QC Shop
Ảnh minh họa

"Cuộc cách mạng nhân học" trong triết học tôn giáo phương Tây hiện đại

“Cuộc cách mạng nhân học” đang diễn ra trong triết học tôn giáo phương Tây hiện đại là cuộc cách mạng nhằm mục đích xây dựng hệ ý thức tôn giáo mới trên cơ sở giải quyết antinomia giữa “cái siêu việt” và “cái nội tại” với khát vọng tạo ra một bước ngoặt trong nhận thức về con người trên bình diện triết học. Luận giải quan niệm của một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại trong việc giải quyết antinomia này, tác giả bài viết đã làm rõ thực chất của “cuộc cách mạng nhân học” này là ở chỗ, nó đã làm thay đổi một cách khá căn bản mối quan hệ chủ đạo Thiên Chúa – con người, đặc biệt là trong thần học Tin lành và do vậy, dẫn đến sự hình thành ý thức tôn giáo mới – khắc phục chủ nghĩa Thiên Chúa là trung tâm, khi con người nâng cao các giá trị tự thân đồng thời vẫn giữ lại trong mình hình ảnh Thiên Chúa.

Thời gian đăng:: 11-10-2018 02:15:00 PM | Đã xem: 1312 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Mấy ý kiến về cuốn "Đại cương lịch sử triết học phương Tây"(*)

“Đại cương lịch sử triết học phương Tây”, về cơ bản, có thể coi là một cuốn sách tham khảo bổ ích cho sinh viên các trường đại học không chuyên triết. Nhóm tác giả của cuốn sách này đã trình bày một quan niệm khác về triết học, về lịch sử triết học so với các quan niệm được đưa ra trong các cuốn giáo trình về lịch sử triết học đã được xuất bản ở nước ta. Tuy nhiên, quan niệm của nhóm tác giả về đối tượng, nội dung và phương pháp của triết học còn có những vấn đề cần phải được thảo luận. Vấn đề chức năng của triết học cũng đã được nhóm tác giả luận giải một cách khá lý thú, song các tác giả đã bỏ qua một chức năng mà theo chúng tôi, hết sức quan trọng của triết học – chức năng giúp con người tìm kiếm tự do trong đời sống tinh thần của họ. Quan niệm của nhóm tác giả về mối quan hệ giữa “triết học và hệ tư tưởng”, “triết học và tôn giáo”, “triết học và cá nhân” cũng có những vấn đề cần phải được thảo luận.

Thời gian đăng:: 11-10-2018 11:21:00 AM | Đã xem: 1348 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Ba sai lầm trong nghiên cứu triết học mácxít ở Trung Quốc hiện nay(*)

Những năm gần đây, trong phong trào đổi mới triết học mácxít ở Trung Quốc, giới nghiên cứu triết học Trung Quốc đã phạm phải ba sai lầm cơ bản trong nghiên cứu triết học mácxít. Đó là, "Tâm thế phê phán sách giáo khoa" với một thái độ phi lịch sử; "Đòi hỏi tính học thuật" kiểu hình thức chủ nghĩa mà về thực chất là biến triết học mácxít thành lối học vấn mang tính hình thức suy diễn lôgíc thuần tuý, thành thứ "trò chơi trí tuệ" không có liên quan gì đến đời sống hiện thực; và "Mê tín giáo điều phương Tây" mà về thực chất là sử dụng các khái niệm hoặc lý luận triết học phương Tây để hoặc là lý giải, biện minh cho triết học mácxít, hoặc phê phán nó, hoặc là lấy những điểm giống nhau giữa triết học mácxít và triết học phương Tây để nói về tính hiện đại của triết học mácxít.

Thời gian đăng:: 17-09-2018 02:47:00 PM | Đã xem: 1349 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Về xu thế chính trị hóa tôn giáo trong quá trình toàn cầu hóa tại Ấn Độ

Chính trị hoá tôn giáo gồm rất nhiều vấn đề và là một quá trình phức tạp. Ở Ấn Độ, xu thế này nổi trội ở hai vấn đề: Thứ nhất, Ấn Độ hiện đang bước vào giai đoạn hậu thế tục hoá về chính trị và quyền lực các bang. Sức mạnh hùng hậu của BJP là một nhân tố lớn trong sự phát triển của Ấn Độ. Bên cạnh đó, trường phái thế tục của những người theo bước chân của J.Nehru cũng đang lớn mạnh và chính họ đã tạo ra cảm hứng và hy vọng không chỉ cho cộng đồng Hinđu giáo chiếm đa số mà cả những cộng đồng thiểu số như Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Thứ hai, đó là quá trình toàn cầu hoá với sự mở cửa và ảnh hưởng của nó tới Ấn Độ. Trong bài viết này, chúng tôi cũng đề cập tới một số nguyên nhân cơ bản khiến cho hiện tượng chính trị hoá tôn giáo tại Ấn Độ là không thể tránh khỏi và ngày càng phát triển mạnh mẽ với những thách thức không dễ gì có thể giải quyết.

Thời gian đăng:: 28-07-2018 05:22:00 PM | Đã xem: 3440 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Hêghen (1770-1831)

Về khái niệm "tinh thần tuyệt đối" trong triết học Hêghen

Luận giải và làm rõ nội dung của khái niệm “Tinh thần tuyệt đối” trong triết học Hêghen, trong bài viết này, trước hết tác giả bài viết đã làm rõ vị trí của khái niệm này trong Triết học tinh thần của ông, đồng thời luận giải quá trình đi từ nhận thức cái Tuyệt đối đên nhận thức cái Tinh thần ở ông. Với Hêghen, cái Tinh thần là sự thống nhất giữa ý thức và tự ý thức, là quá trình nó tự vận động, sự biểu hiện và tự nhận thức mình theo tính tất yếu và đó chính là Ý niệm đã trở lại với chính mình; Tinh thần tuyệt đối là sự  “dung hoà hoàn hảo” giữa tự nhiên và tinh thần, giữa tinh thần chủ quan và tinh thần khách quan – sự dung hoà của tất cả các mặt đối lập trong quá trình nhận thức tính tất yếu của nó, là tư duy của tinh thần về chính bản thân mình với tư cách chân lý tuyệt đối, vừa là kết quả vừa là quá trình tinh thần tự nhận thức bản thân mình thông qua con người, xã hội loài người và lịch sử. Tiếp đó, tác giả bài viết đưa ra những nhận xét sơ bộ về khái niệm Tinh thần tuyệt đối của Hêghen.

Thời gian đăng:: 28-07-2018 02:36:00 PM | Đã xem: 9470 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Về bản chất của quan hệ quản lý

Quản lý xã hội là hoạt động có tổ chức của con người, gắn liền với quá trình sản xuất và là sản phẩm của xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển cụ thể của nó, gắn với sự phân chia xã hội thành giai cấp. Hoạt động quản lý xã hội mang tính hai mặt: mặt tổ chức – kỹ thuật và mặt xã hội. Hai mặt này, hai chức năng này luôn tồn tại trong quá trình thống nhất biện chứng của hệ thống quản lý. Hoạt động quản lý không chỉ mang tính tổ chức, hành chính, mà còn là hoạt động xã hội có nội dung giai cấp, chính trị – xã hội. Quan hệ quản lý luôn mang bản chất xã hội và trong xã hội có sự phân chia giai cấp, nó còn mang bản chất giai cấp.

Thời gian đăng:: 28-07-2018 02:23:00 PM | Đã xem: 2203 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Chính trị, Xã hội , Lịch sử Triết học
Hàn Phi (khoảng 280 – 233 TCN)

Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi

Hàn Phi (khoảng 280 – 233 TCN) là người tập đại thành tư tưởng Pháp gia. Ông đã tiếp thu điểm ưu trội của ba trường pháp “pháp”, “thuật”, “thế” để xây dựng và phát triển một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời. Coi pháp luật là công cụ hữu hiệu để đem lại hoà bình, ổn định và công bằng, Hàn Phi đã đề xuất tư tưởng dùng luật pháp để trị nước. Ông đưa ra một số nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và thực thi pháp luật, như pháp luật phải nghiêm minh, không phân biệt sang hèn, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật... Với những tư tưởng đó, học thuyết của Hàn Phi được người xưa gọi là “học thuyết của đế vương”.

Thời gian đăng:: 28-07-2018 02:20:00 PM | Đã xem: 26574 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Khổng Tử (Ảnh minh họa)

Mấy ý kiến trao đổi về bài "Mẫu người quân tử - Con người toàn thiện trong "Luận ngữ" của Khổng Tử"

Mẫu người quân tử là vấn đề đã được nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên, sau khi đọc kỹ bài viết “Mẫu người quân tử – con người toàn thiện trong “Luận ngữ” của Khổng Tử” của tác giả Nguyễn Thị Kim Chung đăng trên Tạp chí Triết học, số 9, năm 2003, chúng tôi thấy cần thiết phải trao đổi với tác giả về một số vấn đề. Đó là, thứ nhất, về khái niệm mẫu người quân tử; thứ hai, về bản tính con người và đạo của người quân tử; thứ ba, nhận định của tác giả về tư tưởng Khổng Tử.

 

Thời gian đăng:: 03-07-2018 04:21:00 PM | Đã xem: 2080 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Bàn thêm về "Vô" và mối quan hệ giữa "Hữu" và "Vô" trong "Đạo đức kinh"

Từ trước tới nay, Vô trong Đạo đức kinh của Lão Tử thường được hiểu theo hai cách khác nhau. Có quan niệm coi Vô là “hư vô”, là hoàn toàn không có gì và do đó, Vô, Hữu là hai yếu tố đối lập tuyệt đối với nhau; quan niệm khác, ngược lại, cho rằng, Vô không phải là hư vô như nhiều người hiểu. Trong bài viết này, tôi đồng ý với quan niệm của tác giả Hoàng Ngọc Hiến khi coi Vô là thực tại. Cái Vô - thực tại đó cũng là Đạo tự nhiên, là cội nguồn của vạn vật. Tuy nhiên, theo tôi, Vô còn có thể được hiểu theo nghĩa là một trong hai mặt đối lập của Đạo, là bộ phận cấu thành vạn vật, là cái làm cho sự là nó.

Thời gian đăng:: 09-05-2018 03:04:00 PM | Đã xem: 3941 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Tư tưởng biện chứng trong Chu dịch

Chu Dịch là cuốn sách của người Trung Quốc ra đời cách đây 2500 năm, có ý nghĩa triết học sâu sắc. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập tới tư tưởng biện chứng của tác phẩm, thông qua quan niệm của người xưa về sự vận động và phát triển; về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng; về mâu thuẫn; về sự phủ định… Những quan niệm này đã thể hiện trình độ tư duy biện chứng của người Trung Quốc cổ đại. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử – xã hội và cả phương thức tư duy nên tư tưởng biện chứng được thể hiện trong Chu dịch vẫn còn có những hạn chế nhất định.

Thời gian đăng:: 24-04-2018 02:21:00 PM | Đã xem: 2123 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Khổng Tử (Ảnh minh họa)

Về việc nghiên cứu và ứng dụng Nho giáo, Đạo giáo ở Trung Quốc hiện nay

Trong quan niệm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện nay, việc kế thừa văn hoá truyền thống, đặc biệt là văn hoá Nho - Đạo có một giá trị xã hội vô cùng quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước và xây dựng nền văn minh tinh thần đương đại. Với quan niệm đó, họ đã khai thác các giá trị của Nho - Đạo ở nhiều lĩnh vực mà trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến một số lĩnh vực, như Trí tuệ sinh thái của Đạo gia và bảo vệ môi trường, văn hoá Đạo gia và sự phát triển khoa học hiện đại; Ý nghĩa hiện đại của Triết học nhân sinh của Đạo gia; trí tuệ Nho gia và công tác đào tạo “Nho thương hiện đại”; tính hai mặt của chữ “Hiếu” và giá trị xã hội của nó. Những nghiên cứu này đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội và trở thành xu thế phát triển của học thuật Trung Quốc thời nay.

Thời gian đăng:: 04-04-2018 02:29:00 PM | Đã xem: 3303 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
E.Huxéc (1859 - 1938)

Phương pháp hiện tượng học của E.Huxéc

Phương pháp hiện tượng học của Huxéc có vai trò to lớn và là đóng góp quan trọng của ông trong việc xây dựng, phát triển hiện tượng học. Huxéc gọi phương pháp đó là épochè (ngưng hãm) và réduction (giản lược). Bản thể - eidos, chỉ đạt đến bằng épochè. Trong khuôn khổ đó, hiện tượng học đi đến giản lược một vài yếu tố của dữ kiện và không bận tâm đến chúng nữa. Phương pháp hiện tượng học nhắm vào cái trình diện với ý thức, nghĩa là đối tượng của nó. Với phương pháp này, Huxéc đã mang lại thêm một cách nhìn về thế giới; chủ đích của hiện tượng học là đạt tới cái thế giới đã thực sự được ý thức của ta nhắm vào khi trải nghiệm và bản chất mà nó đạt đến là bản chất cụ thể. Tuy nhiên, phương pháp hiện tượng học của Huxéc cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định khi tìm cách phân tách “ý thức thuần túy” khỏi tồn tại khách quan và ý thức của chủ thể, hoặc tiêu chuẩn của chân lý lại phụ thuộc vào ý nghĩa mà chủ thể ban bố cho khách thể. 

Thời gian đăng:: 31-03-2018 02:55:00 PM | Đã xem: 2175 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Về khái niệm Niết bàn trong Phật giáo

Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn). Phật giáo Tiểu thừa hướng tới Vô dư Niết bàn - một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn - một Niết bàn nhân bản, nhập thế và hoạt động cùng những buồn vui nhân thế. Quan niệm này đã mang lại một sức hấp dẫn, sức sống mới cho Phật giáo, đặc biệt là trong xã hội hiện đại. 

Thời gian đăng:: 23-03-2018 02:08:00 PM | Đã xem: 6207 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Giá trị của triết học trong quan niệm của B.Rátxen và M.Mítgơlây

Triết học là gì và có giá trị như thế nào? Câu hỏi ấy luôn được đặt ra trong lịch sử triết học. Theo B.Rátxen, giá trị của triết học chỉ có thể tìm thấy giữa các lợi ích tinh thần. Ông cho rằng, giá trị của triết học là ở chỗ, thông qua việc giải đáp các câu hỏi đặt ra, nó giúp con người nâng cao sự hiểu biết về các sự vật và có thể giải phóng con người khỏi những mục đích cá nhân hẹp hòi. Khác với B.Rátxen, M.Mítgơlây lại tìm giá trị của triết học ở chính sự cần thiết của nó trong việc giải thoát con người khỏi sự lẫn lộn thường xuyên về khái niệm. Điểm chung của hai nhà triết học này là đều khẳng định sự cần thiết của triết học trong cuộc sống và vai trò quan trọng của nó trong quá trình nhận thức thế giới của con người.

 

Thời gian đăng:: 17-03-2018 03:43:00 PM | Đã xem: 1791 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
GI.P.Xáctơrơ

Tư tưởng đạo đức học của GI.P.Xáctơrơ

Từ những luận điểm cơ bản của triết học hiện sinh, như con người - đó là sự hiện sinh, sự hiện sinh - đó là tự do, là hành vi sáng tạo, con người - đó là sự tự do lựa chọn, là siêu nghiệm hoá, là thực thể lịch sử, là giá trị tự thân và chủ nghĩa hiện sinh - đó là chủ nghĩa nhân văn, Gi.P.Xáctơrơ đã đưa ra quan niệm về đạo đức và từ đó, xây dựng nên những “tín điều” đạo đức. Với những “tín điều” này, ông kêu gọi con người hãy hướng tới chủ nghĩa nhân đạo, đề cao con người, đề cao sự tự do của con người và hãy tạo ra các giá trị cho chính mình. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất trong tư tưởng đạo đức học của Gi.P.Xáctơrơ là ở chỗ đã phủ nhận tính khách quan của hành vi con người và do vậy, không thấy hết ý nghĩa khách quan của những giá trị đạo đức mà nhân loại đã có được.

 

Thời gian đăng:: 01-03-2018 11:28:00 AM | Đã xem: 1084 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Gi.P.Xáctơrơ với hiện tượng học Huxéc trong vấn đề quan hệ giữa tồn tại và ý thức

Chịu ảnh hưởng của hiện tượng học Huxéc, Gi.P.Xáctơrơ đã xây dựng triết học hiện sinh của ông trên cơ sở áp dụng hiện tượng học Huxéc và việc nghiên cứu tồn tại người. Coi quan niệm của Huxéc về tự ý thức  là một sai lầm, Gi.P.Xáctơrơ đã cố gắng chứng minh “cái Tôi” không phải là trung tâm mang tính hợp nhất và cá biệt hoá của ý thức. Lý giải tính ý hướng của ý thức mà Huxéc đưa ra, ông đã coi tính ý hướng là cấu trúc cơ bản của mọi ý thức mà từ đó, tất yếu nảy sinh sự khác biệt căn bản giữa ý thức và cái được ý thức, rằng tính ý hướng này luôn đòi hỏi phải thừa nhận cả bản thân sự vật lẫn những thuộc tính của nó là những cái tồn tại bên ngoài ý thức. Và, do vậy, không nên quy thế giới đang được con người nhận thức về tồn tại của ý thức trong thế giới. Với ông, nguyên tắc tính ý hướng là hình thức triết học duy nhất có thể cho phép ý thức được tính thực tại của thế giới bên ngoài và tính không thể quy được thế giới ấy về ý thức; rằng, thế giới các sự vật chỉ tồn tạitrong quan hệ với ý thức. Gi.P.Xáctơrơ coi đây không chỉ là nguyên tắc phương pháp luận trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tồn tại và ý thức, mà nó còn là biểu hiện chân lý của mối quan hệ ấy.

Thời gian đăng:: 03-02-2018 03:48:00 PM | Đã xem: 1201 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

"Triết học của cách mạng" (Hay thái độ của GI.P.Xáctơrơ đối với chủ nghĩa duy vật và biện chứng của tự nhiên)

Với khát vọng vượt lên trên sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, Gi.P.Xáctơrơ  chủ trương xây dựng một thứ triết học mới với tư cách lý luận hành động cách mạng nhằm cải tạo triệt để các cơ cấu kinh tế – xã hội và làm cho con người trở nên thực sự tự do. Với ông, chủ nghĩa duy vật không thể đóng vai trò là “triết học của cách mạng”, vì nó không hiểu được sự “siêu việt hoá” hoàn cảnh của con người. Phủ định biện chứng của tự nhiên dựa trên cơ sở của những dữ liệu kinh nghiệm, ông đã tự bộc lộ sự khiếm khuyết trong quan niệm về vật chất và vận động. Với Gi.P.Xáctơrơ, sự tồn tại chủ nghĩa duy vật với tư cách phép biện chứng về tự nhiên là điều không thể, nhưng với tư cách học thuyết về biện chứng của xã hội thì đó lại là điều có thể. Phủ định vai trò của cả chủ nghĩa duy vật lẫn phép biện chứng, triết học hiện sinh dựa trên nguyên lý “Tồn tại có trước bản chất” của Gi.P.Xáctơrơ chỉ góp phần khẳng định vai trò tích cực của con người, chứ không thể trở thành “triết học của cách mạng” theo nghĩa đích thực của nó.

Thời gian đăng:: 03-02-2018 03:44:00 PM | Đã xem: 1813 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Vấn đề chủ thể nhận thức và phương pháp nhận thức trong triết học Tây Âu cận đại

Sự phê phán triết học kinh viện và thế giới quan Trung cổ là nét đặc trưng của các nhà triết học Tây Âu Cận đại có tư tưởng tiến bộ. Ph.Bêcơn và R.Đêcáctơ đều coi lý tính là một lực lượng bản chất của con người; coi chủ thể nhận thức vừa có lý tính, vừa có tự ý thức. Đối với các ông, chủ thể nhận thức là con người sống và tư duy trong xã hội, nhưng đó không phải là cá nhân kinh nghiệm mà là chủ thể trừu tượng. Phương pháp nhận thức mà các nhà triết học Tây Âu Cận đại xây dựng yêu cầu những luận điểm xuất phát phải có tính chân thực và được duy trì trong suốt quá trình nghiên cứu. Theo họ, trực giác trí tuệ là năng lực nhận thức cao nhất của con người và phụ thuộc vào trình độ tư duy lôgíc. Có thể nói, các nhà triết học Tây Âu Cận đại đã khẳng định tính tích cực của chủ thể nhận thức, nhưng họ lại không chứng minh được trong khuôn khổ của chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy tâm.

Thời gian đăng:: 02-02-2018 03:46:00 PM | Đã xem: 2983 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Mạnh Tử (371 - 289 TCN)

Tư tưởng dân bản trong học thuyết nhân chính của Mạnh Tử

Nội dung xuyên suốt học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử là tư tưởng Dân bản - tư tưởng lấy dân làm gốc. Đối với Mạnh Tử, nhân nghĩa là cơ sở để trị nước, bình thiên hạ và điều chỉnh quan hệ xã hội; đồng thời, là điểm xuất phát để xây dựng tư tưởng Dân bản. Ông luôn nhấn mạnh, đề cao vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định của dân đối với sự thịnh suy của đất nước; đòi hỏi nhà cầm quyền phải thi hành nền chính trị nhân nghĩa nhằm thu phục nhân tâm. Bên cạnh đó, ông còn đưa ra những tư tưởng có giá trị nhân văn sâu sắc về khoan dân, bảo dân,…; đồng thời, nhấn mạnh sự cần thiết phải tu thân, dưỡng tính của con người. Có thể nói, cho đến nay, tư tưởng dân bản của Mạnh Tử vẫn còn ý nghĩa và giá trị thiết thực.

Thời gian đăng:: 02-02-2018 03:39:00 PM | Đã xem: 8895 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Hêraclít (520 – 460 TCN)

Lửa - Bản nguyên vật chất đầu tiên và duy nhất của vũ trụ trong triết học Hêraclít

Khi coi Vũ trụ là một chỉnh thể thống nhất, nhà triết học Hy Lạp cổ đại – Hêraclít (520 – 460 TCN) đã khẳng định Lửa là bản nguyên vật chất đầu tiên và duy nhất của vạn vật. Lửa “bùng cháy” và “lụi tàn” theo cái Logos vốn có của nó. Sự chuyển hoá của Lửa là một quá trình “không ngừng nghỉ” và quá trình đó dẫn đến sự sinh thành của vạn vật, vạn vật biến đổi và chuyển hoá lại trở về với Lửa. Thế giới thống nhất ở trong “ngọn Lửa sống bất diệt”. Lửa “điều khiển” và “phán xét” tất cả, bao trùm tất cả. Lửa là khởi nguyên tự nhiên tích cực, năng động và tinh tế nhất, là bản nguyên vật chất “có lý tính”, quy định tính có trật tự và hài hoà của Vũ trụ. Lửa không chỉ đem lại cho Vũ trụ cả sự sống lẫn cái chết mà còn tượng trưng cho mọi cái sống động, năng động và tích cực. Lửa không chỉ tạo nên “thân xác”, mà cả “linh hồn” cho vạn vật. Lửa có “đời sống nội tâm” của nó.

Trong quan niệm của Hêraclít về Lửa vẫn còn mang tính vật hoạt luận và phiếm thần luận, song đó là quan niệm cho thấy tính thống nhất của thế giới, quan niệm luôn đòi hỏi giải thích các hiện tượng tự nhiên dựa vào chính tự nhiên và là “sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng”.

Thời gian đăng:: 22-01-2018 02:50:00 PM | Đã xem: 6069 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây

Các tin khác

1 2 3 4 5 6 7 8  Trang sau
 

Bài mới nhất