QC Shop

Vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân

Nguyễn Ngọc Toàn(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 9 (160), tháng 9 - 2004

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

 

Quá trình đổi mới trên đất nước ta đã đi qua chặng đường gần 20 năm. Trong khoảng thời gian đó, với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng cùng sự đoàn kết một lòng xây dựng đất nước của mọi tầng lớp nhân dân, chúng ta đã thu được những thành công trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân được thay đổi từng ngày. Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta vẫn luôn xác định: “Đổi mới là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Để công cuộc đổi mới được thành công phải động viên được mọi tầng lớp nhân dân và các thành phần kinh tế tham gia”(1), phải tận dụng mọi thời cơ do quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu đang tạo ra để phát triển đất nước.

Một thực tế không thể phủ nhận được rằng, trong những năm qua, nhận thức của Đảng ta về vị trí và vai trò của nền kinh tế nhiều thành phần đã có những bước đột phá quan trọng. Từ việc thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần đến việc tạo ra những chính sách nhằm động viên, khuyến khích mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư bản tư nhân tham gia phát triển đất nước là một chủ trương đúng đắn, góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc do tình trạng kém phát triển và thiếu việc làm gây nên. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định chủ trương “thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”. Tuy nhiên, thực tiễn luôn luôn thay đổi, một khi đã giải quyết về cơ bản một vấn đề nào đó thì sẽ nảy sinh nhiều vấn đề khác khó khăn hơn, phức tạp hơn, đó là biện chứng của sự phát triển và thực tiễn xã hội Việt Nam không phải là ngoại lệ. Trong tiến trình hội nhập và phát triển hiện nay, khi chúng ta thừa nhận toàn cầu hóa kinh tế và sự tồn tại tất yếu của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì vai trò của đảng viên trong việc phát triển kinh tế, cụ thể là vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa đã thực sự trở thành vấn đề được quan tâm nhiều nhất trong xã hội. Bởi đó là “vấn đề bức xúc, có tính đột phá, xuất phát từ yêu cầu đảng viên phải đi tiên phong trong việc làm cho dân giàu, nước mạnh, nếu không cho đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân thì sẽ ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân vào chính sách của Đảng(2). Rõ ràng, đây là một vấn đề không thể lảng tránh, nhưng phải lý giải nó như thế nào?

Nhân dân ta vẫn có câu “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Và, trên thực tế, vai trò tiên phong của đảng viên trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp và chống Mỹ đã góp phần không nhỏ mang lại độc lập, tự do cho dân tộc. Không có đảng viên đi trước dẫn đường, lãnh đạo quần chúng nhân dân đi theo cách mạng thì ngày nay, chúng ta không thể có hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước. Trong thời chiến là vậy, còn trong thời bình thì sao? Đổi mới đất nước lấy trọng tâm là phát triển kinh tế, Đảng ta chủ trương xây dựng và phát triển lâu dài nền kinh tế nhiều thành phần, chẳng lẽ đảng viên của Đảng lại đứng ngoài công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đang diễn ra hết sức nhanh chóng đó hay sao? Nếu không muốn đứng ngoài thì đảng viên phải hành động như thế nào để xứng đáng là “đầu tàu” trong cộng cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ấy? Đó là những câu hỏi lớn và để giải quyết được thì cần phải có sự chuyển biến đáng kể trong nhận thức của chúng ta.

Từ trước đến nay, khi xác định thế nào là đảng viên, chúng ta vẫn dựa trên những tiêu chí mà Điều lệ Đảng đã đưa ra, trong đó, một trong những tiêu chí quan trọng của đảng viên là “có lao động, không bóc lột” (chúng tôi nhấn mạnh – N.N.T), chính vì vậy mà khi đặt ra vấn đề đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân đã có nhiều ý kiến lo ngại rằng, nếu cho phép đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân thì họ sẽ trở thành những người bóc lột sức lao động của người khác, từ đó dẫn đến việc xa rời lập trường giai cấp, làm suy yếu sức chiến đấu của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng... Theo chúng tôi, ý kiến đó chưa hoàn toàn chính xác. Khi nói đến lập trường, chúng ta thường quan niệm đó là chỗ đứng và thái độ khi nhận thức, xử lý vấn đề(3); và khi nói đến lập trường của giai cấp vô sản, chúng ta mới chỉ dừng lại ở cái bất biến, cái không vận động, cái “chỗ đứng” mà không tiếp tục đi sâu vào cái luôn vận động, biến đổi theo điều kiện và hoàn cảnh của lịch sử xã hội. Nói cách khác, khi nói đến lập trường của giai cấp vô sản, chúng ta thường nghĩ đó là cái gì tốt đẹp nhưng bất di bất dịch, không biến đổi; là mục tiêu của giai cấp công nhân muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp cho mọi người, giải phóng toàn thể loài người khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, bất công. Tuy nhiên, trong cái bất biến ấy lại luôn tồn tại cái luôn biến đổi, vận động và phát triển theo lịch sử xã hội. Đó là điều cần có sự nhận thức đúng đắn để tìm ra phương thức hành động nhằm thực hiện mục tiêu cao cả ấy.

Có thể coi sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam là một ví dụ sinh động thể hiện sự biến đổi ấy. Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, giai cấp công nhân Việt Nam lao động chủ yếu trong các nhà máy, hầm mỏ của thực dân Pháp. Thời kỳ đầu, giai cấp công nhân Việt Nam cũng đoàn kết với nhau, đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống lại sự bóc lột thậm tệ của thực dân Pháp ở từng nhà máy, từng công xưởng của mình. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của phong trào công nhân Việt Nam. Từ lúc có chính đảng của mình, giai cấp công nhân Việt Nam được đoàn kết lại thành một khối, cùng với nông dân và trí thức đấu tranh với giới chủ và quan trọng hơn, đấu tranh với thực dân Pháp đòi quyền độc lập, tự do cho dân tộc. Chính ở đây, lập trường của giai cấp công nhân đã có sự biến đổi rõ rệt, từ việc đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm tiến lên đấu tranh đòi quyền tự do, xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất, đem lại cuộc sống hạnh phúc cho mọi người. Ngày nay, khi đất nước hoàn toàn độc lập, tự do, đang bước vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì lập trường của giai cấp công nhân lại được thể hiện ở một mức độ khác. Nó được “biểu hiện trên các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội ... Về kinh tế, lập trường đó phải thể hiện ở quyết tâm xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội... Về xã hội, phải tìm mọi cách làm sao cho đời sống nhân dân ngày càng tiến bộ về mọi mặt vật chất và tinh thần”(4).

Do vậy, ở đây, chúng ta thấy, khi nói lập trường của giai cấp vô sản thay đổi, có nghĩa là nói đến cách thức biểu hiện hay hành động thể hiện lập trường đó; nó là cái động, luôn thay đổi cùng hoàn cảnh và điều kiện xã hội; còn mục đích cao cả - mong muốn đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi người, giải phóng người lao động khỏi mọi sự áp bức, bóc lột là lập trường không bao giờ thay đổi của giai cấp công nhân. Và, một khi giai cấp công nhân thay đổi lập trường theo từng hoàn cảnh, điều kiện lịch sử nhất định thì những đảng viên Đảng Cộng sản, những phần tử ưu tú nhất của giai cấp công nhân, những người luôn đứng trên lập trường của giai cấp công nhân tất yếu sẽ là những người thay đổi đầu tiên. Với mong muốn đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người, nhất là những người lao động, họ đã cùng nhau liên kết lại để đấu tranh với giới chủ đòi cải thiện đời sống cho người lao động, đấu tranh với thực dân, phong kiến để giành tự do, độc lập cho dân tộc và giờ đây, lập trường của họ thể hiện ra ở việc làm sao phát triển được đất nước, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập với thế giới, nâng cao dần đời sống vật chất và tinh thần của người dân để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Những người đảng viên luôn có mong muốn xây dựng và phát triển đất nước dựa trên năng lực của chính mình và khi họ bắt tay vào làm kinh tế, dù đó là kinh tế tư bản tư nhân, nhưng với mong muốn chính đáng như vậy, chúng ta không thể đánh giá họ là những người xa rời lập trường giai cấp công nhân được. Chúng ta không bàn đến cách thức họ làm, nhưng thực tế cho thấy, “những đảng viên làm kinh tế tư nhân đã có những đóng góp tích cực cho đất nước, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động, ổn định xã hội... chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp, chính sách của Nhà nước, quan tâm tới lợi ích của người lao động, tạo điều kiện cho tổ chức đảng và các đoàn thể nhân dân hoạt động tại doanh nghiệp có nhiều đóng góp vào các hoạt động xã hội trong và ngoài doanh nghiệp”(5). Đó là những điều rất đáng mừng, đáng khuyến khích phát triển để làm gương điển hình cho các loại hình kinh tế tư nhân khác.

Việc xây dựng những chính sách, cơ chế để cho phép đảng viên tham gia phát triển kinh tế tư bản tư nhân còn có những lý do khác. Chúng ta phát triển đất nước theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, trong đó việc đảm bảo dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là một tiêu chí tối quan trọng, lĩnh vực kinh tế không phải là ngoại lệ. Giáo sư Nguyễn Trọng Chuẩn đã rất có lý khi cho rằng, với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc bảo đảm quyền dân chủ trong lĩnh vực kinh tế cho mọi thành viên trong xã hội, kể cả cho các đảng viên, là điều có thể và cần được chấp nhận. Một khi coi kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân và phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, vì nó có khả năng góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế thì đảng viên cũng cần được tạo điều kiện và cần được khuyến khích tham gia(6). Đây là một nhận định rất sâu sắc, bởi chúng ta luôn động viên, khuyến khích đảng viên gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện dân chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội khi mà chúng ta, vẫn chưa thực sự có được những chính sách, chủ trương cần thiết nhằm động viên, khuyến khích đảng viên tích cực hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, cụ thể là kinh tế tư nhân, đóng góp công sức và trí tuệ để phát triển đất nước, nói một cách rõ ràng hơn, chúng ta vẫn căn cứ theo tiêu chí “đảng viên là không được bóc lột” để không cho phép đảng viên đi đầu trong phát triển kinh tế, vì lo sợ đảng viên sẽ trở thành những người bóc lột công sức của người lao động và như vậy, sẽ không còn giữ được lập trường giai cấp của mình nữa.

Khi chúng ta đề cập đến một “xã hội không có bóc lột” thì một vấn đề mang tính chất lý luận đã nảy sinh mà cho đến nay, xung quanh vấn đề này còn có rất nhiều ý kiến khác nhau. Đó là vấn đề cần phải tìm hiểu xem xã hội không có bóc lột là xã hội nào, và một xã hội không còn tồn tại tình trạng người bóc lột người thì cần phải có những điều kiện cơ bản gì? Ở đây, chúng tôi không có ý định đi sâu vào nội hàm của khái niệm “bóc lột”. Nhắc đến khái niệm “bóc lột” ở đây chỉ nhằm lý giải một vấn đề: xã hội chúng ta muốn nói ở đây là xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển theo đúng nghĩa của nó, là xã hội mà hiện nay chúng ta coi đó là mục tiêu duy nhất và mong muốn có thể đạt được. Chỉ trong xã hội đó, chúng ta mới có thể giải quyết được triệt để tình trạng bóc lột trong xã hội một khi các điều kiện của xã hội, đặc biệt là điều kiện sản xuất, đã cho phép. Đó cũng là “mục tiêu xa” mà chúng ta cần phải đạt tới trong tương lai. Đối với xã hội chúng ta, từ những năm 80 của thế kỷ trước, chúng ta vẫn luôn xác định rằng, việc trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội khác nhau, mang tính chất quá độ trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội trên con đường tiến lên xã hội cộng sản là một tất yếu. Chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, như Đại hội IX của Đảng đã khẳng định, thì một khi điều kiện xã hội còn chưa cho phép chúng ta xóa bỏ tình trạng bóc lột trong xã hội, chúng ta phải biết chấp nhận nó, phải “sống chung” với nó để phát triển đất nước, tiến dần đến việc xóa bỏ nó. Nói cách khác, trên con đường đi tới xã hội cộng sản, tới chỗ xóa bỏ bóc lột hoàn toàn, chúng ta buộc phải chấp nhận sự bóc lột ở những mức độ nhất định, tùy thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể khi mà những quan hệ sản xuất trong đó có bóc lột vẫn còn có những tác động tích cực tới sự phát triển của xã hội nói chung và của nền kinh tế nói riêng.

Như vậy, về nguyên tắc, chúng ta không thể lấy cái “mục tiêu xa” như đã trình bày ở trên để áp dụng và giải quyết những sự việc trong hoàn cảnh “gần” khi chưa đủ những điều kiện cần thiết và do vậy, cần phải biết chấp nhận hoàn cảnh và xác định nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng và phát triển xã hội theo mục tiêu mà chúng ta đã lựa chọn. Điều đó có nghĩa là, trên con đường tiến dần đến mục tiêu đó, chúng ta căn cứ vào sự phát triển của lực lượng sản xuất, của nền kinh tế và của sự tiến bộ xã hội để dần xóa bỏ sự bóc lột trong quan hệ sản xuất.

Từ những điều trên đây, chúng tôi cho rằng, một trong những cách thức và biện pháp quan trọng để huy động sức mạnh của toàn bộ nền kinh tế trong thời kỳ quá độ, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, là phải có những chính sách, chủ trương hợp lý tạo điều kiện cho đảng viên tham gia vào công cuộc phát triển đất nước với tư cách lực lượng đi đầu trong các thành phần kinh tế tư nhân. Một khi đã nhận thức rõ vai trò của đảng viên trong tình hình mới, chúng ta cần cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân ở mọi cấp độ, từ quy mô nhỏ đến các tập đoàn kinh tế lớn, tùy theo khả năng và nguồn tài chính của họ trong các lĩnh vực được pháp luật cho phép. Cần có những chính sách, chủ trương đúng đắn, hợp lý nhằm tạo điều kiện cho đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân. Đồng thời, nâng cao hơn nữa tính nhân văn trong hoạt động kinh tế của họ, thông qua họ để giải quyết những vấn đề bức xúc do tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm gây nên.

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang tác động mạnh mẽ tới xã hội ta, sự tồn tại đan xen của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang tạo ra những động lực mạnh mẽ thúc đẩy đất nước phát triển. Trong hoàn cảnh đó, việc chấp nhận đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân đang trở thành nhu cầu cấp thiết của xã hội. Tuy nhiên, cho phép đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân cũng đồng thời với việc chúng ta phải nhanh chóng đề xuất, cải tiến và bổ sung những chính sách cụ thể để quản lý thành phần kinh tế này. Một mặt, tạo điều kiện cho họ tham gia phát triển kinh tế đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tạo cơ hội cho họ cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác; mặt khác, phải có những chính sách ràng buộc họ, nhắc nhở họ, bắt họ phải thực thi vai trò của đảng viên để vừa không vi phạm điều lệ Đảng, vừa không hạn chế việc sản xuất kinh doanh của họ, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, phát huy phẩm chất tốt đẹp của đảng viên trước quần chúng nhân dân, luôn kiên định mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Làm được những việc này, chúng ta mới có thể giải quyết được vấn đề đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân mà không lo sợ họ xa rời lập trường của giai cấp công nhân. Những đảng viên là người làm kinh tế giỏi, biết làm giàu chính đáng, biết lôi cuốn, vận động quần chúng cùng làm giàu và một khi những đảng viên làm chủ doanh nghiệp tư nhân luôn chấp hành tốt Điều lệ Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước, được đảng viên và quần chúng tại doanh nghiệp và nơi cư trú tín nhiệm, có nguyện vọng tiếp tục đứng trong hàng ngũ của Đảng thì họ vẫn là đảng viên của Đảng(7).

 


(*) Nghiên cứu viên, Viện Triết học.

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 82.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm  Ban Chấp hành Trung ương khóa IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 41.

(3) Xem: Viện Ngôn ngữ học. Từ điển Tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng, 2000, tr. 555.

(4) Lê Duẩn. Xây dựng tư tưởng làm chủ tập thể trên lập trường giai cấp vô sản. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1965, tr. 28-29.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX.. Sđd.,  tr. 44.

(6) Xem: Nguyễn Trọng Chuẩn. Kinh tế tư nhân và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân trong điều kiện nước ta hiện nay. Tạp chí Triết học, số 9,  2002, tr. 8.

(7) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX. Sđd.,  tr. 44 - 45.

Đã xem: 836
Thời gian đăng: Thứ bảy - 24/10/2015 02:35
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất