QC Shop
Ảnh minh họa

Về hai khuynh hướng chống đối và ủng hộ chủ nghĩa cá nhân ở phương Tây

Trong quá trình hình thành và phát triển, chủ nghĩa cá nhân vấp phải sự chống đối của những người muốn bảo vệ chủ nghĩa tổng thể, của những nhà nhân cách chủ nghĩa và những nhà lý luận, triết học của Nhà thờ. Cho đến nay, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân vẫn chưa kết thúc. Tuy nhiên, chủ nghĩa cá nhân không vì thế mà bị loại ra khỏi đời sống xã hội của con người. Nó vẫn tiếp tục phát triển với những nội dung tích cực, vẫn được nhiều nhà lý luận, trong đó có một số người trước đây từng phê phán mạnh mẽ, tìm cách ủng hộ và bảo vệ. Sau nhiều thăng trầm, chủ nghĩa cá nhân lại bước vào giai đoạn phát triển mới và dường như, trong hiện tại cũng như tương lai, vấn đề cá nhân sẽ trở thành vấn đề trọng tâm cần được chú ý của mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

Thời gian đăng:: 06-11-2015 03:19:47 AM | Đã xem: 520 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
GI.P.Xáctơrơ

Tư tưởng đạo đức học của GI.P.Xáctơrơ

Từ những luận điểm cơ bản của triết học hiện sinh, như con người - đó là sự hiện sinh, sự hiện sinh - đó là tự do, là hành vi sáng tạo, con người - đó là sự tự do lựa chọn, là siêu nghiệm hoá, là thực thể lịch sử, là giá trị tự thân và chủ nghĩa hiện sinh - đó là chủ nghĩa nhân văn, Gi.P.Xáctơrơ đã đưa ra quan niệm về đạo đức và từ đó, xây dựng nên những “tín điều” đạo đức. Với những “tín điều” này, ông kêu gọi con người hãy hướng tới chủ nghĩa nhân đạo, đề cao con người, đề cao sự tự do của con người và hãy tạo ra các giá trị cho chính mình. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất trong tư tưởng đạo đức học của Gi.P.Xáctơrơ là ở chỗ đã phủ nhận tính khách quan của hành vi con người và do vậy, không thấy hết ý nghĩa khách quan của những giá trị đạo đức mà nhân loại đã có được.

 

Thời gian đăng:: 05-11-2015 11:28:48 PM | Đã xem: 368 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Khổng Tử (Ảnh minh họa)

Quan niệm về thế giới và con người trong triết học Khổng Tử

Trong hệ thống triết học của Khổng Tử, quan niệm về thế giới, về con người hết sức phong phú, sâu sắc, được  thể hiện qua các phạm trù như đạo, thiên mệnh, nhân, trí,… nhằm  phản ánh đời sống và bản chất con người. Chúng luôn thâm nhập vào nhau và thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bởi tác giả của chúng mong muốn giải quyết được những vấn đề lịch sử đặt ra. Do hạn chế lịch sử và lợi ích giai cấp, những tư tưởng này chứa đựng cả yếu tố tích cực và tiêu cực, những mâu thuẫn và tính không nhất quán. Song, tựu trung lại, với những đóng góp của mình, Khổng Tử xứng đáng với sự suy tôn của nhân dân Trung Hoa: người thầy của muôn đời.

Thời gian đăng:: 05-11-2015 11:22:38 PM | Đã xem: 5734 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

GI.P.Xáctơrơ - Người mãi không ngừng "nổi loạn"

Năm nay, nước Pháp và thế giới tiến bộ kỷ niệm 100 năm ngày sinh và 25 năm ngày mất của Gi.P.Xáctơrơ - người con độc đáo của dân tộc Pháp, người bị nhiều người ghét bỏ, nhưng rất nhiều người khác lại yêu mến, rồi sau này hầu như bị lãng quên. Tuy nhiên, cuối cùng thì giới văn hoá Pháp vẫn tiếp tục phát hiện được những điểm mới ở nhà tư tưởng, nhà văn và cho phép con người vĩ đại nhưng cũng hết sức bí ẩn này thực hiện một chuyến quay trở lại bất ngờ và đầy ngoạn mục từ chốn ngục luyện.

Thời gian đăng:: 01-11-2015 03:57:14 AM | Đã xem: 343 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Gi.P.Xáctơrơ với hiện tượng học Huxéc trong vấn đề quan hệ giữa tồn tại và ý thức

Chịu ảnh hưởng của hiện tượng học Huxéc, Gi.P.Xáctơrơ đã xây dựng triết học hiện sinh của ông trên cơ sở áp dụng hiện tượng học Huxéc và việc nghiên cứu tồn tại người. Coi quan niệm của Huxéc về tự ý thức  là một sai lầm, Gi.P.Xáctơrơ đã cố gắng chứng minh “cái Tôi” không phải là trung tâm mang tính hợp nhất và cá biệt hoá của ý thức. Lý giải tính ý hướng của ý thức mà Huxéc đưa ra, ông đã coi tính ý hướng là cấu trúc cơ bản của mọi ý thức mà từ đó, tất yếu nảy sinh sự khác biệt căn bản giữa ý thức và cái được ý thức, rằng tính ý hướng này luôn đòi hỏi phải thừa nhận cả bản thân sự vật lẫn những thuộc tính của nó là những cái tồn tại bên ngoài ý thức. Và, do vậy, không nên quy thế giới đang được con người nhận thức về tồn tại của ý thức trong thế giới. Với ông, nguyên tắc tính ý hướng là hình thức triết học duy nhất có thể cho phép ý thức được tính thực tại của thế giới bên ngoài và tính không thể quy được thế giới ấy về ý thức; rằng, thế giới các sự vật chỉ tồn tạitrong quan hệ với ý thức. Gi.P.Xáctơrơ coi đây không chỉ là nguyên tắc phương pháp luận trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tồn tại và ý thức, mà nó còn là biểu hiện chân lý của mối quan hệ ấy.

Thời gian đăng:: 01-11-2015 03:48:36 AM | Đã xem: 382 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

"Triết học của cách mạng" (Hay thái độ của GI.P.Xáctơrơ đối với chủ nghĩa duy vật và biện chứng của tự nhiên)

Với khát vọng vượt lên trên sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, Gi.P.Xáctơrơ  chủ trương xây dựng một thứ triết học mới với tư cách lý luận hành động cách mạng nhằm cải tạo triệt để các cơ cấu kinh tế – xã hội và làm cho con người trở nên thực sự tự do. Với ông, chủ nghĩa duy vật không thể đóng vai trò là “triết học của cách mạng”, vì nó không hiểu được sự “siêu việt hoá” hoàn cảnh của con người. Phủ định biện chứng của tự nhiên dựa trên cơ sở của những dữ liệu kinh nghiệm, ông đã tự bộc lộ sự khiếm khuyết trong quan niệm về vật chất và vận động. Với Gi.P.Xáctơrơ, sự tồn tại chủ nghĩa duy vật với tư cách phép biện chứng về tự nhiên là điều không thể, nhưng với tư cách học thuyết về biện chứng của xã hội thì đó lại là điều có thể. Phủ định vai trò của cả chủ nghĩa duy vật lẫn phép biện chứng, triết học hiện sinh dựa trên nguyên lý “Tồn tại có trước bản chất” của Gi.P.Xáctơrơ chỉ góp phần khẳng định vai trò tích cực của con người, chứ không thể trở thành “triết học của cách mạng” theo nghĩa đích thực của nó.

Thời gian đăng:: 01-11-2015 03:44:16 AM | Đã xem: 352 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

GI.P.Xáctơrơ - Người sáng lập chủ nghĩa hiện sinh vô thần pháp

Chủ nghĩa hiện sinh vô thần của Gi.P.Xáctơrơ (1905-1980) là sản phẩm của sự dung hoà, sự kết hợp theo một cách riêng của ba khuynh hướng tư tưởng hiện đại - chủ nghĩa Mác, hiện tượng học Huxéc và chủ nghĩa hiện sinh Haiđơgơ - trên cơ sở lấy quan điểm chung của ba khuynh hướng tư tưởng này làm xuất phát điểm - quan điểm khẳng định vai trò tích cực của con người trong việc tự sáng tạo nên bản chất của chính mình. Nguyên lý nền tảng của chủ nghĩa hiện sinh vô thần này là “Tồn tại có trước bản chất”, còn vấn đề trung tâm của nó là sự tự do của con người. Con người là tự do nên con người có thể làm cho mình trở thành một thực thể hiện hữu, tồn tại với tư cách một “nhân vị”, một “hữu thể”. Bản tính con người là cái không thể được “định nghĩa” trước  bởi Thượng đế hay một Đấng sáng tạo nào đó. Con người tự tạo nên bản tính của mình bằng sự tự do lựa chọn sau khi đã tồn tại như một “hữu thể”, tồn tại một cách hiện sinh. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, song chủ nghĩa hiện sinh vô thần của Gi.P.Xáctơrơ vẫn được thừa nhận là một chủ nghĩa nhân đạo, một trào lưu triết học tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại thế kỷ XX.

Thời gian đăng:: 01-11-2015 03:39:30 AM | Đã xem: 576 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Thiền phật giáo - Nguyên lý và một số phạm trù cơ bản

Xuất phát từ quan niệm, thế giới hiện tượng chỉ là ảo ảnh của bản thể, là vô thường nên lý tính nhận thức về thế giới này chỉ đạt tới chân lý tương đối, Thiền Phật giáo cho rằng, cái cần được nhận thức là cái thực tại tuyệt đối đứng đằng sau thế giới hiện tượng, là cái tuyệt đối phổ quát và chỉ có thể tạm biểu đạt bằng khái niệm Không  hay Chân như,… Trên cơ sở đó, Thiền Phật giáo triển khai các phạm trù về nhận thức và giải thoát rất đặc thù. Theo Thiền Phật giáo, để nhận thức được bản chất đích thực của Không nhằm đạt tới chân lý tuyệt đối thì cần phải vượt qua nhận thức lý tính bằng trực giác, gọi là trí Bát nhã (Prajna Paramita). Phân tích quan niệm của Thiền Phật giáo về quá trình nhận thức, và cùng với nó là quá trình giải thoát, tác giả muốn chỉ ra thế mạnh cũng như hạn chế của những quá trình mang tính hướng nội và cá thể này. Cũng chính vì vậy, theo tác giả, có thể lý giải được sự lan toả đang rất thành công của Thiền Phật giáo trên thế giới hiện nay.

Thời gian đăng:: 01-11-2015 03:30:54 AM | Đã xem: 553 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Lý tính trong triết học Tây Âu cận đại và trong chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm

Trong triết học Cận đại, lý tính – được hiểu như một năng lực phê phán hoặc như một năng lực lý giải các sự kiện theo quy luật khoa học – dường như đã đạt đến địa vị tột đỉnh. Trong bài viết này, chúng tôi muốn luận giải những mâu thuẫn nội tại của lý tính biểu hiện trong sự xuất hiện và đấu tranh với nhau của các khuynh hướng triết học lấy lý tính làm cơ sở.

Thời gian đăng:: 01-11-2015 02:07:07 AM | Đã xem: 860 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Etman Huxéc (1859-1939)

Ý hướng tính trong hiện tượng học của E.Huxéc

Ý hướng tính là một khái niệm trung tâm trong hiện tượng học của E.Huxéc. Ông quan niệm rằng, ý thức hướng tính là một “dòng chảy liên tục”, chất liệu của nó là những tri giác sơ khai; rằng, ý hướng tính là bản chất của ý thức, là sự cấu thành của ý thức siêu nghiệm. Với học thuyết về ý hướng tính, Huxéc đã tiếp cận đến cách nhìn về sự không tách rời giữa chủ thể và khách thể, giữa ý thức và đối tượng; coi thế giới như một hệ thống không thể phân chia, trong đó chủ thể là một phần tử cấu thành; phản đối sự chia cắt giữa cái tôi và thế giới, giữa chủ thể quan sát với đối tượng quan sát. Tuy nhiên, học thuyết của Huxéc vẫn còn những hạn chế và điều này đưa ông đến quan điểm duy tâm khi khẳng định bản chất của thế giới tùy thuộc vào chủ thể và thế giới chỉ có ý nghĩa như một thực tại hiện hữu khi nó là sản phẩm ý hướng của chủ thể tiên nghiệm.

Thời gian đăng:: 01-11-2015 01:57:09 AM | Đã xem: 438 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Ảnh minh họa

Một số đặc điểm và các giai đoạn phát triển của tư tưởng triết học Nhật Bản

Trên cơ sở của những yếu tố bản địa, tư tưởng triết học Nhật Bản được kết hợp với tư tưởng triết học của Trung Quốc, Ấn Độ hay các nước Âu, Mỹ… tạo nên những tư tưởng mới mang đặc trưng độc đáo của riêng Nhật Bản, như Thiền Nhật Bản, trường phái triết học Kyoto… Do vậy, tính hỗn dung của tư tưởng triết học Nhật Bản là điều dễ nhận thấy. Bên cạnh đó, trong một thời gian dài, nó còn tồn tại  và phát triển dưới dạng các tư tưởng tôn giáo, hoà vào tôn giáo, mà điển hình là hoà vào Phật giáo, Nho giáo hoặc Thần đạo. Nhìn chung, sự phát triển tư tưởng triết học Nhật Bản có thể chia làm hai thời kỳ cơ bản: trước và sau thời Minh Trị (1868). Tuỳ theo từng thời kỳ phát triển của xã hội Nhật Bản mà tôn giáo này hoặc khác được đề cao. Trong những năm gần đây, các nhà triết học Nhật Bản quan tâm nhiều hơn đến vấn đề con đường phát triển của Nhật Bản và có những đánh giá lại một số triết lý đã tạo ra sự phát triển “thần kỳ” của Nhật Bản trong vài thập niên sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Thời gian đăng:: 01-11-2015 01:03:09 AM | Đã xem: 693 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Về phương pháp quản lý xã hội của Nho giáo

Tư tưởng về phương pháp quản lý xã hội đóng vai trò nền tảng trong học thuyết của Khổng Tử. Coi “đức trị” là phương pháp quản lý xã hội, ông chủ trương xây dựng một xã hội có đạo với những chuẩn mực cụ thể và được bắt đầu từ gia đình. Về phương thức tổ chức bộ máy nhà nước, Khổng Tử chủ trương trọng dụng những người có đức, có tài. Đối với người cầm quyền, ngoài những phẩm chất “có đức, có tài”, còn phải biết nêu gương. Có thể nói, trong quan niệm về quản lý xã hội của Nho giáo, bên cạnh những hạn chế, còn ẩn chứa nhiều vấn đề hợp lý và có tính thời sự đối với thời đại ngày nay.

Thời gian đăng:: 01-11-2015 12:56:55 AM | Đã xem: 1843 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Vấn đề chủ thể nhận thức và phương pháp nhận thức trong triết học Tây Âu cận đại

Sự phê phán triết học kinh viện và thế giới quan Trung cổ là nét đặc trưng của các nhà triết học Tây Âu Cận đại có tư tưởng tiến bộ. Ph.Bêcơn và R.Đêcáctơ đều coi lý tính là một lực lượng bản chất của con người; coi chủ thể nhận thức vừa có lý tính, vừa có tự ý thức. Đối với các ông, chủ thể nhận thức là con người sống và tư duy trong xã hội, nhưng đó không phải là cá nhân kinh nghiệm mà là chủ thể trừu tượng. Phương pháp nhận thức mà các nhà triết học Tây Âu Cận đại xây dựng yêu cầu những luận điểm xuất phát phải có tính chân thực và được duy trì trong suốt quá trình nghiên cứu. Theo họ, trực giác trí tuệ là năng lực nhận thức cao nhất của con người và phụ thuộc vào trình độ tư duy lôgíc. Có thể nói, các nhà triết học Tây Âu Cận đại đã khẳng định tính tích cực của chủ thể nhận thức, nhưng họ lại không chứng minh được trong khuôn khổ của chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy tâm.

Thời gian đăng:: 31-10-2015 04:46:28 AM | Đã xem: 900 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Mạnh Tử (371 - 289 TCN)

Tư tưởng dân bản trong học thuyết nhân chính của Mạnh Tử

Nội dung xuyên suốt học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử là tư tưởng Dân bản - tư tưởng lấy dân làm gốc. Đối với Mạnh Tử, nhân nghĩa là cơ sở để trị nước, bình thiên hạ và điều chỉnh quan hệ xã hội; đồng thời, là điểm xuất phát để xây dựng tư tưởng Dân bản. Ông luôn nhấn mạnh, đề cao vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định của dân đối với sự thịnh suy của đất nước; đòi hỏi nhà cầm quyền phải thi hành nền chính trị nhân nghĩa nhằm thu phục nhân tâm. Bên cạnh đó, ông còn đưa ra những tư tưởng có giá trị nhân văn sâu sắc về khoan dân, bảo dân,…; đồng thời, nhấn mạnh sự cần thiết phải tu thân, dưỡng tính của con người. Có thể nói, cho đến nay, tư tưởng dân bản của Mạnh Tử vẫn còn ý nghĩa và giá trị thiết thực.

Thời gian đăng:: 31-10-2015 04:39:25 AM | Đã xem: 3688 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Hêraclít (520 – 460 TCN)

Lửa - Bản nguyên vật chất đầu tiên và duy nhất của vũ trụ trong triết học Hêraclít

Khi coi Vũ trụ là một chỉnh thể thống nhất, nhà triết học Hy Lạp cổ đại – Hêraclít (520 – 460 TCN) đã khẳng định Lửa là bản nguyên vật chất đầu tiên và duy nhất của vạn vật. Lửa “bùng cháy” và “lụi tàn” theo cái Logos vốn có của nó. Sự chuyển hoá của Lửa là một quá trình “không ngừng nghỉ” và quá trình đó dẫn đến sự sinh thành của vạn vật, vạn vật biến đổi và chuyển hoá lại trở về với Lửa. Thế giới thống nhất ở trong “ngọn Lửa sống bất diệt”. Lửa “điều khiển” và “phán xét” tất cả, bao trùm tất cả. Lửa là khởi nguyên tự nhiên tích cực, năng động và tinh tế nhất, là bản nguyên vật chất “có lý tính”, quy định tính có trật tự và hài hoà của Vũ trụ. Lửa không chỉ đem lại cho Vũ trụ cả sự sống lẫn cái chết mà còn tượng trưng cho mọi cái sống động, năng động và tích cực. Lửa không chỉ tạo nên “thân xác”, mà cả “linh hồn” cho vạn vật. Lửa có “đời sống nội tâm” của nó.

Trong quan niệm của Hêraclít về Lửa vẫn còn mang tính vật hoạt luận và phiếm thần luận, song đó là quan niệm cho thấy tính thống nhất của thế giới, quan niệm luôn đòi hỏi giải thích các hiện tượng tự nhiên dựa vào chính tự nhiên và là “sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng”.

Thời gian đăng:: 31-10-2015 03:50:18 AM | Đã xem: 1248 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Khổng Tử (Ảnh minh họa)

Quan niệm về tính người của Nho giáo nhìn từ góc độ triết học

Vấn đề tính người thiện hay ác trong Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo thời Tiên Tần, được xem xét, bàn luận rất khác nhau. Luận điểm “tính tương cận dã, tập tương viễn dã” của Khổng Tử gây nhiều tranh luận hơn cả. Song, có thể thấy rằng, mệnh đề này mang tính mở, làm tiền đề cho các quan điểm khác về cùng vấn đề. Mạnh Tử và Tuân Tử lại có những thuyết cơ hồ trái ngược nhau về tính người nhưng nhìn chung, tư tưởng của các ông cũng có ảnh hưởng nhất định tới các Nho gia sau này.

Thời gian đăng:: 31-10-2015 03:44:21 AM | Đã xem: 1884 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
G.W.F.Hêgen (1770-1831)

Triết học Cantơ dưới nhãn quan của G.W.F.Hêgen

Hêgen không chỉ phê phán những hạn chế mà còn đánh giá cao những đóng góp của triết học Cantơ, coi triết học Cantơ là “cơ sở và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại”. Theo ông, triết học Cantơ là chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Mặc dù vậy, đối với Hêgen, triết học Cantơ có vai trò đặc biệt quan trọng. Thực tế, nhiều vấn đề triết học do I.Cantơ khởi xướng đã được Hêgen phát triển từ lập trường của chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối. Đó cũng là cơ sở dẫn đến nhận định của Sáclơ Taylo cho rằng, có thể coi triết học của Hêgen là triết học Cantơ đã được cải biến.

Thời gian đăng:: 31-10-2015 02:14:20 AM | Đã xem: 628 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
I.Cantơ (1724 - 1804)

"Hướng tới nền hòa bình vĩnh cửu" - Khát vọng của nhân loại (Kỷ niệm 210 năm ra đời tác phẩm "Hướng tới nền hòa bình vĩnh cửu" của I.Cantơ)

Đối với I.Cantơ, “hoà bình” là sự kết thúc mọi thù địch, mọi hành động chiến tranh. Với nhãn quan triết học, trong “Hướng tới nền hoà bình vĩnh cửu”, ông đã vạch ra những điều kiện, nguyên tắc cơ bản để xây dựng và bảo đảm nền hoà bình vĩnh cửu cho cộng đồng nhân loại. I.Cantơ nhấn mạnh rằng, hoà bình phải được thiết lập một cách tích cực, được bảo vệ bằng luật pháp quốc tế và hiến pháp dân sự; rằng, con người phải có quyền công dân thế giới – một quyền cao hơn, hay chí ít, cũng không thấp hơn quyền tự do cá nhân. Theo đó, có thể khẳng định “Hướng tới nền hoà bình vĩnh cửu” không chỉ là tư tưởng triết học độc đáo, có ý nghĩa nhân văn cao cả của I.Cantơ, mà hơn thế, còn là một khát vọng chân chính của nhân loại.

Thời gian đăng:: 31-10-2015 02:08:19 AM | Đã xem: 614 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Tây
Lê Quý Đôn (1726 – 1783)

Vấn đề bản thể luận trong Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn (1726 - 1783) là nhà tư tưởng lớn của nước ta ở thế kỷ XVIII. Trong sự nghiệp nghiên cứu và sáng tạo của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm quý giá, trong đó có Vân đài loại ngữ. Vấn đề bản thể luận trong tác phẩm này được ông trình bày qua phạm trù Lý - Khí, những phạm trù chủ yếu của Tống Nho. Song, do ảnh hưởng của tín ngưỡng bản địa, lại được thôi thúc bởi khuynh hướng “tam giáo đồng nguyên” đương thời, nên tư tưởng của ông cũng có nhiều điểm khác biệt so với Tống Nho.

Thời gian đăng:: 31-10-2015 02:01:46 AM | Đã xem: 685 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Về con đường hội nhập và phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản

Phật giáo khi du nhập vào Nhật Bản đã trở thành một trong những yếu tố tạo nên nét đẹp trong văn hoá Nhật Bản. Tư tưởng cơ bản nhất của nó là nguyên tắc siêu nghiệm và phủ nhận thế giới hiện thực khách quan, mục tiêu chủ đạo là “cứu nhân độ thế”. Cùng với thời gian, Phật giáo Nhật Bản có những thay đổi lớn lao. Nhờ sự mở rộng phạm vi hoạt động của các tín đồ, Phật giáo có điều kiện thuận lợi để thẩm thấu, hoà trộn vào đời sống của nhân dân và có khả năng thích ứng với những biến đổi của thời đại. Trong quá trình hội nhập và phát triển, Phật giáo ở Nhật Bản đã thiết lập được mối quan hệ thân thiện với các tôn giáo khác, và do vậy, nó dễ được người dân nơi đây chấp nhận.

Thời gian đăng:: 25-10-2015 04:13:32 AM | Đã xem: 852 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông

Các tin khác

  Trang trước  1 2 3 4 5 6 7 8  Trang sau
 

Bài mới nhất