QC Shop

Một số vấn đề về văn hóa sinh thái ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay

Trần Thị Hồng Loan(*)

Nguồn: Triết học, số 6 (133), tháng 6-2002

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Không phải ngẫu nhiên mà năm 2002 được Liên hợp quốc chọn là năm quốc tế về miền núi. Qua thực tế và qua hàng loạt Hội nghị quốc tế về môi trường từ năm 1972 đến nay, đặc biệt là Hội nghị Môi trường Quốc tế lần thứ nhất tại Stốckhôm năm 1972 và Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất tại Rio De Janeiro năm 1992, nhân loại đã phải thừa nhận biết bao thảm hoạ về môi trường do chính mình gây ra. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất gây nên các cuộc khủng hoảng sinh thái cục bộ và đang đe doạ một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu  là sự khai thác và sử dụng một cách vô ý thức, bừa bãi, lãng phí các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đặc biệt là các giá trị sinh thái ở vùng rừng núi - nơi được coi là  lá phổi, là “mái nhà” của thế giới sống. Cũng như vậy, ở Việt Nam, các vùng rừng núi nói chung, các vùng rừng núi phía Bắc nói riêng có một vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự sống của con người và sự tồn tại, phát triển của đất nước. Tuy nhiên, các giá trị văn hoá sinh thái đang phải gánh chịu những sức ép nặng nề và những thách thức to lớn trước sự biến động nhanh chóng ở trong nước và trên thế giới.

Như đã biết, để tồn tại và phát triển, con người và xã hội loài người cần được cung cấp một lượng vật chất và năng lượng nhất định. Để có được lượng vật chất và năng lượng này, con người phải khai thác, cải biến tự nhiên, “nhào nặn” tự nhiên. Không dừng lại ở việc tác động đến tự nhiên, con người còn phản ánh lại các quá trình cải biến tự nhiên đó bằng những hoạt động tinh thần. Tất cả những giá trị vật chất và tinh thần mà con người đạt được trong quá trình tương tác với môi trường thiên nhiên đều được coi là các giá trị văn hoá sinh thái. Như vậy, xét đến cùng, văn hoá sinh thái thể hiện những đặc thù người trong quan hệ với tự nhiên; nó ảnh hưởng trực tiếp đến tự nhiên, đến môi trường sống của mọi loài, trong đó có con người. Cụ thể hơn, nếu không được tự nhiên che chở và cung cấp cho một nguồn vật chất và năng lượng thì xã hội loài người không thể tồn tại được. Khi con người lấy nguồn của cải của tự nhiên một cách quá đáng thì cũng là lúc con người trực tiếp huỷ hoại khả năng che chở, cung cấp nguồn vật chất và năng lượng lâu dài của nó cho xã hội loài người. Qua đó có thể thấy rằng, tự nhiên nói chung, đặc biệt là những nơi khởi nguồn của những dòng sông, những nơi được gọi là “lá phổi”, “mái nhà” của Trái đất, đang có những vấn đề gay cấn và nan giải, đòi hỏi phải có sự quan tâm nghiên cứu và giải quyết. Vùng rừng núi phía Bắc Việt Nam là một trường hợp cụ thể.

Miền núi phía Bắc nước ta có điều kiện tự nhiên rất phức tạp và khá đặc biệt. Dãy Hoàng Liên Sơn đã chia địa hình ở đây thành hai khu vực Đông và Tây Bắc, có độ cao trung bình trên 1 ngàn mét so với mặt biển, là đầu nguồn cung cấp nước cho các con sông chính ở miền Bắc nước ta và có ảnh hưởng đến cả các sông suối ở những vùng khác. Những điều kiện thiên nhiên đó đã tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đến  lối sống, phong tục tập quán, thói quen, v.v. của con người, tạo nên những giá trị văn hoá sinh thái đặc trưng. Các điều kiện kinh tế - xã hội ở đây cũng hết sức phức tạp: có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhất, tốc độ phát triển chậm, sự phát triển giữa các tiểu vùng không đồng đều,... Trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay, nếu không có các giải pháp kịp thời ngăn chặn các khuynh hướng tự phát, phá hoại môi trường thì chắc chắn đó sẽ là một nguy lớn cho đất nước.

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những chiến lược, chính sách rất cụ thể đối với miền núi phía Bắc, nhờ đó kinh tế - xã hội trong toàn vùng đã có những thay đổi đáng kể. Đối với một số lĩnh vực ảnh hưởng  trực tiếp đến việc biến đổi môi trường cũng đã có những dấu hiệu đáng mừng như diện tích rừng tăng từ 19,42% năm 1997 lên 33,1% năm 2001; mực nước ở các sông, hồ đã tương đối ổn định hơn, v.v.. Tuy nhiên, để giữ cho môi trường, sinh thái toàn khu vực ổn định lâu dài, không thể chỉ dựa vào một số giải pháp tình thế như đóng cửa rừng, chi phí ngân sách đáng kể để trồng rừng, v.v. mà phải từ những đặc thù về tự nhiên, về con người và những nét văn hoá của chính nhân dân các dân tộc sinh sống, làm ăn ở đây để định ra một chiến lược lâu dài cho toàn khu vực.

Miền núi phía Bắc nước ta có hơn 30 dân tộc anh em cùng sinh sống, làm ăn. Về cơ bản, nhân dân ở đây đều phải khai thác đất đai, nguồn rừng, nguồn tài nguyên khoáng sản,... để sinh sống, nên đều có những ảnh hưởng chung đến môi trường như phá rừng đầu nguồn, thải các chất thải ra sông, suối đầu nguồn, v.v.. Dựa vào các điều kiện thiên nhiên mà các dân tộc đang sinh sống, có thể chia làm ba nhóm đối tượng văn hoá, qua đó có thể thấy sự tác động của các điều kiện thiên nhiên lên con người cũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhóm đối tượng văn hoá đó đến môi trường, sinh thái khu vực rất khác nhau.

Nhóm 1: gồm các dân tộc sinh sống ở những vùng bình nguyên, vùng đồi thấp và những vùng tương đối bằng phẳng. Nhóm này thường tập trung tương đối đông các hộ gia đình, chủ yếu là những dân tộc như Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao và một số người dân tộc thiểu số khác nhưng đã có nhận thức phát triển hơn. Nhờ điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, nên các điều kiện về cơ sở hạ tầng được coi là phát triển nhất trong toàn vùng; kinh tế - xã hội ở vùng này cũng tương đối phát triển. Về cơ bản, những người dân thuộc nhóm 1 sử dụng nguồn lương thực chính là cây lúa nước, bên cạnh đó còn luân canh hoặc thâm canh thêm một số loại rau, màu khác như ngô, đậu tương và một số cây công nghiệp, v.v. cho nên đời sống - xã hội của nhân dân ở nhóm này khá ổn định. Nhờ phương thức trồng trọt, canh tác tương đối ổn định và trình độ nhận thức của người dân ở đây tương đối cao, nên nhóm này ít tàn phá môi trường, huỷ hoại sinh thái một cách bừa bãi, đó đồng thời cũng là kết quả của việc tuyên truyền pháp luật, chính sách rừng đầu nguồn của các cấp chính quyền.

Nhà ở của nhóm này thường được làm kiên cố ở những khu tương đối bằng phẳng và gần với những nơi canh tác chính. Trước đây, nhà ở thường được làm từ các loại gỗ quý, có đường kính lớn, được dựng theo kiểu nhà sàn hay nhà đất đều rất rộng; các yếu tố này được coi là tiêu chuẩn của sự giàu có, sung túc của các gia đình. Ngày nay, nhờ chính sách đóng cửa rừng của Chính phủ và sự giao lưu hàng hoá của kinh tế thị trường, nên các loại vật liệu xây dựng truyền thống đang dần được thay thế bằng các loại vật liệu sắt, thép, xi măng, và do vậy, việc lên rừng đầu nguồn tìm cây to làm nhà cũng được hạn chế, giảm nguy cơ tàn phá môi trường nghiêm trọng.

Tuy nhiên, không phải là không còn những nguy cơ tàn phá môi trường, huỷ hoại sinh thái đối với nhóm 1. Diện tích đất bằng phù hợp với việc trồng cây lúa nước là rất hạn chế, do đó nếu không khai thác ngày càng hiệu quả các nguồn đất để tương ứng với mức tăng dân số trong vùng thì lại thiếu diện tích đất canh tác, lại du canh, lại phá rừng. Mặt khác, do giao thông quá khó khăn, chi phí cho vận tải quá lớn, nên các nguyên liệu phục vụ cho việc làm nhà ở trong khu vực phải chịu mức giá quá cao, và do đó, việc lên rừng khai thác gỗ để bán, để sử dụng vẫn khó tránh khỏi. Như vậy, nguy cơ môi trường bị huỷ hoại vẫn còn rất lớn.

Nhóm 2: gồm một số hộ dân cư sống ở những vùng đầu nguồn nước, những vùng hẻo lánh như các khe núi, rìa rừng, v.v. Đó thường là các hộ gia đình của người Mường, người Dao, người Nùng, người H’Mông. Ở nhóm này, có vùng canh tác cây lúa nước, có vùng lại lấy cây ngô làm cây lương thực chính; ngoài ra, họ chăn nuôi và tăng gia nhiều cây rau, màu và một số cây công nghiệp khác. Do tính chất của việc sử dụng nguồn lương thực chính, nên nhóm này canh tác trên một diện tích đất dốc và rừng đầu nguồn tương đối rộng. Việc canh tác đó có ảnh hưởng tương đối lớn đến môi trường, sinh thái. Bởi điều kiện canh tác tương đối khó khăn, cho nên nhóm này thường du canh trong một vùng địa lý nhất định; ở một số vùng đặc biệt có cả du cư. Hạ tầng cơ sở ở những vùng mà nhóm dân cư này sinh sống còn rất khó khăn, thấp kém, điều đó đã làm cho những nhóm dân cư này sống tương đối độc lập với thế giới bên ngoài. Như vậy đối với nhóm dân cư này, những gì được gọi là truyền thống cũng được lưu giữ khá chắc chắn, kể cả những cái đã cổ hủ, lạc hậu, càng làm cho nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường, sinh thái của họ kém cỏi.

Nhóm 3: gồm một số nhóm nhỏ các gia đình cùng dòng họ sinh sống ở trên các sườn núi cao hoặc trong những khu rừng sâu. Nhóm này thường là các dân tộc H’Mông, một số nhóm Dao và một số dân tộc đặc biệt khác. Lương thực chính của nhóm này là cây ngô và cây lúa nương hoặc lúa nước nhưng do khai thác lâm sản đổi chác mà có. Để có nguồn lương thực cung cấp thường xuyên, thì ngoài việc khai hoang nguồn đất dốc trên 250, khai thác các nguồn lâm sản quý, v.v. họ còn thường du canh, du cư, mà tất cả những việc làm đó đều làm cho môi trường, sinh thái suy thoái nghiêm trọng hơn. Có điều đặc biệt với nhóm này là ngoại trừ một số truyền thống lâu đời của dân tộc, họ thay đổi các mặt của đời sống rất nhanh để phù hợp với tự nhiên và với môi trường mới. Với những khu vực nhóm này sinh sống, những điều kiện về hạ tầng cơ sở hết sức thấp kém, đời sống - xã hội khó khăn nhất hiện nay, vì vậy các dự án về môi trường, sinh thái; về phát triển vùng này rất ít có tính khả thi và ít có hiệu quả, càng làm cho vấn đề văn hoá - sinh thái trở nên phức tạp hơn.

Qua khảo sát một số nét cơ bản về văn hoá - sinh thái ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, đã đặt ra vấn đề cấp bách rằng: từ các nhà nghiên cứu, đến các cấp uỷ Đảng và chính quyền cần phải vào cuộc với một thái độ nghiêm túc và thận trọng. Theo chúng tôi, để có một môi trường văn hoá - sinh thái phù hợp với tình hình hiện tại và ổn định lâu dài ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, cần tính đến một số điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất là, để có thể tồn tại và phát triển, nhân dân các dân tộc miền núi phía Bắc phải dựa vào các yếu tố của tự nhiên như nguồn đất, nguồn rừng, nguồn lâm sản và các nguồn tài nguyên, v.v. Nhưng quá trình khai thác những yếu tố này phải được thực hiện bằng các giải pháp khoa học phù hợp với từng loại văn hoá sinh thái nhất định. Muốn vậy, phải có sự chỉ đạo tập trung từ khâu nghiên cứu cho đến triển khai các giải pháp kinh tế - sinh thái một cách thống nhất. Trong điều kiện trình độ hiểu biết về khoa học của đồng bào ở đây còn quá thấp kém càng cần phải hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể hơn.

Thứ hai là, can thiệp vào văn hoá - sinh thái ở miền núi phía Bắc phải đảm bảo tính đa dạng, nhiều vẻ cùng tồn tại trong một khối thống nhất. Như đã biết, đồng bào các dân tộc ở miền núi phía Bắc nước ta sống đan xen và thường xuyên giao lưu với nhau, mặc dù vậy những đặc thù của từng dân tộc về văn hoá vẫn có nhiều nét rất riêng. Đáp ứng yêu cầu này, cần phải đánh giá lại đặc thù văn hoá của từng dân tộc, kể cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, nhất là những nét văn hoá trực tiếp ảnh hưởng đến quan hệ với tự nhiên, trên cơ sở đó có những định hướng cụ thể với những đặc thù này; trong đó, có thể loại bỏ những gì đã lạc hậu, làm suy giảm môi trường, sinh thái trong khu vực, đồng thời có các chính sách với những đặc thù có giá trị văn hoá - sinh thái để phát triển phổ biến nó.

Thứ ba là, mọi giải pháp về văn hoá - sinh thái đối với miền núi phía Bắc nước ta hiện nay phải được bắt đầu từ nhóm thứ 3. Đời sống văn hoá của nhóm thứ 3 thuần tuý phụ thuộc vào môi trường tự nhiên và còn hết sức khó khăn, vì vậy, khi chưa có để ăn, để mặc thì phá rừng, di cư là điều khó tránh khỏi. Đương nhiên là cũng phải tính đến các giải pháp cho văn hoá - sinh thái ở các nhóm 2 và nhóm 1, thậm chí có thể từ những thắng lợi của các nhóm này để giúp đỡ và phát triển khu vực của nhóm 3. Đáp ứng yếu cầu này, trước hết phải tăng cường hiệu quả của các dự án định canh, định cư gắn với phát triển kinh tế - xã hội, sau đó đầu tư nhằm ổn định lâu dài văn hoá - sinh thái trong toàn vùng.

Văn hoá sinh thái là vấn đề phức tạp, nó chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là kinh tế và trình độ về khoa học kỹ thuật của con người, những yếu tố đó đối với miền núi phía Bắc lại quá thấp kém so với yêu cầu. Vì vậy, hy vọng sẽ được nhiều cơ quan khoa học; các cấp uỷ đảng và chính quyền của chính các tỉnh miền núi phía Bắc sớm quan tâm để có thể nhanh chóng mang lại hiệu quả thiết thực, tránh được những hậu quả đáng tiếc xảy ra cho môi trường sống ở đây và qua đó ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của đồng bằng Bắc bộ và của cả nước. 

 

(*) Giảng viên triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Đã xem: 796
Thời gian đăng: Thứ tư - 04/02/2015 02:36
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất