QC Shop

Lôgíc học với việc xây dựng phương pháp nhận thức khoa học

Phạm Văn Dương(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 7 (158), tháng 7 - 2004

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Arixtốt là người đầu tiên xây dựng lôgíc học với tư cách là một hệ thống lý thuyết. Ông đã nghiên cứu một cách khá toàn diện những vấn đề cơ bản của lôgíc học: các hình thức chủ yếu của tư duy (như khái niệm, phán đoán, suy luận), xây dựng các quy luật của lôgíc học (như quy luật đồng nhất, quy luật mâu thuẫn, quy luật loại trừ cái thứ ba) và các mô hình suy luận… (nổi bật là suy luận diễn dịch “tam đoạn luận”). Từ khi ra đời, hệ thống lôgíc học của Arixtốt trở thành một công cụ nhận thức hữu hiệu của con người. Nó “hoàn hảo” đến mức mà sau này, Cantơ nhận xét rằng, "lôgíc học của Arixtốt đã không có sự thay đổi nào trong hai ngàn năm và có thể sẽ không bao giờ thay đổi"(1).

Trong thời kỳ trung cổ, do sự thống trị tuyệt đối của nhà thờ, lôgíc học của Arixtốt đã bị chủ nghĩa kinh viện - người biện hộ cho thần học, xuyên tạc và lợi dụng để làm công cụ cho việc bảo vệ những tín điều tôn giáo. Dưới hình thức diễn giải của phái kinh viện trung cổ, tam đoạn luận của ông mang nặng tính tư biện và máy móc trong nghiên cứu hiện thực.

Nhưng, cho dù không bị xuyên tạc đi chăng nữa, lôgíc học của Arixtốt với tư cách bộ công cụ của nhận thức vẫn chứa đựng một số hạn chế nhất định. Ph.Bêcơn và R.Đêcáctơ là những người đầu tiên nhận thấy những hạn chế trong tam đoạn luận nói riêng và lôgíc học hình thức nói chung của Arixtốt, vốn trước đó vẫn được coi là một phương pháp nhận thức vạn năng. Theo Ph.Bêcơn, lôgíc hình thức đó không đáp ứng được vai trò là một bộ công cụ nhận thức của các khoa học, thậm chí nó “chỉ làm củng cố và bảo vệ những sai lầm đã có trong cơ sở các khái niệm lưu hành phổ biến hơn là tìm ra chân lý. Cho nên nó có hại hơn là có lợi”(2). R.Đêcáctơ cũng có một nhận xét tương tự rằng, phương pháp mà lôgíc học hình thức của Arixtốt mang lại chỉ giúp chúng ta trình bầy những cái đã biết, chứ không giúp các nhà khoa học thời đó đi đến những khám phá mới. Theo ông, “cần phải học lôgíc học, nhưng đó không phải thứ lôgíc mà người ta đang học ở các nhà trường. Nó chỉ là một dạng phép biện chứng làm phương tiện truyền đạt cho người khác những điều đã rõ..., hơn nữa, nó còn xuyên tạc nhiều hơn là bổ ích với lẽ phải thông thường”(3) và do vậy, lôgíc học hình thức của Arixtốt có hại hơn là những lợi ích mà nó đem lại cho người sử dụng.

Từ những nhận định như vậy về lôgíc học của Arixtốt, Ph.Bêcơn và R.Đêcáctơ đã đặt ra cho mình nhiệm vụ xây dựng một hệ thống lôgíc học mới. Ph.Bêcơn đã xây dựng nên lôgíc quy nạp và hy vọng cái “công cụ mới” đó sẽ giúp cho bất kỳ nhà bác học nào cũng có thể tìm ra những phát minh khoa học. Cũng tương tự như vậy, R.Đêcáctơ đặt vấn đề xây dựng một hệ thống lôgíc học có thể giúp cho các nhà khoa học phát minh ra những chân lý xác thực mới. Hệ thống lôgíc học với phương pháp nhận thức mới - phương pháp diễn dịch, được ông coi như một bộ phận của triết học ứng dụng.

Nhận thức của con người ngày càng tiến sâu hơn vào bản chất của các sự vật, hiện tượng. Quá trình này diễn ra hết sức phức tạp, buộc con người phải tìm kiếm và xây dựng được những bộ công cụ nhận thức mới, đúng đắn và có hiệu quả. Trong Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cho rằng, con người phải sử dụng những phạm trù của mình như mạng lưới để nhận thức giới tự nhiên. Chính những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình nhận thức đã đặt ra cho các nhà lôgíc học nhiệm vụ xây dựng bộ công cụ mới giúp con người nhận thức thế giới khách quan và nắm bắt chân lý. Vì vậy, sau Ph.Bêcơn và R.Đêcáctơ, lôgíc học truyền thống tiếp tục được nhiều nhà lôgíc học khác hoàn thiện và phát triển thành các hệ thống lôgíc học mới.

Do tính phức tạp cũng như sự xuất hiện các nghịch lý trong quá trình nhận thức, những bộ công cụ nhận thức (các hệ thống lôgíc) mà con người đã sáng tạo ra không bao giờ có thể đạt tới mức độ hoàn hảo tuyệt đối. Sự ra đời của lôgíc mệnh đề (còn gọi là lôgíc mệnh đề lưỡng trị - lôgíc mệnh đề cổ điển) đánh dấu bước nhảy vọt trong sự phát triển của lôgíc học: chuyển từ lôgíc học truyền thống sang lôgíc học hiện đại. Lôgíc mệnh đề và lôgíc vị từ đã tạo ra bước cách mạng trong sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại. Chúng là cơ sở lôgíc chính xác và chặt chẽ, là một trong những công cụ sắc bén của  tư duy khoa học trong hoạt động nhận thức thế giới khách quan. Lôgíc mệnh đề, lôgíc vị từ đã nghiên cứu, xây dựng những thao tác tư duy khoa học, góp phần to lớn vào việc thiết lập các hệ thống điều khiển, "tư duy nhân tạo" - yếu tố không thể thiếu của công nghệ hiện đại.

Lịch sử phát triển của lôgíc học cho thấy, sự ra đời của mỗi hệ thống lôgíc học đã cung cấp cho các khoa học một công cụ nhận thức hữu hiệu những mục tiêu cụ thể trong phạm vi nhất định. Tuy nhiên, nếu vượt ra ngoài những giới hạn đó, vai trò của nó trong quá trình nhận thức lại tỏ ra khá hạn chế và ít hiệu quả. Như chúng ta đã biết, trong quá trình nhận thức, luôn tồn tại và xuất hiện những vấn đề khác mà một hệ thống lôgíc nhất định không tự giải quyết nổi. Ví dụ, trong lôgíc lưỡng trị, mỗi mệnh đề (tư tưởng) chỉ có thể nhận một trong hai giá trị chân lý hoặc đúng, hoặc sai; chân thực (1) hoặc giả dối (0). Cho nên, hệ thống lôgíc này không thể giúp nhận thức của con người nắm bắt được những miền giá trị khác, ngoài hai giá trị [0;1]. Vượt ra ngoài giới hạn đó, lôgíc lưỡng trị không hoặc ít có thể giúp được người ta đi sâu nhận thức cái biện chứng khách quan. Bởi vì, trên thực tế, trong tư duy có rất nhiều mệnh đề mà giá trị của chúng không phải là 0 hoặc 1, mà có thể nằm trong một dãy các giá trị từ [0 - 1] , hay các mệnh đề có giá trị hoặc nhiên.

Để nắm bắt được các giá trị nằm ngoài giới hạn [0;1] và lượng hoá những hiểu biết của mình, con người buộc phải xây dựng những hệ thống lôgíc học có khả năng đáp ứng, thoả mãn yêu cầu đó. Những hệ thống lôgíc học mới này có thể được phân theo hai nhánh. Nhánh thứ  nhất là các hệ thống lôgíc đa trị (có từ 3 giá trị chân lý trở lên), như hệ lôgíc tam trị của S.Clin (S.Kleene), A.Hâytinh (A.Heyting), Lucasiêvích (Lukasiewicz) (L3), hệ tam trị (N3) và tứ trị (N4) của E.Nenson (A.Nelson)(4), các hệ n trị và vô hạn trị chân lý của E.Slutsky (E.Slutsky), E.Pôtơ (E.Poster). Nhánh thứ hai là các hệ thống lôgíc xác suất, lôgíc tình thái và lôgíc thời gian,… (gọi là những hệ thống lôgíc thao tác - operater logic). Sự ra đời của các hệ thống lôgíc học này đã bắt đầu một giai đoạn mới trong sự phát triển của lôgíc học – lôgíc học phi cổ điển. Cũng cần phải lưu ý là, việc xây dựng các hệ thống lôgíc đa trị cũng như các hệ thống lôgíc thao tác không thể tách rời lôgíc lưỡng trị, đặc biệt là lôgíc mệnh đề. Chúng chính là sự kế thừa và phát triển lôgíc mệnh đề.

Sự ra đời của các hệ thống lôgíc đa trị, trong đó điển hình là  hệ n trị của Pôtơ và vô hạn trị (ký hiệu là Gxo)  thực sự là một cuộc cách mạng trong lôgíc học. Trong hệ Gxo, giữa các giá trị hai cực của chân lý 1 (chân thực) và 0 (giả dối) chứa vô hạn các giá trị chân lý 1/2, 1/4, 3/4, 1/8, … Vì thế, nó cho phép người ta mô tả sự nhận thức như một quá trình đi từ cái không biết đến cái đã biết, từ cái biết không đầy đủ đến cái biết đầy đủ hơn và chính xác hơn; từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất bậc thứ nhất đến bản chất bậc thứ hai; từ chân lý tương đối đến chân lý tuyệt đối. Dựa vào đó, người ta biết rằng, chân lý tuyệt đối, theo nghĩa hẹp, được tạo thành từ tổng số vô hạn những chân lý tương đối; rằng, quá trình đạt tới chân lý tuyệt đối là quá trình vô tận và được tạo thành từ sự nhận thức liên tục các chân lý tương đối - ứng với các giá trị 1/2, 1/4, 3/4, 1/8, 7/8,... của hệ  Gxo.  Giá trị của biến số càng gần với 1 thì mệnh đề càng tiến gần hơn đến chân lý tuyệt đối. Hệ lôgíc vô hạn giá trị Gxo có thể được coi là dạng tổng quát của lôgíc lưỡng trị truyền thống, nhằm mục đích phản ánh quá trình vô tận của nhận thức.

Nếu như nhánh thứ nhất của lôgíc học hiện đại đã mang lại cho con người bộ công cụ để tìm hiểu về giới hạn của các giá trị chân lý, thì nhánh thứ hai của nó (bao gồm lôgíc xác suất, lôgíc mờ, lôgíc thời gian, lôgíc trực giác, lôgíc kiến thiết) đã cung cấp cho chủ thể những phương tiện để nhận thức cái ngẫu nhiên. Hệ thống này cho phép nhận thức của con người có thể tiếp cận được những mệnh đề mang tính xác suất và tình thái, cũng như các mệnh đề mà giá trị của chúng có quan hệ chặt chẽ với thời gian. Dựa vào đó, người ta có khả năng thiết lập được mối quan hệ giữa các loại mệnh đề khác nhau với các mệnh đề mang tính tất yếu. Ví dụ, hệ thống lôgíc tình thái của C.I.Lêvít (C.I.Lewis) cho phép người ta thiết lập mối quan hệ giữa các mệnh đề mang tính khả năng với các mệnh đề mang tính tất yếu. Có thể nói, những hệ thống lôgíc thao tác có vai trò rất lớn trong quá trình xây dựng các giả thuyết khoa học.

Từ sự phân tích trên đây về các hệ thống của lôgíc học hiện đại, theo chúng tôi, có thể rút ra một số kết luận như sau:

Thứ nhất, các nhà lôgíc học đã xây dựng những hệ thống lôgíc học mới với mong muốn trang bị cho tư duy các công cụ hữu hiệu, tạo điều kiện để con người có thể nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thế giới khách quan. Sự xuất hiện các hệ thống lôgíc tam trị, tứ trị, cũng như các hệ thống lôgíc thao tác… là biểu hiện sinh động của sự phát triển những công cụ nhận thức nhằm thoả mãn nhu cầu khám phá thế giới của con người.

Các hệ thống lôgíc học phi cổ điển đều có đặc điểm chung là được khái quát từ lôgíc mệnh đề cổ điển. Ví dụ, sự xuất hiện lôgíc tam trị của Lucasêvích là sự mở rộng lôgíc mệnh đề cổ điển, hệ Pn là tổng quát của lôgíc mệnh đề cổ điển hoặc hệ Gxo là sự phát triển của hệ Pn.. Cũng vậy, các hệ thống lôgíc thao tác lại là sự mở rộng của những hệ thống lôgíc đã có trước đó, đặc biệt là lôgíc mệnh đề cổ điển. Tất nhiên, sự ra đời của chúng không đơn thuần là sự mở rộng bộ máy khái niệm đã có, mà hơn thế, còn mang lại những công cụ sắc bén cho phép con người ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về cái biện chứng khách quan và tiến gần hơn đến chân lý tuyệt đối. Với lôgíc học cổ điển (lưỡng trị chân lý), tư duy con người chỉ nhận thức được các hiện tượng có tính quy định chặt chẽ (đúng hoặc sai). Song, dựa vào các hệ thống lôgíc học phi cổ điển, tư duy con người sẽ nhận thức được các hiện tượng mới xuất hiện với nhiều khả năng khác nhau; đồng thời, nhận thức được tất cả tính đa dạng, phong phú trong sự vận động và phát triển của thế giới khách quan, tức là ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về cái biện chứng khách quan. Nói cách khác, lôgíc học phi cổ điển đã bổ sung thêm sức mạnh cho năng lực nhận thức thế giới của con người.

Thứ hai, cơ sở phương pháp luận của khoa học luôn gắn liền với các hệ thống lôgíc học - bộ công cụ nhận thức của con người. Khi hệ thống lôgíc của Arixtốt được coi như phương tiện nhận thức vạn năng của con người, nguyên tắc quyết định luận chặt chẽ thống trị tuyệt đối trong khoa học nói chung và trong triết học nói riêng. Trong đó, điển hình nhất là sự thống soái, độc tôn của phương pháp tư duy siêu hình trong các khoa học tự nhiên cũng như triết học. Với sự xuất hiện của các hệ thống lôgíc phi cổ điển, nhất là hệ thống lôgíc thao tác, sẽ phải có một quan niệm mới về quyết định luận. Sự ra đời và phát triển của lôgíc phi cổ điển đã góp phần to lớn vào việc khẳng định tính hạn chế của quyết định luận chặt chẽ; đồng thời, chứng minh cho tính đúng đắn, hơn hẳn của "quyết định luận biện chứng". Đến lượt nó, quyết định luận biện chứng lại đóng vai trò là cơ sở phương pháp luận cho sự phát triển của lôgíc đa trị, lôgíc phi cổ điển nói riêng và của khoa học nói chung.

Trong các tài liệu triết học và lôgíc học, có nhiều quan niệm khác nhau về quyết định luận. Trong đó, điểm chung nhất của chúng là đều thừa nhận rằng, quyết định luận chặt chẽ chỉ là một trường hợp riêng; nó chỉ đúng trong những phạm vi nhất định và với trình độ thấp của bậc thang phát triển tri thức, đặc biệt là ở giai đoạn mà các khoa học còn đang trong quá trình hình thành (thế kỷ XV). Khi các khoa học đã phát triển và tiến hành nghiên cứu với những đối tượng phức tạp hơn, thay thế cho quyết định luận chặt chẽ phải là quyết định luận mới, có khả năng phản ánh thế giới một cách đầy đủ hơn, sâu sắc hơn, đó là quyết định luận biện chứng(5). Trong Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen cũng đã đề cập đến vấn đề này khi viết về đối tượng của toán học. Theo ông, khi nghiên cứu về những biến số, bản thân toán học đã bước vào lĩnh vực của biện chứng rồi.

Thứ ba, sự phát triển của lôgíc học không phải là sản phẩm thuần tuý của tư duy mà được quy định bởi sự phát triển của thực tiễn đời sống xã hội và thực tiễn khoa học. Lôgíc học là sự tự ý thức của tư duy. Cũng như mọi sự vật, hiện tượng khác, tư duy cũng có quá trình vận động và phát triển của mình. Lúc đầu, nó chỉ nhận thức những sự vật, hiện tượng đơn giản và sau đó, tiến lên nhận thức các sự vật, hiện tượng phức tạp hơn. Như vậy, sự phát triển của lôgíc học chính là sự phản ánh quá trình phát triển của bản thân tư duy. Xét từ một khía cạnh khác, chúng ta thấy rằng, sự phát triển của các hệ thống lôgíc sau luôn có sự kế thừa các hệ thống lôgíc đã có trước đó và suy cho cùng, chúng được hình thành nhờ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, trong đó có hoạt động tư duy vốn đã trải qua hàng nghìn năm của nhân loại.

Không chỉ có vậy, sự ra đời và phát triển của các hệ thống lôgíc khác nhau còn phản ánh, thể hiện yếu tố sáng tạo của tư duy con người. Điều đó một lần nữa chứng tỏ rằng, nhận thức của con người mang đặc trưng sáng tạo. Ví dụ, để  xem xét các giá trị của những phán đoán tình thái, người ta có thể sử dụng lôgíc xác suất hoặc lôgíc tình thái. Bởi vì, theo nghĩa rộng, phán đoán xác suất là một dạng của phán đoán tình thái. Vấn đề là ở chỗ, phải đảm bảo tính nhất quán trong tư duy: khi sử dụng các hệ thống lôgíc khác nhau vào hoạt động nhận thức, chúng ta phải tuân thủ các quy tắc, quy luật của nó, không được lẫn lộn hoặc đưa các quy tắc, quy luật của hệ thống lôgíc này sang hệ thống lôgíc khác. Việc tuân thủ đầy đủ các quy tắc, quy luật của mỗi hệ thống lôgíc cụ thể trong quá trình nhận thức là điều kiện cần để đạt tới chân lý khách quan. Sự xuất hiện đồng thời của các hệ thống lôgíc khác nhau, ví dụ như sự xuất hiện của nhiều hệ lôgíc học tam trị, chứng tỏ rằng, để nhận thức một sự vật, hiện tượng người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Điều này cũng tương tự như khi giải một hệ phương trình bậc nhất, nghĩa là người ta có thể tiến hành theo cách tính của đại số thông thường hoặc theo phương pháp định thức của toán học cao cấp mà vẫn thu được kết quả như nhau.

Sự ra đời của lôgíc nghiên cứu khoa học còn là một biểu hiện tham vọng nắm bắt bản chất các sự vật, hiện tượng của con người. Sau bao năm tìm tòi, nghiên cứu, các nhà lôgíc học theo đuổi ý định xây dựng nên lôgíc phát minh, rốt cuộc, phải thừa nhận rằng,  không có lôgíc của phát minh, nhưng không có phát minh nào thiếu  lôgíc. Kết luận này mang một ý nghĩa triết học rất lớn, nó nói lên được tính chất hết sức phức tạp của quá trình nhận thức. Mỗi một hệ thống lôgíc chỉ giải quyết được một nhiệm vụ cụ thể, một mục đích cụ thể trong toàn bộ quá trình nhận thức (phát minh khoa học). Không thể có một hệ thống lôgíc học được hình thức hoá nghiêm ngặt dành cho các quá trình dẫn tới phát minh khoa học. Bởi vì, mỗi một phát minh đều rất phức tạp, xét về mặt cấu trúc lôgíc; hơn thế, nó còn chứa đựng những yếu tố cá nhân sâu sắc và độc đáo. Ví dụ, các học giả mácxít đã tốn không ít công sức để nghiên cứu bộ bản của C.Mác nhằm tìm hiểu phương pháp, cách thức tư duy nào đã giúp ông khám phá và lột tả chính xác bản chất của xã hội tư bản. Mặc dù đã xác định Mác sử dụng phương pháp lôgíc và con đường dẫn ông đến phát minh khoa học là đi từ trừu tượng đến cụ thể, nhưng từ đó tới nay, chưa có một học giả mácxít nào vận dụng thành công phương pháp của C.Mác để có thể đạt tới một phát minh tương tự.

Cho dù những mục đích của Ph.Bêcơn và R.Đêcáctơ có cao cả đến đâu thì hy vọng sáng tạo ra một hệ thống lôgíc chuyên dùng cho các phát minh khoa học vẫn chỉ là một ước mơ, nếu không nói là một điều không tưởng. Không thể có một thứ lôgíc học nào mà khi lĩnh hội được các quy luật và quy tắc của nó, con người lại có thể dễ dàng đạt tới những phát minh trong các lĩnh vực khoa học cụ thể. Hầu hết các nhà khoa học đều thừa nhận rằng, quá trình sáng tạo khoa học không thể quy hoàn toàn về các thao tác lôgíc bằng cách rút ra hệ quả từ những tiền đề là tri thức đã có. Nói một cách khác, không nên hiểu một cách giản đơn rằng, sự vận động của nhận thức đến các kết quả mới giống như một quá trình rút ra kết luận từ những tiền đề cho sẵn theo những quy tắc nghiêm ngặt của phép diễn dịch.

Đề cập đến vấn đề con đường biện chứng của nhận thức, triết học mácxít   cho rằng, nhận thức của con người ngày càng tiệm cận tới chân lý khách quan. Song, theo chúng tôi, trong quá trình đó, con người luôn phải xây dựng cho mình những bộ công cụ nhận thức mới ngày càng hoàn thiện hơn. Lịch sử phát triển của lôgíc học cho thấy, so với lôgíc hình thức truyền thống, lôgíc học hiện đại đem lại nhiều công cụ hiệu quả hơn, và do vậy, giúp con người nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về cái biện chứng khách quan.  Tuy nhiên, không bao giờ con người có thể tạo ra một bộ công cụ nhận thức hoàn hảo đến mức tuyệt đối. 

 


(*) Nghiên cứu viên, Viện Triết học.

(1)  Dẫn theo: E.Barry. Có phải một cuộc cách mạng trong lôgíc học?  Tạp chí Triết học của lôgíc học. Nxb Đại  học Scandinavian, số.1, tr.169 (tiếng Anh).

(2) Dẫn theo: Nguyễn Hữu Vui. Lịch sử triết học. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr..276.

(3) Dẫn theo:  Nguyễn Hữu Vui. Sđd.,  tr.302.

(4) Xem: Lou Goble. Philocophical logic.  Publishing Blackwell, 2001, p. 322.

(5) Xem: G.I. Rudavin. Xác suất và quyết định luận. Trong cuốn Triết học trong thế giới hiện đại. Triết học và lôgíc học. Nxb Khoa học, Mátxcơva, 1974, tr.188.

Đã xem: 713
Thời gian đăng: Thứ bảy - 29/08/2015 01:34
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 25 trong 5 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất