QC Shop

Dư luận xã hội có phải là một bộ phận của ý thức xã hội?

Ngọ Văn Nhân(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 6 (169), tháng 6 - 2005

Dư luận xã hội có hình thức biểu hiện, đối tượng phản ánh và chủ thể của nó. Dư luận xã hội là một dạng tồn tại đặc biệt của ý thức xã hội, hiện diện trong từng  hình thái ý thức xã hội. Mặc dù dựa trên nền tảng tinh thần là ý thức xã hội và  có tác động trở lại đối với ý thức xã hội, song dư luận xã hội không phải là một bộ phận của ý thức xã hội, càng không phải là một hình thái ý thức xã hội. Nó là một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, mang bản chất xã hội. Dư luận xã hội gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, là “cầu nối” giữa ý thức xã hội và hành động xã hội.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Chúng ta đều biết, dư luận xã hội không chỉ đơn giản là một hiện tượng tinh thần trong đời sống xã hội, mà là một hiện tượng tinh thần hết sức phức tạp. Do vậy, khó có thể làm rõ nội hàm của nó trong một định nghĩa ngắn gọn. Về phương diện lý luận, hầu như chúng ta chưa thấy có một định nghĩa hoàn chỉnh nào về dư luận xã hội được tất cả các nhà nghiên cứu đồng tình. Song, trên các sách báo, tạp chí triết học và xã hội học đã có khá nhiều định nghĩa được đưa ra.

B.K.Paderin - nhà nghiên cứu dư luận xã hội người Nga, đã đưa ra định nghĩa như sau: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời) về ý nghĩa của các thực tại, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các thể chế, giai cấp xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các vấn đề của đời sống xã hội có liên quan đến lợi ích chung của họ”(1). Còn theo A.K.Ulêđốp - một nhà nghiên cứu dư luận xã hội người Nga khác, thì dư luận xã hội làsự phán xét thể hiện sự đánh giá và thái độ của mọi người đối với các hiện tượng của đời sống xã hội”(2).

Ở nước ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về dư luận xã hội, trong đó các tác giả đưa ra những định nghĩa của mình về dư luận xã hội. Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu làm việc tại Trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội thuộc Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương thì “Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự(3). Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, “Dư luận xã hội là sự biểu hiện trạng thái ý thức xã hội của một cộng đồng người nào đó, là sự phán xét, đánh giá của đại đa số trong cộng đồng người đối với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của của họ trong một thời điểm nhất định(4).

Như vậy, có thể nói, trong hầu hết các định nghĩa đều có đề cập tới những nội dung chính của khái niệm dư luận xã hội. Thứ nhất, dư luận xã hội là tập hợp những ý kiến, quan điểm, thái độ mang tính phán xét đánh giá của nhiều người trước một thực tại xã hội nhất định. Thứ hai, sự phán xét đánh giá đó chỉ nảy sinh khi trong xã hội có những vấn đề mang tính thời sự, có liên quan đến lợi ích chung của các nhóm xã hội, cộng đồng xã hội. Thứ ba, vấn đề mang tính thời sự đó phải thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều người, của đa số các thành viên trong xã hội.

Kết hợp những nội dung nêu trên với vai trò, ý nghĩa thực tiễn của dư luận xã hội, theo chúng tôi, có thể định nghĩa dư luận xã hội như sau:

Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến, thái độ có tính chất phán xét đánh giá của các nhóm xã hội hay của xã hội nói chung trước những vấn đề mang tính thời sự, có liên quan tới lợi ích chung, thu hút sự quan tâm của nhiều người và được thể hiện trong các nhận định hoặc hành động thực tiễn của họ.

Để có thể hiểu đúng bản chất xã hội của dư luận xã hội, chúng ta cần xem xét nó dưới nhiều góc độ: hình thức biểu hiện, đối tượng và chủ thể.

Xét theo hình thức biểu hiện, có ý kiến cho rằng, dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá của cộng đồng xã hội đối với những sự việc, sự kiện hay hiện tượng xã hội mà họ quan tâm. Về cơ bản, có ba loại phán xét: phán xét mô tả, phán xét chế định và phán xét đánh giá. Phán xét mô tả là loại phán xét mới chỉ dừng lại ở sự mô tả các đặc điểm, biểu hiện bên ngoài của sự vật, hiện tượng và do vậy, nó hầu như chưa biểu thị ý kiến, thái độ của con người trước sự vật, hiện tượng. Phán xét chế định là loại phán xét mang tính chất chỉ thị, khuyên răn; thường được thể hiện thành những khuôn mẫu, như khuôn mẫu tư duy, khuôn mẫu hành động (còn gọi là phán xét chuẩn mực). Phán xét chế định được sử dụng rộng rãi trong các quy phạm đạo đức và pháp luật. Phán xét đánh giá là loại phán xét thể hiện tình cảm, thái độ của cộng đồng người trước các sự việc, sự kiện hay hiện tượng xảy ra trong xã hội. “Phán xét của dư luận xã hội thuộc loại phán xét đánh giá”(5).

Theo chúng tôi, nếu coi sự phán xét của dư luận xã hội chỉ là loại phán xét đánh giá thì sẽ không bao quát được hết hình thức biểu hiện của dư luận xã hội. Bởi lẽ, dẫu nó là hình thức biểu hiện chủ yếu của dư luận xã hội, nhưng trong một số trường hợp khác, dư luận xã hội lại có hình thức biểu hiện là các loại phán xét chế định và phán xét mô tả. Chẳng hạn, khi coi dư luận xã hội như là công luận thì tính chất chỉ thị, khuyên răn vẫn tồn tại trong dư luận xã hội. Kết quả các cuộc trưng cầu dân ý mà nhà nước tiến hành nhằm thu thập ý kiến của nhân dân về một vấn đề trọng đại của đất nước vẫn có giá trị như là “chuẩn mực pháp luật” và trong trường hợp này, nhà nước phải hành động theo ý kiến của đa số người dân. Với ý nghĩa này thì dư luận xã hội có hình thức biểu hiện là phán xét chế định. Hoặc, khi thái độ của các cá nhân trước một sự việc, sự kiện xã hội nào đó còn ở trạng thái lưỡng lự, băn khoăn (chưa rõ nên đồng tình hay phản đối) thì ý kiến của họ mới chỉ dừng lại ở mức độ trình bày, mô tả sự kiện. Nếu nhiều người cùng thể hiện thái độ như vậy thì dư luận xã hội có hình thức biểu hiện là phán xét mô tả.

Chính vì vậy, theo chúng tôi, cần phải coi hình thức biểu hiện của dư luận xã hội bao gồm cả ba loại phán xét: phán xét mô tả, phán xét chế định và phán xét đánh giá; trong đó phán xét đánh giá là hình thức biểu hiện cơ bản. Chỉ như thế, mới có thể bao quát được tất cả các hình thức biểu hiện khác nhau của dư luận xã hội.

Đối tượng của dư luận xã hội chính là những sự kiện, hiện tượng xã hội hay quá trình xã hội được phản ánh bởi dư luận xã hội. Nó không phải là mọi thực tại xã hội nói chung, mà chỉ là những vấn đề, những sự kiện, hiện tượng xã hội hay quá trình xã hội được cộng đồng xã hội quan tâm, bởi nó có liên quan tới các nhu cầu, lợi ích vật chất hay tinh thần của họ. Chỉ có các sự kiện, hiện tượng xã hội có tính thời sự, cập nhật trình độ hiểu biết của công chúng, được công chúng quan tâm mới có khả năng trở thành đối tượng của dư luận xã hội. Những vấn đề khoa học trừu tượng liên quan đến tương lai xa xôi của loài người sau hàng triệu năm nữa, khó có thể trở thành đối tượng của dư luận xã hội, khó thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều người. Trong khi đó, những vấn đề cụ thể, dễ hiểu, có liên quan trực tiếp đến lợi ích của công chúng, được công chúng rất quan tâm, như vấn đề giá cả thị trường, thiên tai, dịch bệnh, vấn đề kinh tế, vệ sinh và an toàn thực phẩm…, luôn là đối tượng phán xét của dư luận xã hội.

Như vậy, dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi xuất hiện những vấn đề mang ý nghĩa xã hội, đụng chạm đến lợi ích chung của cộng đồng xã hội, có tầm quan trọng và có tính cấp bách, đòi hỏi phải có ý kiến phán xét, đánh giá hoặc cần phải đề xuất phương hướng giải quyết cụ thể. Đó có thể là một vấn đề kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá, tư tưởng hay giáo dục, đào tạo.

Chủ thể của dư luận xã hội chính là cộng đồng người hay nhóm người mang dư luận xã hội. Một số người cho rằng, chỉ có những luồng ý kiến phổ biến, ý kiến của đa số mới được gọi là dư luận xã hội và do vậy, chỉ có đa số mới là chủ thể của dư luận xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu khác lại quan niệm rằng, dư luận xã hội là bất kỳ luồng ý kiến cá nhân giống nhau nào, bất kể đó là ý kiến của đa số hay thiểu số. Dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn, quan niệm thứ hai này được nhiều người đồng tình và ủng hộ. Cần khẳng định rằng, chủ thể của dư luận xã hội không chỉ là đa số người, mà còn bao gồm các nhóm thiểu số (một tập thể, một nhóm xã hội, một giai cấp, tầng lớp xã hội hoặc cả xã hội nói chung). Điều đó cũng có nghĩa là, dư luận xã hội bao gồm mọi luồng ý kiến, luồng ý kiến của đa số cũng như luồng ý kiến của thiểu số.

Trong xã hội, ở mỗi thời điểm nhất định thường có sự tồn tại của nhiều dư luận xã hội thuộc các cộng đồng xã hội lớn hoặc nhỏ. Chúng ta cần nghiên cứu không chỉ dư luận xã hội của đa số, mà còn cần nghiên cứu các dư luận xã hội khác về cùng một vấn đề. Dư luận xã hội, cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, luôn nằm trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Tính chất biện chứng của quá trình biến đổi đó thể hiện ở chỗ, cùng với sự tác động, sự thay đổi của các yếu tố và các điều kiện có ảnh hưởng tới sự hình thành dư luận xã hội, dư luận của một bộ phận thiểu số ngày hôm qua đến hôm nay có thể phát triển thành dư luận của đa số. Ngược lại, có những dư luận xã hội sau khi xuất hiện đã thể hiện được tác dụng của nó trong cuộc sống, nhưng nay không còn vai trò gì và không được chú ý tới nữa và khi đó, nó sẽ tự mất đi.

Có quan điểm cho rằng, các nhóm xã hội khác nhau, đối lập nhau về lợi ích, thì không thể có ý kiến, thái độ chung trước cùng một sự kiện, hiện tượng xã hội. Tuy nhiên, quan điểm này không được thực tiễn khẳng định. Trên thực tế, vẫn có những người có cùng quan niệm, ý kiến, mặc dù lợi ích của họ rất khác nhau. Chủ thể của dư luận xã hội có thể là tập hợp những người thuộc các giai cấp, tầng lớp xã khác nhau, thậm chí đối lập nhau về lợi ích. Đối với trường hợp này, cái nền tảng cố kết họ lại với nhau lại không phải là lợi ích của từng giai cấp hay từng nhóm xã hội cụ thể, mà là những đặc điểm truyền thống, tình cảm, tâm lý, nhận thức và quan niệm chung giữa họ. Chẳng hạn, trong một quốc gia có thể có nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau. Lúc bình thường, mỗi giai cấp, tầng lớp có lợi ích khác nhau, nhưng khi đất nước có họa xâm lăng thì cái liên kết họ với nhau chính là lợi ích quốc gia.

Khi nghiên cứu dư luận xã hội, chúng ta cần chú ý phân biệt dư luận xã hội với tin đồn. Tin đồn là một hiện tượng tâm lý xã hội khác về bản chất so với dư luận xã hội ở chỗ, tin đồn không phải là sản phẩm của tư duy phán xét của chủ thể mang nó. Tin đồn chỉ là một tin tức về một  sự việc, sự kiện, hay hiện tượng có thể có thật, không có thật hoặc chỉ có một phần sự thật được lan truyền từ người này sang người khác chủ yếu bằng con đường truyền miệng.

Chủ thể của tin đồn thường không được xác định rõ ràng. Tin đồn thường là sự bịa đặt (phao tin, đồn nhảm) và trong quá trình lan truyền từ người này sang người khác, luôn có sự thêu dệt, hư cấu, xuyên tạc hoặc thổi phồng một cách quá đáng. Tin đồn lan càng xa thì nội dung của nó càng khác với nội dung ban đầu. Điều này tuỳ thuộc vào mục đích và lợi ích của chủ thể truyền tin. Chính vì vậy, tin đồn mang nặng màu sắc chủ quan, thiên kiến của chủ thể truyền tin. Dư luận xã hội, ngược lại, là sản phẩm của tư duy phán xét của chủ thể mang nó. Dư luận xã hội thể hiện quan điểm, thái độ của chủ thể mang nó trước các sự kiện, hiện tượng, vấn đề mà chủ thể đó quan tâm. Dư luận xã hội lúc đầu có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhưng khi lan càng rộng thì càng có xu hướng thống nhất về nội dung phán xét hoặc tích tụ lại thành một số hướng cơ bản.

Như vậy, về mặt lý luận, hầu như không tồn tại một định nghĩa hoàn chỉnh nào về dư luận xã hội được tất cả mọi người đồng tình. Tuy nhiên, đa số vẫn thừa nhận rằng, dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến, thái độ có tính chất phán xét, đánh giá của các nhóm xã hội hay của xã hội nói chung trước những vấn đề mang tính thời sự, có liên quan tới lợi ích chung, thu hút được sự quan tâm của nhiều người và được thể hiện trong các nhận định hoặc hành động thực tiễn của họ. Để hiểu một cách sâu sắc hơn về dư luận xã hội với tư cách một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, cần lưu ý rằng, về hình thức biểu hiện, dư luận xã hội có thể được biểu hiện dưới cả ba hình thức là phán xét mô tả, phán xét chế định và phán xét đánh giá; về đối tượng, chỉ những sự kiện, hiện tượng xã hội thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều người, có liên quan đến lợi ích của họ mới có khả năng trở thành đối tượng của dư luận xã hội; về chủ thể, dư luận xã hội bao gồm mọi luồng ý kiến, luồng ý kiến của đa số cũng như luồng ý kiến của thiểu số. Ngoài ra, cần chú ý phân biệt sự khác nhau mang tính bản chất giữa dư luận xã hội với tin đồn.

Từ những điều trình bày trên đây, có thể nói, dư luận xã hội là một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, là sự biểu hiện trạng thái ý thức của các cộng đồng người và là một dạng tồn tại đặc biệt của ý thức xã hội, nảy sinh trên cơ sở sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, phản ánh tồn tại xã hội bằng phương thức đặc thù. Đồng thời, dư luận xã hội cũng là trạng thái tổng hợp và toàn vẹn của ý thức xã hội. Điều đó có nghĩa là, “trong cấu trúc của dư luận xã hội có mặt tất cả các thành phần, các yếu tố cấu thành ý thức xã hội: nhận thức, tình cảm và ý chí; tâm lý xã hội và hệ tư tưởng; ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức và thẩm mỹ...”(6).

Đúng là trong cấu trúc của dư luận xã hội có mặt tất cả các thành phần, các yếu tố cấu thành ý thức xã hội, nhưng không vì thế mà chúng ta đồng nhất dư luận xã hội với ý thức xã hội hoặc coi dư luận xã hội là một bộ phận của ý thức xã hội. Dư luận xã hội với tư cách một hiện tượng xã hội đặc biệt không tồn tại độc lập như là một thành phần hay bộ phận trong kết cấu nói trên; nó tham gia, có mặt trong tất cả các bộ phận, các thành phần của ý thức xã hội. Vấn đề là ở chỗ, khi có một sự việc, sự kiện, hiện tượng xã hội nào đó diễn ra, dù là thuộc ý thức xã hội thông thường, ý thức lý luận, tâm lý xã hội hay hệ tư tưởng, có đụng chạm đến lợi ích của cộng đồng xã hội và thu hút được sự quan tâm chú ý của họ, khi đó sẽ nảy sinh dư luận xã hội.

Bên cạnh đó, ý thức xã hội tồn tại dưới những hình thái khác nhau, mà những hình thái chủ yếu gồm ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức khoa học, ý thức thẩm mỹ và ý thức tôn giáo. Dư luận xã hội không phải là một hình thái ý thức xã hội bên cạnh những hình thái nói trên, mà nó có thể hiện diện, thẩm thấu trong từng hình thái ý thức xã hội. Phương thức phản ánh tồn tại xã hội của dư luận xã hội là dựa trên tập hợp các ý kiến, thái độ của một cộng đồng người về một sự việc hay sự kiện. Do vậy, nội dung của dư luận xã hội rất đa dạng và phong phú, bao gồm cả các vấn đề chính trị, pháp quyền, đạo đức, khoa học, tôn giáo... Điều đó cho thấy, dư luận xã hội là trạng thái tinh thần có thể bao hàm trong nó những hình thái ý thức xã hội khác nhau.

Giữa dư luận xã hội và ý thức xã hội có mối liên hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau. Ý thức xã hội là cơ sở, là nền tảng tinh thần để dư luận xã hội hình thành và phát triển. Dư luận xã hội có sự tác động tích cực trở lại đối với ý thức xã hội; nó luận giải, làm phong phú, sâu sắc thêm cho các quan điểm, tư tưởng thuộc ý thức xã hội. Mặc dù vậy, dư luận xã hội vẫn không phải là một bộ phận của ý thức xã hội, lại càng không phải là một hình thái ý thức xã hội. Dư luận xã hội là một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội.

Dưới góc độ nghiên cứu nguồn gốc phát sinh dư luận xã hội, các nhà triết học luôn nhấn mạnh đến sự tồn tại của những lợi ích và ý kiến của nhóm xã hội trong quá trình trao đổi, thảo luận. Nói cách khác, các cá nhân tham gia vào quá trình trao đổi ý kiến với tư cách đại diện của một nhóm lợi ích nhất định, nơi mà người đó tìm thấy quyền lợi của mình; có những hành vi và suy nghĩ phù hợp với giá trị, chuẩn mực của nhóm xã hội mà người đó là thành viên. Lợi ích của nhóm xã hội, của giai cấp nhiều khi có vai trò quyết định trong việc hình thành dư luận của các nhóm, tầng lớp, giai cấp trong xã hội. Trong xã hội có nhiều giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội với các lợi ích khác nhau; nếu cơ sở xã hội của dư luận xã hội không phải là lợi ích chung, phổ quát mà là lợi ích riêng, đặc thù của mỗi giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội thì dư luận xã hội của giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội có thể xung đột gay gắt với nhau.

Mặc dù có những lợi ích rất khác nhau, nhưng giữa các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội vẫn có những lợi ích chung. Con người vốn rất nhạy cảm với lợi ích giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội của mình. Mọi sự kiện, hiện tượng xã hội hay quá trình xã hội có đụng chạm đến lợi ích của các nhóm xã hội đều có thể làm phát sinh những phản ứng chung của họ, trong đó có dư luận chung, bày tỏ thái độ chung của nhóm xã hội, của cộng đồng xã hội đối với các sự kiện, hiện tượng xã hội hay quá trình xã hội đó. Điều đó nói lên  rằng, dư luận xã hội mang bản chất xã hội.

Từ phương diện nhận thức, một số nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh đến tính chất chủ quan trong sự phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội, đem đối lập nó với tri thức khách quan. Họ cho rằng, dư luận xã hội là sự biểu thị tình cảm, thái độ chủ quan đối với các sự kiện khách quan. Dưới góc độ triết học, nhận thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Sự phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội về cơ bản là đúng, song cũng có thể sai (sai nhiều hoặc sai ít). Dù có đúng đến mấy thì dư luận xã hội vẫn có những hạn chế nhất định, khó tránh khỏi sự chủ quan, định kiến hẹp hòi. Do vậy, không nên tuyệt đối hoá khả năng nhận thức từ dư luận xã hội. Dù có sai đến mấy, trong dư luận xã hội vẫn có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường được. Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến, sự lan truyền rộng hay hẹp của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn dư luận của thiểu số. Cái mới, lúc đầu thường chỉ có một số người nhận thấy, do đó, dễ bị đa số phản đối. Tuy nhiên, các phân tích này mới chỉ giúp chúng ta hiểu được một phần, một khía cạnh của dư luận xã hội.

Khi nghiên cứu dư luận xã hội dưới góc độ triết học đòi hỏi chúng ta phải tìm ra không chỉ các yếu tố nhận thức và lý trí, mà còn cả các yếu tố tình cảm, thái độ của một cộng đồng xã hội (nhóm xã hội) đối với những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống. Sống trong bất kỳ một cộng đồng xã hội nào, dưới một chế độ xã hội nào, các cá nhân không chỉ tìm hiểu và nhận thức về môi trường sống, mà còn tìm cách xác định mối quan hệ của mình đối với các sự kiện, hiện tượng xã hội diễn ra; đồng thời tạo cho mình một cách thức ứng xử phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Cơ sở cho việc xác định mối quan hệ và cách ứng xử phù hợp này chính là nhận thức về lợi ích của bản thân. Lợi ích của cá nhân trong xã hội luôn gắn liền với lợi ích của nhóm xã hội, của cộng đồng xã hội - nơi mà các cá nhân sống, làm việc; và gắn liền với các lợi ích của cộng đồng, của xã hội. Phân tích dư luận xã hội dưới góc độ triết học cho phép bóc tách được các tầng lợi ích và các mối quan hệ giữa chúng, xác định được những gì đang chi phối và định hướng cho sự tham gia của cá nhân vào quá trình thảo luận, bàn bạc công khai đối với từng công việc chung.

Một điểm quan trọng nữa khi nghiên cứu dư luận xã hội là các hình thức biểu hiện của dư luận xã hội trong đời sống hàng ngày. Trong thực tiễn cuộc sống, dư luận xã hội không chỉ dừng lại ở việc thể hiện các ý kiến, phán xét hay nhận định, mà còn thể hiện bằng những hành động thực tiễn cụ thể của chủ thể nhằm khẳng định, hỗ trợ cho các phán xét đánh giá của mình, đề xuất những phương hướng cụ thể nhằm giải quyết những mặt còn tồn tại trong các vấn đề xã hội mà cộng đồng đang quan tâm. Dư luận xã hội không phải là một hiện tượng tinh thần thuần tuý, mà là một hiện tượng tinh thần gắn bó chặt chẽ với thực tiễn. Dư luận xã hội xuất hiện, hình thành và hoạt động như một tập hợp các tranh luận, đánh giá, thể hiện quan hệ của các nhóm xã hội với hành vi và hoạt động của từng người riêng biệt. Yếu tố nhất định của bất cứ một cuộc tranh luận nào về các hiện tượng để có thể được coi là dư luận xã hội đều phải có sự đánh giá “âm tính” hay “dương tính” về hiện tượng. Điều này nói lên rằng, dư luận xã hội là cầu nối giữa ý thức xã hội và hành động xã hội.

Từ sự phân tích dưới góc độ triết học về dư luận xã hội với tư cách một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần trong đời sống xã hội, chúng ta có thể kết luận:

Thứ nhất, trong dư luận xã hội có sự hiện diện của các ý kiến cá nhân, quan điểm, tư tưởng, tâm lý, tình cảm của các cá nhân với tư cách những thành viên của xã hội. Những cá nhân này tham gia vào quá trình bàn bạc, thảo luận, bày tỏ ý kiến, thái độ của mình về một sự việc, sự kiện hay hiện tượng xã hội nào đó mà họ quan tâm.

Thứ hai, dư luận xã hội không phải là tổng số máy móc các ý kiến cá nhân, mà nó là sự tích hợp, đại diện, đặc trưng của các ý kiến đó. Dư luận xã hội trong trạng thái toàn vẹn của nó không còn là ý kiến cá nhân nữa, mà đã là ý kiến, quan điểm, thái độ chung của nhiều người, được đông đảo mọi người tán thành, ủng hộ.

Thứ ba, dư luận xã hội là một hiện tượng đặc biệt thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, phản ánh tồn tại xã hội thông qua các luồng ý kiến cá nhân về một sự kiện, hiện tượng xã hội. Nó không tồn tại một cách độc lập tương đối như những bộ phận khác của ý thức xã hội (ý thức chính trị, ý thức đạo đức...), mà tham gia, có mặt trong hầu hết các hình thái, các bộ phận của ý thức xã hội. Vì vậy, cần nhìn nhận dư luận xã hội như là một hiện tượng xã hội đặc thù, chứ không phải là một bộ phận của ý thức xã hội.

 


(*) Thạc sĩ triết học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

(1) B.K.Paderin. Dư luận xã hội trong xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển: bản chất và quy luật hình thành. Nxb Đại học Tổng hợp Kazan, 1999, tr. 21 - 22.

(2) A.K.Ulêđốp. Dư luận xã hội với tư cách là đối tượng của nghiên cứu xã hội học. Tạp chí “Các vấn đề triết học”, 1959, số 3, tr. 47.

(3) Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương – Trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội. Nghiên cứu, sử dụng và định hướng dư luận xã hội. Hà Nội, 1999, tr. 6 - 7.

(4) Lương Khắc Hiếu (chủ biên). Dư luận xã hội trong sự nghiệp đổi mới. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 14.

(5) Lương Khắc Hiếu (chủ biên). Sđd.,  tr. 14.

(6) Lương Khắc Hiếu (chủ biên). Sđd., tr. 12.

Đã xem: 2178
Thời gian đăng: Thứ bảy - 31/10/2015 04:55
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất