QC Shop

Vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái trong điều kiện kinh tế thị trường

PGS, TS. Phạm Thị Ngọc Trầm

Nguồn: Triết học, số 3 (130), tháng 3 - 2002

Ngày nay, khi vấn đề bảo vệ môi trường sống đang trở thành một trong những vấn đề căng thẳng, bức xúc và khó giải quyết nhất của thời đại, thì đạo đức sinh thái cần phải được coi như một nhu cầu mới trong phẩm chất của con người hiện đại. 

Nguồn: Internet

Nguồn: Internet

1. Đạo đức sinh thái - một nhu cầu mới trong phẩm chất của con người

Sống trong môi trường sinh thái - nhân văn, con người với tư cách là một động vật - xã hội luôn phải chịu đựng sự ràng buộc, quy định của ba mối quan hệ: 1 - Giữa con người với tự nhiên; 2 - Giữa con người với con người (cá nhân với cá nhân); 3 - Giữa con người với xã hội (cá nhân với cộng đồng). Đạo đức có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của con người và điều hoà các mối quan hệ đó.

Ngày nay, khi vấn đề bảo vệ môi trường sống đang trở thành một trong những vấn đề căng thẳng, bức xúc và khó giải quyết nhất của thời đại, thì đạo đức sinh thái (được hình thành trực tiếp từ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên) cần phải được coi như một nhu cầu mới trong phẩm chất của con người hiện đại. Tuy nhiên, không có đạo đức sinh thái thuần tuý. Suy đến cùng, đạo đức sinh thái cũng là một dạng đặc thù của đạo đức xã hội. Đúng như C.Mác đã viết: “Bản chất con người của tự nhiên chỉ tồn tại đối với con người xã hội, vì chỉ có trong xã hội, tự nhiên đối với con người mới là một cái khâu liên hệ con người với con người ... chỉ có trong xã hội, tự nhiên mới hiện ra là cơ sở của sự tồn tại tính chất người của bản thân con người”(1).

Tự nhiên là một khâu liên hệ giữa con người với con người - đó là một quan niệm sâu sắc. Quan niệm đó lại càng trở nên sâu sắc, quý giá và quan trọng hơn khi ta vận dụng vào việc giải quyết vấn đề bảo vệ môi trường sống hiện nay. Đó thực chất là vấn đề đạo đức sinh thái. Môi trường sống ở nước ta hiện nay đang ở tình trạng rất phức tạp, bức xúc cả trên bình diện cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên lẫn ô nhiễm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Trong số các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có phần đóng góp quan trọng của sự chuyển đổi các giá trị đạo đức sinh thái truyền thống trong điều kiện của nền kinh tế thị trường. Vậy, thực chất của những giá trị đạo đức sinh thái truyền thống Việt Nam là gì ? Ngày nay, nó đã biến đổi như thế nào ? Làm thế nào để con người có thể thực sự sống hài hoà với thiên nhiên trong một xã hội vẫn tiếp tục phát triển bền vững?

2. Các giá trị đạo đức sinh thái truyền thống Việt Nam

Trong truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam đã hình thành một hệ giá trị nói chung, hệ giá trị văn hoá sinh thái nói riêng mà cốt lõi của nó là những giá trị đạo đức sinh thái. Những giá trị đạo đức sinh thái đó đã quy định, chi phối cách ứng xử của con người Việt Nam đối với thiên nhiên trong xã hội truyền thống.

Cái thiện là giá trị lớn nhất bao trùm toàn bộ đạo đức sinh thái truyền thống. Trước hết, cái thiện biểu hiện ở triết lý sống hài hoà với thiên nhiên. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào những điều kiện cụ thể, triết lý này đã có những thay đổi cho phù hợp, được thể hiện qua những quan niệm khác nhau của con người về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Đó là các quan niệm “Thiên - Địa - Nhân hoà đồng”, “Mưu sự tại Nhân, thành sự tại Thiên”, “Nhân định thắng Thiên”. Các quan niệm này biểu hiện các mức độ và đồng thời cũng là thái độ của con người đối với thiên nhiên. Đó có thể là sự phụ thuộc tuyệt đối và mù quáng vào thiên nhiên, tôn thờ thiên nhiên, bởi con người đồng nhất thiên nhiên với thần linh và đó cũng có thể là cuộc chiến đấu với thiên nhiên để bảo vệ cuộc sống của mình. Con người phải đấu tranh quyết liệt với thiên tai, chiến thắng thiên tai để có thể hoà nhập và thích ứng nhiều hơn với thiên nhiên. Đó là cách “chinh phục thiên nhiên” tích cực, lương thiện, phù hợp với trình độ phát triển của nền văn minh nông nghiệp truyền thống.

Cái thiện trong đạo đức sinh thái truyền thống còn được biểu hiện ở tình yêu của con người đối với thiên nhiên. Con người yêu thiên nhiên bởi vì họ hiểu rằng, thiên nhiên chính là cội nguồn, là máu thịt của họ: “người ta là hoa của đất”. Thiên nhiên là tất cả những gì gần gũi nhất, thân thương nhất đối với người nông dân; là nguồn của cải vật chất quý báu nuôi sống họ, là “tấc đất, tấc vàng”, là “rừng vàng, biển bạc” ... Và thiên nhiên còn là nguồn cảm hứng thẩm mỹ sâu sắc, bất tận của họ. Song, người nông dân cũng biết rõ thiên nhiên đâu chỉ có giàu, có đẹp, mà trong lòng nó còn ẩn chứa tiềm tàng bao điều bí ẩn, khắc nghiệt mà nếu không đấu tranh để vượt qua thì con người không thể trụ bám được trên mảnh đất này bằng cái nghề trồng lúa nước truyền thống - một nghề luôn gắn bó chặt chẽ với những điều kiện thiên nhiên. Tuy có nhiều lúc thiên nhiên “không thuận” với con người, song với sự hiểu biết, kinh nghiệm sống và tình yêu tha thiết đối với thiên nhiên, con người Việt Nam trải qua bao thế hệ đã biết sống “thuận” theo thiên nhiên, sống nương nhờ vào thiên nhiên. Đó là cách ứng xử phù hợp của con người với thiên nhiên trong điều kiện xã hội còn kém phát triển. Đó cũng là lối sống văn hoá sinh thái lành mạnh, được biểu hiện qua nếp làm, nếp ăn, nếp mặc, đến việc xây cất nhà cửa, chạy chữa bệnh tật ...

Tình yêu thiên nhiên là cội nguồn của lòng yêu nước, yêu Tổ quốc - một giá trị cốt lõi trong hệ giá trị văn hoá truyền thống, một biểu hiện cao nhất của cái thiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Việt Nam có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước, có đất và có nước thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu, nước mạnh”(2). Lòng yêu nước là tư tưởng và tình cảm lớn nhất của con người Việt Nam, xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam.

Một biểu hiện sâu sắc của cái thiện trong hệ giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam, đó là yêu lao động. Để có thể sống nương nhờ và thuận theo thiên nhiên, một mặt, con người phải hiểu biết thiên nhiên qua từng trạng thái biến đổi của nó; mặt khác, bằng sức lực của bản thân mình, người nông dân trong quá trình lao động sản xuất đã cố gắng vượt qua mọi khó khăn, thử thách khắc nghiệt do thiên nhiên gây ra. Chính quá trình sống, lao động nặng nhọc, vất vả đó đã hun đúc trong con người Việt Nam những phẩm chất và năng lực cần thiết, như cần cù, thông minh, dũng cảm, đoàn kết và đặc biệt là yêu lao động, biết quý trọng sức lao động và những thành quả của lao động, sống cần kiệm. Với những phẩm chất và năng lực đó, người nông dân Việt Nam đã ngoan cường vượt qua bao gian lao, thử thách, chống chọi lại thiên tai khắc nghiệt để từng bước cải tạo hoàn cảnh thiên nhiên theo hướng thích ứng và hội nhập tối đa với nó, để sống và xây dựng nên cơ nghiệp, qua đó tự cải tạo bản thân mình và xây dựng xã hội theo hướng tiến bộ.

Yêu con người thể hiện ở tính cộng đồng cao, ở sự đoàn kết, cố kết, ở lối sống tình nghĩa, nhân ái là một trong những giá trị đặc trưng nhất, biểu hiện cao nhất của cái thiện trong đạo đức nói chung, trong đạo đức sinh thái truyền thống nói riêng. Có thể khẳng định được như vậy, bởi vì, giá trị này cùng với những giá trị đã nêu trên đây, đều được bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên và đều bị quy định bởi mối quan hệ đó.

Như vậy, trong hệ giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam nói chung, giá trị đạo đức sinh thái nói riêng, cái thiện luôn là đặc trưng ưu trội. Điều đó được thể hiện ở tình yêu thiên nhiên, yêu lao động, yêu con người và nếu xét trên bình diện của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên thì đó là triết lý sống hài hoà với thiên nhiên, theo cách “nương nhờ vào thiên nhiên”, “thuận” theo thiên nhiên.

3. Sự chuyển đổi các giá trị đạo đức sinh thái trong điều kiện kinh tế thị trường

Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX vừa qua, nước ta bắt đầu bước vào giai đoạn đổi mới. Sự gặp nhau giữa sản xuất hàng hoá, kinh tế thị trường, sự mở rộng giao lưu hợp tác với nước ngoài, sự hội nhập kinh tế thế giới, cùng với cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, thông tin hiện đại và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã tạo ra cho Việt Nam nhiều nhân tố mới, cơ hội mới để phát triển, đặc biệt là những điều kiện hết sức thuận lợi cho con người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Kinh tế thị trường với quy luật giá trị, nguyên tắc lợi nhuận tối đa, quan hệ cung cầu và sự cạnh tranh đã kích thích mạnh mẽ lợi ích, trước hết là lợi ích cá nhân trước mắt. Đạo đức gắn liền với lợi ích. Trong kinh tế thị trường, lợi ích có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều tiết mối quan hệ giữa con người và con người thông qua các mối quan hệ lợi ích trong xã hội theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng về lợi ích. Điều đó có nghĩa là quan hệ lợi ích góp phần tích cực điều tiết hành vi đạo đức của con người, làm cho đạo đức xã hội dần hoàn thiện hơn, lành  mạnh hơn. Song, do tính đặc thù của đạo đức sinh thái - mối quan hệ lợi ích ở đây chỉ đi theo một chiều là con người đối với tự nhiên, còn chiều ngược lại thì rất khó nhận thấy với một quy mô nhỏ hẹp và tại một thời điểm nào đó. Bởi vậy, con người với sự kích thích của lợi ích, bằng mọi cách đã tác động mạnh mẽ lên tự nhiên để thu về cho mình nhiều lợi ích nhất trong một thời gian ngắn nhất. Một khi lợi ích được kết hợp với phương tiện kỹ thuật hiện đại, con người hoàn toàn có đủ sức mạnh để "chiến thắng" thiên nhiên.

Khi mà sức mạnh của kinh tế thị trường, nhất là sức mạnh về lợi ích kinh tế đã thâm nhập và thống lĩnh trong các mối quan hệ xã hội, thì không những giá trị đạo đức xã hội phải thay đổi (cả theo hướng tích cực lẫn theo hướng tiêu cực), mà cả những giá trị của đạo đức sinh thái truyền thống cũng không thể đứng vững được nữa. Kinh tế thị trường không chỉ "tấn công" vào mối quan hệ giữa con người với con người, mà còn "tấn công dữ dội" vào mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Cùng với cơ chế thị trường, sự gia tăng nhanh chóng của dân số, sự đa dạng và ngày càng cao của nhu cầu con người, sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và của lực lượng sản xuất xã hội, ... đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi hơn, dễ dàng hơn cho con người trong việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

Nếu như trước đây, con người yêu thiên nhiên, quý trọng thiên nhiên bởi vẻ đẹp và giá trị vốn có của nó, thì ngày nay, ngược lại, con người, với lợi ích ích kỷ trước mắt của mình, chỉ nhìn  thấy các giá trị sử dụng và thực dụng của thiên nhiên. Tất cả các loại tài nguyên thiên nhiên như rừng, đất đai, nước, khoáng sản, động thực vật, ... đều đang bị con người khai thác đến cạn kiệt, sử dụng lãng phí đưa đến ô nhiễm nặng nề môi trường sống. Ở nước ta, hiện tượng đó diễn ra đặc biệt rõ khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới đến nay.

 Thực tế của sự suy thoái nghiêm trọng môi trường sống ở nước ta hiện nay là bằng chứng rõ ràng cho sự chuyển đổi các giá trị đạo đức sinh thái : chuyển đổi từ quan niệm, quan hệ lợi ích đến hành vi của con người đối với thiên nhiên. Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, trước hết là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Với triết lý sống hài hoà với thiên nhiên và với lý tưởng đạo đức sinh thái "Thiên - Nhân hoà đồng", con người Việt Nam đã luôn sống gắn bó với thiên nhiên qua bao thế hệ, trong hàng nghìn năm qua; song, đồng thời cũng là hàng nghìn năm con người Việt Nam chỉ biết sống nương nhờ và dựa vào thiên nhiên, thuận theo thiên thiên, phụ thuộc mù quáng vào thiên nhiên; vẫn luẩn quẩn trong cái vòng phát triển của nền văn minh nông nghiệp, mặc dù từ những năm 60 của thế kỷ XX này, chúng ta đã tiến hành công  nghiệp hoá đất nước. Trước những đổi thay đầy bất ngờ của thời đại, của đất nước, lý tưởng đạo đức sinh thái "Thiên - Nhân hoà đồng" chắc chắn không thể giữ vững theo cái nghĩa truyền thống nữa. Con người Việt Nam cần phải khai thác và khai thác nhiều hơn nữa các ngùôn tài nguyên thiên nhiên và môi trường để phát triển xã hội, trước hết là phát triển lực lượng sản xuất, nghĩa là con người cần phải biết khai thác và sử dụng triệt để giá trị sử dụng và giá trị thực dụng của các yếu tố tự nhiên. Bởi vì, cho đến nay, nguồn vật chất và năng lượng cần thiết cho sự tồn tại của con người và sự phát triển của xã hội chủ yếu vẫn còn phải lấy từ thiên nhiên. Biết khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả những tính năng vốn có của thiên nhiên là một việc làm rất cần thiết, chứng tỏ một bước tiến bộ mới của xã hội, của lực lượng sản xuất.

Vấn đề đặt ra cho thế hệ chúng ta và các thế hệ tiếp theo là không thể ngừng khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường để bảo toàn lý tưởng đạo đức sinh thái "Thiên - Nhân hoà đồng" theo kiểu truyền thống, song cũng không thể vì sự phát triển của xã hội trước mắt mà đành hy sinh môi trường sống, đành triệt tiêu cơ hội phát triển của các thế hệ mai sau.

Sự chuyển đổi hiện nay của các giá trị đạo đức sinh thái là từ chỗ đề cao lý tưởng đạo đức "Thiên - Nhân hoà đồng" mà thực chất là con người chỉ biết sống dựa dẫm và phụ thuộc mù quáng vào các lực lượng tự nhiên, không dám hay nói đúng hơn là không đủ khả năng tác động mạnh mẽ lên tự nhiên, sang lý tưởng "Nhân định thắng Thiên" theo kiểu cực đoan. Lúc này, con người chỉ biết khai thác, khai thác thật nhiều và thật nhanh các giá trị sử dụng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên để thoả mãn không ngừng nhu cầu ngày càng cao của mình. Đây là một bước đột phá, một bước chuyển đổi tất yếu và khách quan của xã hội trong quá trình phát triển. Song, điều cần phải nói đến ở đây là, bước chuyển đổi sẽ được thực hiện như thế nào - dài hay ngắn, hậu quả rồi sẽ ra sao ? Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động có ý thức của con người trong lĩnh vực mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Ở đây, đạo đức sinh thái giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ đó. Sự suy thoái của đạo đức sinh thái hiện nay có nguyên nhân trực tiếp của việc đặt lợi ích kinh tế trước mắt của con người lên trên hết. Cần phải có một đạo đức sinh thái mới thay thế cho đạo đức sinh thái hiện tại. Đạo đức sinh thái mới cần phải dựa trên cơ sở của lý tưởng "Thiên - Nhân hoà đồng" hiện đại với mối quan hệ thực sự hài hoà giữa con người và tự nhiên, trong đó không chỉ lợi ích của con người được thoả mãn, mà cả những giá trị vốn có của tự nhiên cũng luôn được bảo vệ, mọi hành vi của con người đối với tự nhiên đều được điều chỉnh bởi những chuẩn mực đạo đức sinh thái mới. Điều đó có nghĩa là, những giá trị của đạo đức sinh thái truyền thống đang được đặt trước những thách thức to lớn của những điều kiện phát triển mới. Trước mắt, chúng đang chuyển đổi chỉ theo chiều hướng có lợi cho con người, vì lợi ích trước mắt của con người và xã hội. Song, với mục tiêu phát triển lâu bền, sự chuyển đổi của các giá trị đạo đức sinh thái như hiện nay chắc chắn sẽ bị phủ định. Con người Việt Nam cần phải xây dựng một đạo đức sinh thái mới trên cơ sở tiếp thu và phát huy những giá trị đạo đức sinh thái truyền thống, phù hợp với những điều kiện phát triển mới của xã hội và thời đại.

4. Một số giải pháp xây dựng đạo đức sinh thái mới phù hợp với mục tiêu phát triển lâu bền

Việc xây dựng đạo đức sinh thái mới cần phải được tiến hành ở tất cả mọi thành tố của nó: ý thức, quan niệm tình cảm đạo đức, quan hệ đạo đức mà chủ yếu là quan hệ lợi ích và hành vi đạo đức hiện thực.

Về mặt lý luận. Đạo đức sinh thái là sự phản ánh về phương diện đạo đức hiện thực mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Ý thức, quan niệm đạo đức sinh thái mới phải được xây dựng trên nền tảng triết lý hài hoà giữa con người và thiên nhiên và trên cơ sở lý tưởng đạo đức "Thiên - Nhân hoà đồng" hiện đại, đó chính là ý thức sinh thái mới, xuất hiện cùng với thời đại. Có thể hiểu ý thức sinh thái mới là sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên (các yếu tố của tự nhiên và quy luật hoạt động của chúng), về vị trí, vai trò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên và về trách nhiệm, nghĩa vụ của con người trong việc điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ đó. Điều này chỉ có thể có được bằng con đường tuyên truyền giáo dục dưới tất cả mọi hình thức : giáo dục về môi trường trong các trường học từ phổ thông cho đến đại học, giáo dục thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, truyền thanh, truyền hình, v.v. dần dần cung cấp cho con người những tri thức sinh thái cần thiết, trên cơ sở đó hình thành nên ý thức sinh thái mới.

Về quan hệ đạo đức sinh thái. Quan hệ đạo đức sinh thái thể hiện trước tiên qua quan hệ lợi ích. Quan hệ lợi ích giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội. Do đó, có thể sử dụng cơ chế lợi ích như một công cụ hữu hiệu để điều chỉnh hành vi đạo đức của con người. Trong xã hội, lợi ích thường được điều chỉnh bằng biện pháp kinh tế, biện pháp luật pháp, và một phần bằng đạo đức.

Mọi hành vi đạo đức của con người đều gắn liền với lợi ích. Lợi ích, về mặt khách quan, được điều chỉnh bằng pháp luật. Nhưng, trong thực tế cuộc sống, hành vi của con người rất đa dạng và phức tạp, từ những hành động to lớn, quan trọng cho đến những hành động nhỏ nhặt trong cuộc sống đời thường. Do vậy, pháp luật không thể can thiệp để điều chỉnh mọi hành vi của con người. Điều đó có nghĩa là, pháp luật không bao giờ có thể bao quát hết mọi hành vi chưa đạt đến mức độ phải xem xét bằng pháp luật. Ở đây, chúng ta phải cần đến đạo đức.

So với các biện pháp kinh tế và luật pháp, sự điều chỉnh lợi ích bằng đạo đức đòi hỏi ở con người một trình độ nhận thức cao hơn - trình độ tự ý thức. Đối với đạo đức sinh thái, sự tự ý thức này còn đòi hỏi ở mức độ cao hơn. Bởi vì, trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên không có sự phù hợp trực tiếp về lợi ích giữa chủ thể đạo đức (con người) với khách thể đạo đức (tự nhiên) - một tiêu chí quan trọng và cơ bản để điều chỉnh hành vi đạo đức của con người. Con người với tư cách là chủ thể của đạo đức bao giờ cũng là kẻ thu lợi ích về cho mình. Còn sự "trả thù" của tự nhiên chỉ xảy ra sau tất cả những gì con người đã gây tác hại nghiêm trọng đến tự nhiên - nạn cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, nạn ô nhiễm nặng nề môi trường sống đến mức vượt quá ngưỡng chịu đựng của nó. Đến lúc đó, con người mới nhận ra thảm hoạ thì đã quá muộn. Do đó, trong mối quan hệ với tự nhiên, đạo đức sinh thái đòi hỏi ở con người một sự tự giác rất cao. Sự tự giác này chỉ có thể có được khi con người thật sự hiểu biết về tự nhiên, hiểu biết được vai trò và vị trí của mình trong quan hệ với nó và có một tình yêu thiên nhiên lành mạnh, trong sáng.

 Về hành vi đạo đức sinh thái. Hành vi đạo đức sinh thái là biểu hiện cao nhất của đạo đức sinh thái. Hành vi đạo đức được điều chỉnh bởi một hệ chuẩn (hệ thống các chuẩn mực), các giá trị đạo đức sinh thái. Hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực hay tiêu chuẩn của đạo đức sinh thái được hình thành trên cơ sở của ý thức đạo đức sinh thái (tư tưởng, quan niệm, tình cảm của con người đối với thiên nhiên) và quan hệ đạo đức sinh thái, chủ yếu là quan hệ lợi ích.

Việc sử dụng dư luận xã hội, phong tục, tập quán để điều chỉnh hành vi của con người trong điều kiện nước ta là vô cùng cần thiết. Biện pháp sử dụng dư luận xã hội đã trực tiếp tác động vào tâm lý các cá nhân và tâm lý xã hội của con người. Trước đây, đồng bào các dân tộc miền núi có "luật tục", ở các làng quê Việt Nam đã có "Hương ước" - những công cụ hữu hiệu để điều chỉnh hành vi của con người đối với tự nhiên. Ngày nay, "luật tục" đang bị xoá bỏ, trong khi đó, luật pháp chưa thực sự đi vào đời sống xã hội, chưa thấm vào ý thức của con người. Đó là một khó khăn lớn mà con người không thể dễ dàng khắc phục được. Song, một tín hiệu đáng khích lệ đang dần dần được phổ biến là ở nhiều thôn, xã đã tiến hành xây dựng các bộ Hương ước mới, ... Chắc chắn rằng, những bộ Hương ước mới này sẽ góp phần quan trọng không chỉ trong việc điều chỉnh hành vi đạo đức giữa con người với con người trong xã hội, mà còn góp phần tích cực điều chỉnh hành vi đạo đức của con người đối với môi trường tự nhiên xung quanh.

 

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen.  Toàn tập, t.42. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 170.

(2) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.9.  Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.506.

 

Đã xem: 315
Thời gian đăng: Thứ hai - 02/02/2015 03:16
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất