QC Shop

Những yếu tố khách quan, chủ quan tác động đến tinh thần chiến đấu của quân đội cách mạng Lào

XỔM PHON - XỶXUVĂNNẠ(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 8 (171), tháng 8 - 2005

Nhân tố tinh thần có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức chiến đấu của quân đội cách mạng. Nó chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Để nâng cao tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, cần phát huy vai trò của các yếu tố khách quan và chủ quan. Cụ thể là, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dục quân đội luôn trung thành với Đảng và gắn bó chặt chẽ với nhân dân; đồng thời, phát huy truyền thống đoàn kết của quân đội và đảm bảo các nhân tố cần thiết khác, như tri thức quân sự, bồi dưõng năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ và củng cố lòng tin của chiến sỹ…

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Nhân tố tinh thần là một trong những nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức mạnh chiến đấu của quân đội cách mạng. Nhân tố tinh thần có kết cấu phức tạp, bao gồm hai bộ phận cơ bản: Tư tưởng quân sự và tâm lý quân sự.

Tư tưởng quân sự gồm có: Các quan điểm triết học, chính trị về chiến tranh và phương pháp tiến hành chiến tranh, đạo đức, pháp lý, thẩm mỹ và tri thức quân sự của quân nhân. Tâm lý quân sự bao gồm: Cảm xúc, tâm trạng, tập quán thói quen.... của quân nhân. Hai bộ phận này có quan hệ chặt chẽ với nhau và là nội dung cơ bản trong nhân tố tinh thần của quân đội cách mạng.

1. Nhân tố tinh thần được nâng cao hay giảm sút là do sự tác động của yếu tố khách quan trong xã hội và yếu tố chủ quan trong quân đội.

a/ Những nhân tố khách quan trong xã hội tác động đến tinh thần chiến đấu của quân đội.

Một là, yếu tố Đảng, Nhà nước và giai cấp:

Từ khi lịch sử có sự phân chia xã hội thành giai cấp, sự mâu thuẫn không thể điều hoà được của các giai cấp đối kháng trong xã hội đã dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp. Sự hình thành giai cấp cũng là sự hình thành các lợi ích giai cấp khác nhau. Lợi ích giai cấp không phải do ý thức giai cấp quyết định, mà do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp tạo nên một cách khách quan.

Trong các lợi ích của giai cấp, có lợi ích cơ bản và không cơ bản. Lợi ích cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của một giai cấp. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, do địa vị và lợi ích kinh tế của mình, giai cấp công nhân đòi hỏi phải thực hiện phân phối theo giá trị lao động. Ngược lại, giai cấp tư sản lại có xu hướng và luôn tìm mọi cách để tăng thêm lợi nhuận tối đa. Điều đó khiến cho lợi ích của người công nhân và nhà tư sản trở nên mâu thuẫn, không thể điều hoà được và do vậy, tất yếu dẫn tới cuộc đấu tranh giai cấp.

Khi bàn đến vấn đề này, V.I.Lênin đưa ra định nghĩa: "Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống một bộ phận khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản"([1]).

Mâu thuẫn đó chỉ có thể được giải quyết một cách triệt để thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhưng, để cuộc cách mạng đi đến thành công, trước hết, giai cấp vô sản phải xây dựng nên tổ chức chính trị của mình là Đảng Cộng sản để lãnh đạo giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Đồng thời, trong cuộc đấu tranh giành chính quyền cũng như bảo vệ chính quyền và những thành quả cách mạng khác, Đảng Cộng sản không thể không tổ chức xây dựng lực lượng quân đội – công cụ bạo lực sắc bén có nhiệm vụ trấn áp kẻ thù, bảo vệ lợi ích của toàn thể nhân dân lao động.

Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: "… giai cấp cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội. Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối"(2). Trên thực tế, nhà nước nào cũng tìm cách truyền bá tư tưởng của giai cấp cầm quyền. Nó giáo dục cho quân đội theo những quan điểm, tư tưởng của giai cấp đó; đồng thời, cung cấp cho lực lượng này những nguồn lực cần thiết để có thể thực hiện được nhiệm vụ khi có yêu cầu. Chính vì thế, sự giáo dục của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đối với tư tưởng chính trị và tinh thần chiến đấu của quân đội.

Các Đảng cầm quyền và Nhà nước khác nhau có bản chất chính trị khác nhau; do vậy, sự phụ thuộc về mặt tinh thần của quân đội vào đảng và nhà nước cũng không giống nhau. Đảng và nhà nước của giai cấp tiến bộ sẽ tạo điều kiện phát huy nhân tố tinh thần của quân đội. Quân đội của các nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Đó là điều kiện quan trọng nhất để đảm bảo cho quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và tích cực, tự giác phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ nhân dân.

Hai là, chế độ kinh tế, điều kiện kinh tế xã hội:

Các quan điểm ngoài mácxít cho rằng, tinh thần của quân đội không có mối quan hệ nào với chế độ và điều kiện kinh tế. Họ coi tinh thần của quân đội chỉ là hiện tượng tâm lý, phụ thuộc vào tài năng của các tướng lĩnh.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, tinh thần quân đội thuộc ý thức xã hội. Ý thức xã hội luôn chịu sự chi phối của những điều kiện vật chất, điều kiện kinh tế. Do vậy, tinh thần của quân đội không thể không phụ thuộc vào các quan hệ kinh tế, chế độ kinh tế.

Chế độ kinh tế, điều kiện kinh tế của đất nước là cơ sở, nền tảng đảm bảo cho việc xây dựng và củng cố quân đội về nhiều mặt, trong đó có mặt tinh thần. Tinh thần của quân đội được quy định bởi tồn tại xã hội, mà trực tiếp là chế độ kinh tế.

Tuy nhiên, sự phụ thuộc của tinh thần quân đội vào chế độ kinh tế, điều kiện kinh tế không đơn giản máy móc. Không phải bất kỳ quốc gia nào có tiềm lực kinh tế mạnh thì cũng có quân đội mạnh về tinh thần. Vì, tư tưởng, tinh thần có tính độc lập tương đối. Nó vừa chịu sự chi phối của tồn tại xã hội, trước hết là của các quan hệ kinh tế, vừa có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội, với đời sống kinh tế. Trên thực tế, các nước tư bản có thể có tiềm lực kinh tế khá mạnh, nhưng không phải tinh thần quân đội của họ bao giờ cũng mạnh. Thực tiễn lịch sử chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai cho thấy, quân đội của các nước đế quốc, phát xít mặc dù đông hơn, vũ khí trang bị tối tân hơn.... nhưng đều bị thất bại nặng nề do yếu kém về mặt tinh thần. Ngược lại, quân đội của các nước xã hội chủ nghĩa, mặc dù có những hạn chế về điều kiện vật chất nhưng lại hơn hẳn về sức mạnh tinh thần. Do vậy, khi chiến tranh xảy ra, quân đội của các nước này vẫn có đủ khả năng tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân và đánh thắng kẻ thù. 

Thực tiễn của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào cũng cho thấy, mặc dù nền kinh tế của đất nước còn rất nghèo nàn, song Lào đã huy động được sức mạnh to lớn của quân đội nói riêng, của nhân dân nói chung để chiến thắng bọn phản động Thái Lan khi chúng đánh chiếm vùng biên giới. Vì thế, kinh tế chỉ là yếu tố xét đến cùng và trong một số trường hợp, nó không phải là yếu tố duy nhất quyết định sự thắng bại trong chiến tranh.

Ba là, yếu tố mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân:

Mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh tinh thần của quân đội. Nhân dân là nguồn sức mạnh cả về vật chất lẫn tinh thần. Đường lối xây dựng và lịch sử phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chỉ ra rằng, để có sức mạnh chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, quân đội phải luôn luôn dựa vào nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dạy rằng, quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ; rằng, quân đội phải liên hệ mật thiết với nhân dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân như “cá với nước”. Nhờ vậy, Quân đội nhân dân Việt Nam mới có sức mạnh vô địch, chiến thắng 3 đế quốc to là phát xít Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, quân đội Lào luôn biết dựa vào dân để thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ của mình. Sự giúp đỡ to lớn của nhân dân về nhân lực, vật chất và tinh thần cho quân đội trong mọi lúc, mọi nơi là đặc biệt quan trọng. Điều đó, đã cổ vũ tinh thần và nâng cao sức chiến đấu của quân đội, góp phần làm nên những thắng lợi vang dội của quân đội và nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ.

Do vậy, có thể khẳng định rằng, gắn bó chặt chẽ với nhân dân là điều kiện tiên quyết để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì sự nghiệp chung; đồng thời, là yếu tố cổ vũ và tăng cường tinh thần chiến đấu của quân đội cách mạng.

b. Những yếu tố chủ quan tác động đến tinh thần chiến dấu của quân đội.

Sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong nội bộ quân đội là yếu tố căn bản gắn kết lực lượng này thành một khối thống nhất. Quân đội cách mạng là công cụ bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Vì thế, nó mang đặc trưng cơ bản là sự đoàn kết giữa cán bộ với chiến sĩ, tạo thành một tập thể thống nhất và thực hiện nhiệm vụ chung là bảo vệ Đảng, Tổ quốc và nhân dân.

Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong các hoạt động học tập, huấn luyện, chiến đấu và sinh hoạt… luôn luôn tác động mạnh mẽ và tích cực đối với tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Sự kèm cặp, động viên của cán bộ, của những đồng chí khá, giỏi đối với những đồng chí yếu kém trong công tác huấn luyện; chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau về cả vật chất lẫn tinh thần khi ốm đau; tinh thần hiệp đồng chặt chẽ và hỗ trợ nhau trong chiến đấu, nhất là khi có những tình huống phức tạp; hoặc thực hiện tốt các chính sách đối với thương binh, tử sĩ… không chỉ biểu hiện tình đồng đội, tính nhân văn trong quan hệ giữa người với người, mà còn là “chất keo” gắn các cán bộ, chiến sĩ trong quân đội thành một tổ chức thống nhất. Tinh thần đoàn kết là yếu tố làm nên sức mạnh tinh thần của quân đội cách mạng. Nó củng cố cho cán bộ, chiến sĩ có sự vững vàng về tư tưởng chính trị và ổn định tâm lý; ngăn chặn những biểu hiện do dự, ngại khó, ngại khổ, cầu an, dao động hoặc đào ngũ.

Các nhân tố khác, như trang bị vũ khí, tri thức quân sự, sự kiểm tra và động viên kịp thời, thường xuyên của cấp trên cũng tác động rất lớn đến tinh thần của bộ đội.

Chúng ta nhấn mạnh đến yếu tố tinh thần nhưng không có nghĩa là tuyệt đối hoá nó. Trong chiến tranh hiện đại, trang bị vũ khí với tính cách phương tiện đóng vai trò quan trọng. Nhưng điều cơ bản, quyết định vẫn là con người – chủ thể sáng tạo và sử dụng những phương tiện đó. Nếu cán bộ, chiến sĩ nắm được tri thức quân sự, biết cách đánh phòng ngự, tiến công, phục kích.... kết hợp với vũ khí hiện đại sẽ tạo nên sức mạnh rất lớn của quân đội cách mạng. Người lãnh đạo chỉ huy chiến đấu giỏi, sâu sát thực tế, thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, động viên tinh thần, chỉ đạo hướng dẫn cho chiến sĩ các biện pháp đánh địch trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể... cũng là yếu tố quan trọng, xây dựng cho đơn vị niềm tin vào khả năng chiến đấu và chiến thắng của mình.

Nói tóm lại, các yếu tố khách quan, chủ quan có tác động rất lớn đến tinh thần của quân đội. Do vậy, để nâng cao vai trò và sức mạnh của nhân tố tinh thần của quân đội cách mạng, cần phải phát huy mặt tích cực của các yếu tố khách quan, chủ quan.

2. Một vài giải pháp cơ bản để phát huy vai trò của các yếu tố khách quan, chủ quan đối với việc nâng cao tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội.

* Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối với quân đội. Chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn cách mạng Lào trong thời gian qua đã cho thấy, Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển về mọi phương diện của quân đội cách mạng. Do vậy, Đảng Nhân dân cách mạng Lào phải đảm bảo lãnh đạo quân đội theo những nguyên tắc cơ bản của mình.

* Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn đã chỉ ra rằng, kinh tế thị trường là một phương thức hiệu quả để tạo dựng một nền kinh tế năng động, phát triển. Tuy nhiên, cái mà chúng ta hướng đến không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải có những điều kiện và biện pháp về chính trị, xã hội để giữ định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. Cụ thể là, phải xác lập, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa với định chế và luật pháp của nhà nước "của dân, do dân, vì dân"; phải xây dựng và củng cố kinh tế Nhà nước, tạo cơ sở nền tảng cho sự tồn tại của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, tạo lập sự ổn định chính trị - xã hội và đoàn kết thống nhất cộng đồng dân tộc gắn liền với giữ vững nền độc lập dân tộc; duy trì sự ổn định, đồng bộ, nhất quán về môi trường luật pháp, chính sách của nhà nước.

* Quân đội cần phải trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân; giúp đỡ nhân dân trong mọi điều kiện; gắn bó chặt chẽ với nhân dân. Nghiêm túc thực hiện 12 điều kỷ luật trong quan hệ với nhân dân, xử phạt những kẻ vi phạm và khen thưởng những cá nhân và tập thể có kỷ luật nghiêm túc. Những nội dung đó sẽ góp phần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa quân đội với nhân dân, tạo cho người dân ý thức chính trị cao và sẵn sàng cung cấp sức người, sức của cho quân đội khi cần thiết.

* Phát huy truyền thống đoàn kết nội bộ, coi đó là sức mạnh nội sinh của quân đội cách mạng. Nội dung này cần được đặc biệt coi trọng trong kế hoạch giáo dục chính trị tư tưởng của Tổng cục Chính trị. Những nội dung đoàn kết phải được quán triệt, thực hiện trong quá trình triển khai các nhiệm vụ học tập chính trị, huấn luyện quân sự, tăng gia sản xuất, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của từng đơn vị cũng như của toàn quân.

* Đảm bảo các nhân tố cần thiết khác nhằm tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội. Cần phải giải quyết từng bước mâu thuẫn giữa yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh, chính quy, hiện đại và khả năng thực tế về trang bị vũ khí - kỹ thuật như hiện nay. Cần phải căn cứ vào nhu cầu quốc phòng và hiện đại hoá các quân, binh chủng để trang bị cho thích hợp.

Đồng thời, nâng cao khả năng tác chiến và thể lực cho cán bộ, chiến sĩ. Công tác huấn luyện phải đảm bảo chất lượng, đạt 100% kế hoạch; huấn luyện cả tình huống đơn giản và tình huống phức tạp, sát với yêu cầu thực tế mới đảm bảo nâng cao được trình độ tác chiến. Ngoài ra, cần phải đảm bảo đời sống vật chất cho quân đội, phải thể hiện tính thực tiễn, ưu tiên trong chính sách xã hội của Nhà nước đối với quân đội, như tiền lương, trợ cấp, chăm sóc sức khoẻ… cho cán bộ, chiến sĩ.

Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học và nghệ thuật quân sự. Việc phân tích, nghiên cứu những nguyên nhân thắng lợi và thất bại trong các chiến dịch là khâu rất quan trọng. Nó tạo cơ sở cho các đơn vị rút kinh nghiệm, bổ sung, phát triển nhằm không ngừng nâng cao sức chiến đấu. Đồng thời, phải có những nghiên cứu cơ bản về nghệ thuật quân sự, xây dựng học thuyết chiến tranh nhân dân phù hợp với điều kiện cụ thể trên mọi phương diện của đất nước.

Tiếp tục nâng cao bản lĩnh lãnh đạo và chỉ huy của đội ngũ cán bộ quân sự. Cần phải xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ các quân, binh chủng, mở rộng các hình thức đào tạo trong nước và ngoài nước để phát triển đội ngũ cán bộ nòng cốt, có kiến thức chắc chắn. Đồng thời, tuyển chọn, sắp xếp những cán bộ có đủ tiêu chuẩn theo quy định vào cơ cấu ban chỉ huy các cấp trong quân đội cho thích hợp.

 

 

(*) Thượng tá, Nghiên cứu sinh Lào tại Việt Nam.

([1]) V.I.Lênin. Toàn tập, t.7. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr.237.

(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.3. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.20.

Đã xem: 2941
Thời gian đăng: Chủ nhật - 01/11/2015 01:01
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất