QC Shop
Thời gian đăng:: 24-11-2015 11:29:23 PM | Đã xem: 666 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Thời gian đăng:: 24-11-2015 05:47:24 AM | Đã xem: 935 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Mạnh Tử (Ảnh minh họa)

Từ tư tưởng "nhân nghĩa" đến đường lối "nhân chính" trong học thuyết chính trị - xã hội của Mạnh Tử

Dựa trên nền tảng đức “nhân” của Khổng Tử, Mạnh Tử đã chủ trương hiện thực hoá đức “nhân” trong xã hội, xây dựng nên tư tưởng “nhân nghĩa” và vận dụng tư tưởng đó vào hiện thực xã hội. Theo Mạnh Tử, “nhân nghĩa” là phẩm chất cần thiết cho tất cả mọi người và khi nó được ứng dụng vào việc trị nước sẽ trở thành “nhân chính”. Có thể nói, khi đi từ tư tưởng “nhân nghĩa” đến đường lối “nhân chính”, Mạnh Tử đã làm cho đạo đức hoá thân vào chính trị, làm cho tư tưởng đức trị trở nên sâu sắc hơn, có ý nghĩa hơn đối với xã hội Trung Quốc đương thời.

Thời gian đăng:: 24-11-2015 05:42:32 AM | Đã xem: 1094 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Đoàn kết Cơ đốc giáo trong một thế giới toàn cầu hóa - Misereor và cam kết vì công bằng xã hội

Phân tích những cơ hội và thách thức của toàn cầu hoá đang mang lại cho cả cộng đồng nhân loại từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, nhất là tới tác động của nó trong việc thực hiện công bằng xã hội, tác giả đã khẳng định sự cần thiết phải tạo dựng một thế giới đoàn kết để thực hiện công bằng xã hội trên phạm vi toàn cầu. Và, khi chỉ ra những đóng góp của MISEREOR trong vấn đề, tác giả đã khẳng định, MISEREOR không chỉ luôn là tấm gương cho tình đoàn kết Cơ đốc giáo trong một thế giới toàn cầu hoá, mà còn là một tổ chức luôn cố gắng thực hiện cam kết vì công bằng xã hội và có những đóng góp nhất định trong lĩnh vực này.

Thời gian đăng:: 24-11-2015 05:02:22 AM | Đã xem: 386 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Thời gian đăng:: 24-11-2015 04:13:51 AM | Đã xem: 371 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Phản biện tính hiệu quả từ luận đề "Những hình ảnh của nước" (Hay là yêu cầu cần phân biệt đặc điểm và giá trị của minh triết phương Đông)

Thông qua những so sánh đối chiếu của F.Jullien trong tác phẩm Bàn về tính hiệu quả, tác giả đã đi đến phân tích luận đề “những hình ảnh của nước” với tư cách hình ảnh đặc sắc phản ánh tư tưởng của Lão Tử. Lão Tử đã xem xét một phẩm chất của nước – “bất tranh” và từ đó khái quát thành quan điểm nhân sinh, thành phẩm chất ứng xử được coi là đặc trưng của tâm thức phương Đông – “vi vô vi”. Theo tác giả, quan điểm nhân sinh này thiên về khái quát đặc điểm kinh nghiệm, ứng xử hơn là định hướng tiến bộ xã hội, nên khó có thể coi là giá trị.

Thời gian đăng:: 24-11-2015 02:33:17 AM | Đã xem: 406 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Về quan điểm và tiêu chuẩn thực tiễn(*)

Trong bài viết này, tác giả đã phân tích và luận chứng để làm rõ rằng, quan điểm thực tiễn là quan điểm cơ bản và quan trọng nhất trong triết học Mác. Nêu ra quan điểm thực tiễn cũng chính là nêu ra nhận thức luận, giá trị luận và phương pháp luận đúng đắn. Trên cơ sở khẳng định thực tiễn là tiêu chuẩn và là con đường duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, tác giả nhấn mạnh rằng, trong quá trình kiên trì và vận dụng lý luận, cần thường xuyên nghiên cứu tình hình mới, vấn đề mới, thông qua sự tổng kết, khái quát thực tiễn mới để bổ sung, làm phong phú và phát triển thêm lý luận, thúc đẩy sự phát triển của lý luận.

 

Thời gian đăng:: 23-11-2015 02:40:01 AM | Đã xem: 2620 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Khoan dung - Thuật ngữ và sự vận động của nó trong lịch sử triết học phương Tây

Bài viết đề cập đến vấn đề khoan dung trên hai khía cạnh: thuật ngữ và sự vận động của tư tưởng khoan dung trong lịch sử triết học phương Tây. Sự vận động này chịu sự quy định của các điều kiện xã hội - lịch sử. Xem xét lịch sử vận động, phát triển của tư tưởng khoan dung trong triết học phương Tây, tác giả chỉ ra những nội dung cơ bản và phạm vi thể hiện nổi trội của tư tưởng này cũng như những hạn chế trong cách hiểu về khoan dung trong lịch sử; đồng thời, khẳng định giá trị trong quan niệm về khoan dung qua Tuyên ngôn những nguyên lý về khoan dung của UNESCO.

Thời gian đăng:: 22-11-2015 11:01:08 PM | Đã xem: 655 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Giá trị lao động và giá trị tri thức(*)

Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra sự phân tích và luận chứng khoa học để, một mặt, phê phán quan điểm của phương Tây cho rằng lý luận giá trị lao động của C.Mác đã không còn ý nghĩa; mặt khác, chứng minh một cách thuyết phục lý luận giá trị thặng dư của C.Mác không hề lỗi thời, mất tác dụng. Theo tác giả, nghiên cứu sâu hơn vai trò của lao động trí óc (hay nói cách khác – giá trị tri thức) là chủ đề lớn mà những nhà mácxít hiện nay có trách nhiệm phải làm sáng tỏ. Cuối cùng, bài viết khẳng định rằng, nếu không nghiên cứu tỉ mỉ lý luận giá trị lao động mà đã phủ định nó một cách đơn giản thì đó không phải là một thái độ khoa học.

Thời gian đăng:: 22-11-2015 10:06:51 PM | Đã xem: 773 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Đôi điều về Việt Nam hóa triết học Mác trong thời đại mới

Bài viết này không mang tính chất khảo cứu, vì người viết không chuyên nghiên cứu triết học Mác, càng không phải là triết học Mác hiện đại. Người viết không đưa ra các tiền đề cho những luận điểm trong bài và cũng không có đầy đủ các luận cứ, luận chứng cho những luận điểm đó. Lý do là, tuy nội dung bài viết chủ yếu là về triết học Mác, song được tiếp cận từ góc độ, kinh nghiệm của lịch sử triết học phương Đông và văn hoá phương Đông, với một giả định là bất cứ học thuyết nào, hệ tư tưởng nào muốn tồn tại và phát triển trong một không gian và thời gian khác (trên/trong một xã hội khác, ở một thời đại khác) thì bắt buộc phải được bản địa hoá. Tương tự như trước đây, Nho giáo hay Phật giáo, để bám rễ, ăn sâu vào đời sống tinh thần và văn hoá người Việt, thì chúng phải được Việt Nam hoá thành Nho giáo Việt Nam, Phật giáo Việt Nam,v.v.. Việt Nam hoá triết học Mác hay phát triển triết học Mác ở Việt Nam cũng mang ý nghĩa như vậy; nghĩa là triết học Mác hiện nay phải thể hiện được nội dung tinh thần thời đại, phải giải quyết được các vấn đề của Việt Nam đang đặt ra. Với cách hiểu đó, Việt Nam hoá triết học Mác cũng chính là hiện đại hoá triết học Mác cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Bài viết đề cập tới các vấn đề: 1. Bối cảnh lịch sử hiện đại hoá ở Việt Nam; 2. Hiện đại hoá Việt Nam trong thời đại mới - những khó khăn; 3. Việt Nam hoá triết học Mác từ góc độ văn hoá.

Thời gian đăng:: 22-11-2015 01:21:51 AM | Đã xem: 460 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Hài hòa xã hội - Thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc

Hiện thực hoá xã hội hài hoà là một tư tưởng quan trọng của các nhà kinh điển, hàm chứa trong lý luận của chủ nghĩa Mác, là mục tiêu phấn đấu không ngừng của những người cộng sản Trung Quốc. “Nghị quyết” của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc lần đầu tiên đề xuất một cách rõ ràng luận điểm “Hài hoà xã hội là thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”, thể hiện một trình độ và một tầm nhận thức tự giác cao hơn, sâu sắc và hệ thống hơn của Đảng Cộng sản Trung Quốc về quan hệ nội tại giữa chủ nghĩa xã hội và hài hoà xã hội. Với tư cách thuộc tính bản chất được quyết định bởi chế độ kinh tế cơ bản trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, hài hoà xã hội đã thể hiện yêu cầu cốt lõi của chế độ chính trị nền tảng của chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc là một quá trình lịch sử lâu dài, trong đó hài hoà xã hội đóng vai trò thuộc tính bản chất. Sự thể hiện một cách mạnh mẽ của nó cũng là một quá trình chuyển hoá lâu dài từ bên trong ra bên ngoài, từ lý tưởng đến hiện thực. 

Thời gian đăng:: 22-11-2015 01:14:23 AM | Đã xem: 511 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Bản thể luận và cách tiếp cận bản thể luận trong triết học phương Tây

Trên cơ sở làm rõ nội hàm của khái niệm “bản thể luận” và trình bày một cách khái quát lịch sử hình thành, phát triển của khái niệm này trong triết học phương Tây, từ cổ đại đến hiện đại, bài viết đã đưa ra và phân tích nội dung của cách tiếp cận bản thể luận để từ đó đi đến khẳng định rằng, cách tiếp cận bản thể luận không phải là cách tiếp cận mới, nhưng là một trong những cách tiếp cận có tính gợi mở cao, cho phép nhìn nhận tiến trình phát triển của lịch sử triết học từ một góc độ khác và là cách tiếp cận hữu dụng trong việc nghiên cứu lịch sử triết học.

Thời gian đăng:: 22-11-2015 12:44:51 AM | Đã xem: 2748 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Edmund Husserl

Về khái niệm "thế giới đời sống" trong hiện tượng học Étman Huxéc

“Thế giới đời sống” là khám phá sau cùng của Étman Huxéc nhằm tránh hiểm hoạ rơi vào chủ nghĩa duy ngã, khi xây dựng phương pháp giản lược và lý thuyết “kiến tạo” của ý thức về tính ý hướng. Nó là một chặng đường trong hành trình dài mà hiện tượng học của ông đã đi qua, từ chủ nghĩa tâm lý đến hiện tượng học, từ hiện tượng học mô tả đến hiện tượng học siêu nghiệm, rồi đến “thế giới đời sống”. Xoay quanh khái niệm này, với cách mô tả độc đáo về “tính liên chủ thể”, “cộng đồng nhân vị”…, Huxéc đã làm cho hiện tượng học mang một diện mạo mới mà nhờ đó, nó có thể đi sâu vào thực tiễn đời sống.

Thời gian đăng:: 22-11-2015 12:42:03 AM | Đã xem: 372 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Vấn đề bản tính con người trong triết học Trung Quốc cổ đại

Theo các tác giả, những yêu cầu bức xúc của xã hội thời Xuân thu – Chiến quốc và thuyết tiên nghiệm là hai lý do chính tạo ra sự quan tâm của các triết gia, trường phái tư tưởng ở Trung Quốc thời kỳ cổ đại về vấn đề bản tính con người. Phân tích các quan niệm về bản tính con người ở các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại từ Nho gia, Đạo gia đến Pháp gia với các đại biểu như Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Lão Tử, Hàn Phi Tử…, các tác giả đã làm rõ sự đồng nhất và khác biệt và qua đó, là sự đối lập nhau trong sự giáo hoá con người của các quan niệm đó. Các tác giả cho rằng, chính việc tìm hiểu, khai thác các mặt khác nhau trong triết lý về bản tính con người và lợi ích giai cấp đã tác động đến việc hình thành các quan niệm khác nhau như vậy. Điều đó đã tạo nên biện chứng giữa tính thống nhất và tính đa dạng trong quan niệm về bản tính con người của triết học Trung Quốc thời kỳ này.

Thời gian đăng:: 22-11-2015 12:37:05 AM | Đã xem: 1939 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Tư tưởng khoan dung trong triết học khai sáng Pháp

Khoan dung là một trong những tư tưởng nổi bật của triết học Khai sáng Pháp mà cho đến nay, nó vẫn còn có giá trị và ý nghĩa đối với xã hội hiện đại. Tiếp nối J.Lốccơ, các nhà Khai sáng Pháp đã phát triển tư tưởng về khoan dung, đem lại cho nó những nội dung mới mẻ, phong phú. Đó là sự chấp nhận đối với những người vô thần và đa thần, là tư tưởng về tôn giáo tự nhiên, đặc biệt là sự khoan dung về văn hoá. Ý nghĩa của tư tưởng này đối với xã hội hiện đại là ở chỗ, nó gợi mở một cách giải quyết hiện thực cho vấn đề làm thế nào để tạo nên sự hài hoà trong khác biệt, làm thế nào để vừa giữ vững bản sắc, “cái khác biệt” của mình, vừa tôn trọng “cái khác biệt” của người khác - đó là sự khoan dung.

Thời gian đăng:: 21-11-2015 11:09:37 PM | Đã xem: 994 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây

Các tin khác

  Trang trước  1 2 3 4 5 6 7 8  Trang sau
 

Bài mới nhất