ sở của xung đột là những mâu thuẫn chỉ khi không còn sự cân bằng về lợi ích, nhu cầu và giá trị giữa các bên tham gia. Những mâu thuẫn như vậy thường dẫn tới cuộc đấu tranh công khai giữa các bên, trở thành đối đầu thực sự.

Đối đầu có thể có cường lực mạnh hoặc yếu, ít bạo lực hoặc nhiều bạo lực. Hình thức xung đột có thể là bạo lực hoặc phi bạo lực. Điều đó phụ thuộc vào nhiều nhân tố, như điều kiện, khả năng giải quyết và mục đích theo đuổi của từng chủ thể đối đầu.

Như vậy, xung đột ở đây là nói về sự xung đột xã hội. Đó chính là biểu hiện của sự đối đầu công khai, mà mâu thuẫn giữa hai hoặc nhiều bên tham gia vào  mối tương tác xã hội không còn giữ được sự cân bằng về lợi ích, giá trị và nhu cầu.

Để nắm bắt được đầy đủ hơn về khái niệm này, chúng ta cần đi sâu phân tích các khía cạnh của nó, như  các chủ thể tham gia xung đột, khách thể của xung đột, các dạng xung đột cơ bản, những thời đoạn phát triển cơ bản của xung đột và đặc biệt là các chức năng của xung đột.

3. Xung đột tộc người - hiện thực và huyền thoại

Như vậy, điều mà chúng tôi đề cập ở đây là xung đột tộc người, tức là các khách thể xung đột ở đây là các tộc người.

Ở phần một bài viết này, trong khi làm rõ khái niệm tộc người, chúng tôi đã có dịp làm rõ những khía cạnh, những yếu tố cấu thành của tộc người. Và cũng đã chỉ rõ sự phát triển không đồng đều của các yếu tố đó trong cộng đồng tộc người. Chúng đều chứa đựng những tiềm ẩn xung đột trong sự phát triển của từng tộc người cũng như trong sự tương tác giữa các tộc người. Tất cả những điều đó có thể gọi là cái hiện thực hay nhân tố hiện thực trong xung đột tộc người.

Tại sao tôi lại đặt vấn đề huyền thoại ở đây. Vấn đề này rất phức tạp vì nó nằm tiềm ẩn trong tầng sâu của ý thức tộc người và nó giữ một vai trò rất quan trọng. Trong một dịp khác, chúng tôi sẽ đi sâu vào vấn đề này. Ở bài viết này, chúng tôi chỉ xin phép nói lướt qua đôi điều mà chúng ta dễ thấy nhất. Đó là: 1. Ý thức tộc người nhiều khi được nuôi dưỡng bằng những huyền thoại khó giải thích. 2. Yếu tố huyền  thoại thường được các khách thể tham gia xung đột sử dụng làm vũ khí lợi hại trong cuộc đấu tranh. 3. Những huyền thoại cũ và mới có thể gây nên những trạng thái quá phấn khích trong tâm lý quần chúng. Nhiều khi chúng tạo ra những bi kịch lịch sử cho các khách thể tham gia xung đột.  Ở đây còn phải kể đến vai trò của tôn giáo (về vấn đề này, chúng tôi sẽ có bài viết riêng).

Nhìn lại thế kỷ XX và các thế kỷ trước, một số công trình khoa học đã chỉ ra cho chúng ta bức tranh không mấy lạc quan về vấn đề  tộc người và xung đột tộc người. Những cố gắng của nhiều quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế trong việc giải quyết vấn đề xung đột tộc người vào nửa cuối thế kỷ vừa qua cũng  không mấy thành công. Chẳng lẽ đã bước sang thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ ba mà nhân loại vẫn bế tắc trong việc giải quyết vấn đề còn đang quá nóng bỏng này ở nhiều khu vực trên thế giới và nó cũng còn đang là vấn đề tiềm ẩn của nhiều nơi trên trái đất. Nhân loại cần có một cách nhìn mới với những chính sách khả dĩ có thể cứu nhân loại khỏi thảm hoạ này cũng như các thảm hoạ khác.

Nhân loại tiến bộ đã đạt được những bước đi cơ bản về quyền con người, quyền trẻ em, quyền bình đẳng nam nữ, v.v.. Có lẽ ngay ở đầu thế kỷ XXI này, nhân loại cũng phải giành thắng lợi quyết định trong vấn đề quyền tộc người (1), và mỗi nhà nước, mỗi tổ chức quốc tế phải đề ra được các chính sách khả dĩ có thể giải quyết được vấn đề đó.

Cuối cùng, chúng tôi cho rằng nhân loại cần kiên quyết chống lại các chính sách diệt tộc người của các thế lực còn lạc hậu; các lực lượng chính trị đã đến lúc cần chấm dứt chính sách lợi dụng vấn đề sắc tộc để khuấy động và can thiệp bẩn thỉu vào các khu vực trên thế giới, vào chính sách thực dân, bóc lột cũ kỹ.

Phải chăng nhận xét của C.Mác vẫn đúng trong thời điểm hiện nay: Nhân loại chưa kết thúc thời tiền sử của mình!

 


(1) Xem: Tộc người và xung đột tộc người trên thế giới hiện nay. Nghiêm Văn Thái chủ biên. Viện Thông tin khoa học xã hội xuất bản, Hà Nội, 1995, 306tr.

 

Đã xem: 964
Thời gian đăng: Thứ ba - 03/02/2015 22:39
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất