QC Shop

Nguyên lý tương đối của chuyển động và ý nghĩa triết học của nó

TS. Nguyễn Ngọc Hà(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 3 (154), tháng 3 - 2004

Trong các hình thức của vận động, chuyển động là hình thức cơ bản nhất. Vận động là sự thay đổi nói chung, còn chuyển động là sự thay đổi về vị trí trong không gian của các sự vật (hay các vật thể(**). Nghiên cứu các quy luật của vận động là nhiệm vụ của triết học, còn nghiên cứu các quy luật của chuyển động là nhiệm vụ của cơ học. Trong triết học duy vật biện chứng, vận động được coi là tuyệt đối, đứng im (không vận động) được coi là tuơng đối. Trong cơ học thì cả chuyển động và đứng yên (không chuyển động) đều được coi là tương đối(***). Quan điểm khẳng định tính tương đối của chuyển động thường được gọi là nguyên lý tương đối của chuyển động.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Nguyên lý tương đối của chuyển động là một phát minh quan trọng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. Giống như các phát minh khác, phát minh này đã góp phần làm sáng tỏ hơn nhiều quan điểm của triết học duy vật biện chứng. Trong bài viết này, chúng tôi muốn nói về nội dung cơ bản của nguyên lý tương đối của chuyển động và phân tích ý nghĩa triết học của nó.

1. Nguyên lý tương đối của chuyển động

Chuyển động là tương đối hay tuyệt đối? Vấn đề này đã được đặt ra ngay từ thời kỳ phát triển ban đầu của cơ học. Như chúng ta đã biết, lúc đầu người ta cho rằng, chuyển động là tuyệt đối. Đại biểu cho quan điểm này là Aritxtốt (384-322 TCN.). Theo Aritxtốt và nhiều người cùng thời với ông, không gian là khoảng trống không, nó giống như một "cái thùng rỗng khổng lồ" chứa các vật thể; vị trí thực cũng như sự thay đổi hay không thay đổi về vị trí thực của từng vật thể được xác định căn cứ vào không gian, chứ không phải căn cứ vào các vật thể khác. Dù cho trong Vũ trụ chỉ có một vật thể thì chúng ta vẫn có thể đặt ra các câu hỏi là: "vật thể ấy ở vị trí nào?", "nó có thay đổi vị trí hay không?". Theo quan điểm này, quỹ đạo chuyển động của một vật thể có thể là quỹ đạo thực hoặc là quỹ đạo biểu kiến. Quỹ đạo chuyển động thực của một vật thể được xác định căn cứ vào không gian, còn quỹ đạo chuyển động biểu kiến của nó - vào một vật thể khác nào đó. Một vật thể nếu không chịu sự tác động của một ngoại lực nào thì  nó sẽ đứng yên (so với không gian); sự đứng yên ấy là thực, là tuyệt đối. Ngược lại, một vật thể nếu chịu sự tác động của một ngoại lực nào đó thì nó sẽ chuyển động (so với không gian); sự chuyển động ấy cũng là thực, là tuyệt đối.

Quan điểm về tính tuyệt đối của chuyển động đã thống trị tư duy của các nhà khoa học suốt gần hai nghìn năm. Người có công lớn trong việc phê phán quan điểm ấy là Galilê (1564-1642). Theo Galilê, nếu một vật thể đang đứng yên mà không chịu sự tác động của một ngoại lực nào thì nó sẽ đứng yên mãi (giống như quan điểm của Aritxtốt); nhưng nếu một vật thể đang chuyển động thẳng đều mà không chịu sự tác động của một ngoại lực nào thì nó sẽ chuyển động thẳng đều mãi (khác với quan điểm của Aritxtốt). Nguyên nhân của việc một vật thể nào đó đang chuyển động thẳng đều rồi sau đó dừng lại không phải là do vật thể ấy không còn chịu sự tác động của một ngoại lực nào, mà là do nó đã bị cản trở bởi một lực ma sát. Nếu không có lực ma sát thì một vật thể đang chuyển động thẳng đều sẽ tiếp tục chuyển động thẳng đều mãi. Giả sử chúng ta đang ngồi trong một phòng thí nghiệm đóng kín chuyển động thẳng đều, thì khi đó, chúng ta không thể biết được rằng, phòng thí nghiệm ấy đang chuyển động thẳng đều hay đang đứng yên.

Với quan điểm nói trên, Galilê đã thay thế "nguyên lý" tuyệt đối của chuyển động bằng nguyên lý tương đối của chuyển động. L.Đ.Lanđao và Yu.B.Rume trong Thuyết tương đối là gì? đã nhận xét rằng: " Phát minh ra nguyên lý tương đối của chuyển động là một trong những phát minh vĩ đại nhất. Không có nguyên lý đó thì vật lý học không thể phát triển được. Chúng ta biết ơn thiên tài của Galilê về phát minh đó. Galilê đã giúp chống lại học thuyết của Aritxtốt là học thuyết thống trị thời bấy giờ được chính quyền của nhà thờ thiên chúa giáo bênh vực. Theo học thuyết này thì chuyển động chỉ có thể có được khi có lực; nếu không có lực chuyển động sẽ phải bị ngừng lại. Bằng những thí nghiệm xuất sắc, Galilê đã chứng minh rằng, ngược lại nguyên nhân làm một vật đang chuyển động bị dừng lại là lực ma sát, nếu không có lực này thì một vật khi đã chuyển động sẽ chuyển động mãi"(1).

Galilê đã thay thế "nguyên lý tuyệt đối của chuyển động" bằng nguyên lý tương đối của chuyển động. Tuy nhiên, nguyên lý tương đối của chuyển động mà Galilê đưa ra vẫn còn có những hạn chế. Bởi vì, theo ông, sự phân biệt giữa đứng yên và chuyển động thẳng đều với chuyển động không thẳng đều vẫn là tuyệt đối; khi ở trong một phòng thí nghiệm đóng kín (không cần căn cứ vào một vật thể khác ở bên ngoài) và bằng một số thí nghiệm cơ học vẫn có thể khẳng định được rằng, phòng thí nghiệm ấy đang hay không đang chuyển động không thẳng đều.

 Nguyên lý tương đối của chuyển động mà Galilê đưa ra đã được Anhxtanh (1879-1955) hoàn thiện vào năm 1916 trong Thuyết tương đối rộng. Theo nguyên lý tương đối của chuyển động mà Anhxtanh đưa ra thì, không thể có bất kỳ thí nghiệm vật lý nào tiến hành ở trong một phòng thí nghiệm (đóng kín) lại cho phép biết được rằng, phòng thí nghiệm ấy là đang đứng yên hay đang chuyển động (kể cả chuyển động thẳng đều và chuyển động không thẳng đều). Để trả lời câu hỏi "một vật thể bất kỳ nào đó ở vị trí nào trong không gian, nó có chuyển động hay không (tức là có thay đổi vị trí trong không gian hay không)?", chúng ta cần phải lấy một vật thể khác làm hệ quy chiếu. "Vị trí" và "chuyển động" là hai khái niệm tương đối. Các câu hỏi "vật thể A ở vị trí nào?", "nó có thay đổi vị trí hay không?" là những câu hỏi vô nghĩa, vì chúng không cho ta biết vật thể nào được lấy làm hệ quy chiếu. Vị trí của vật thể A so với vật thể B và vị trí của vật thể A so với bất kỳ vật thể nào khác đều là những vị trí thực của nó. Quỹ đạo chuyển động của vật thể A so với vật thể B cũng thực như quỹ đạo chuyển động của vật thể A so với vật thể C hoặc so với bất kỳ vật thể nào khác. Không có vật thể nào đứng yên, cũng không có vật thể nào chuyển động; mà chỉ có những vật thể đứng yên và chuyển động so với nhau. Với hai vật thể A và B bất kỳ, bao giờ cũng chỉ có một trong ba trường hợp xảy ra là: A và B đứng yên so với nhau, A và B chuyển động thẳng đều so với nhau, A và B chuyển động không thẳng đều so với nhau. Đối với trường hợp A và B chuyển động thẳng đều so với nhau, chúng ta có thể cho rằng, hoặc là A đứng yên còn B chuyển động thẳng đều so với A, hoặc là B đứng yên còn A chuyển động thẳng đều so với B theo chiều hướng ngược lại với cùng vận tốc. Đối với trường hợp A và B chuyển động không thẳng đều so với nhau, chúng ta cũng có thể cho rằng, hoặc là A đứng yên còn B chuyển động không thẳng đều so với A, hoặc là B đứng yên còn A chuyển động không thẳng đều so với B theo chiều hướng ngược lại với cùng vận tốc. Khi quan sát thấy hai vật thể A và B đang chuyển động so với nhau (dù là chuyển động thẳng đều hay là chuyển động không thẳng đều so với nhau), chúng ta  có thể tuỳ chọn một trong hai vật thể ấy làm hệ quy chiếu, tức là có thể coi một trong hai vật thể ấy là đứng yên, còn vật thể kia là chuyển động. Việc chọn A hay B làm hệ quy chiếu đều đúng như nhau.

Với nội dung như trên, nguyên lý tương đối của chuyển động mà Anhxtanh đưa ra là đúng đắn. Sau đây, chúng ta hãy phân tích  một số hiện tượng về sự chuyển động không thẳng đều để minh chứng cho sự đúng đắn của nguyên lý ấy.

Chúng ta hãy tưởng tượng rằng, có một chiếc tàu hoả đang chuyển động thẳng đều trên đường ray theo hướng từ Bắc - Nam. Khi tàu hoả đang chuyển động như vậy, những người ngồi trong tàu, đúng như Galilê đã phân tích, sẽ không thể biết được rằng, nó đang đứng yên hay đang chuyển động thẳng đều so với đường ray. Nhưng bỗng nhiên, chiếc tàu ấy va vào nhà ga rồi dừng lại; những người ngồi trong tàu bị xô ngả về phía đầu tàu. Với hiện tượng này, có hai cách giải thích đều đúng như nhau. Thứ nhất, đường ray và nhà ga đứng yên, còn chiếc tàu đang chuyển động thẳng đều so với đường ray theo hướng Bắc - Nam. Khi chiếc tàu va vào nhà ga rồi dừng lại (lúc này nó sẽ đứng yên cùng với nhà ga), những người ngồi trong tàu do quán tính nên vẫn tiếp tục chuyển động theo hướng Bắc - Nam, và hậu quả là họ bị xô ngả về phía đầu tàu. Thứ hai, chiếc tàu đứng yên, còn đường ray và nhà ga đang chuyển động thẳng đều so với nó theo hướng Nam - Bắc (hướng ngược lại). Khi va vào tàu, nhà ga đẩy nó chuyển động cùng với mình. Những người ngồi trong tàu do quán tính nên vẫn tiếp tục đứng yên, và hậu quả là họ bị xô ngả về phía đầu tàu.

Chúng ta hãy tiếp tục làm một thí nghiệm tưởng tượng khác: có một chiếc thang máy trong Vũ trụ và chúng ta đang đứng trong nó. Cảm giác của chúng ta lúc này là không có trọng lượng (nếu thả một quả táo thì quả táo ấy sẽ vẫn ở tay chúng ta mà không rơi xuống mặt dưới của chiếc thang máy). Nhưng sau đó, chiếc thang máy bị một vật thể khác tác động vào với một lực không đổi (theo hướng từ dưới lên và bằng lực hút của Quả đất đối với nó). Lúc này, cảm giác của chúng ta là có trọng lượng giống như cảm giác đứng trong chiếc thang máy đứng yên trên Quả đất (vì vậy, nếu thả một quả táo thì quả táo sẽ rơi xuống mặt dưới của chiếc thang máy với gia tốc là g). Hiện tượng này được giải thích bằng một trong hai cách là: thứ nhất, quả táo do quán tính nên tiếp tục đứng yên, còn chiếc thang máy do bị một vật thể khác tác động vào nên không tiếp tục đứng yên mà chuyển động theo hướng từ dưới lên trên với gia tốc là g; thứ hai, quả táo do quán tính nên tiếp tục chuyển động theo hướng từ trên xuống dưới với gia tốc là g, còn chiếc thang máy do bị một vật thể khác tác động vào nên không tiếp tục chuyển động theo hướng từ trên xuống dưới với gia tốc là g mà đứng yên.

Hiện tượng quả táo rơi xuống trong chiếc thang máy vừa nói trên giống như hiện tượng quả táo rơi xuống Quả đất. Khi đang rơi, khoảng cách giữa quả táo và Quả đất đang thay đổi một cách không thẳng đều (vì đó là chuyển động với gia tốc g). Đối với hiện tượng quả táo rơi xuống Quả đất, chúng ta có thể cho rằng, thứ nhất, Quả đất do quán tính nên tiếp tục đứng yên, còn quả táo sau khi bị chúng ta thả ra do bị Quả đất hút nên chuyển động với gia tốc là g theo hướng từ trên đi xuống; thứ hai, Quả đất do quán tính nên tiếp tục chuyển động với gia tốc là g theo hướng ngược lại (từ dưới lên trên), còn quả táo sau khi bị chúng ta thả ra do bị Quả đất hút nên không tiếp tục chuyển động (theo hướng từ dưới lên trên với gia tốc là g) mà đứng yên. Cho rằng Quả đất đứng yên còn quả táo chuyển động cũng đúng như  cho rằng quả táo đứng yên còn Quả đất chuyển động. Bởi vì, hiện tượng mà chúng ta nhìn thấy chỉ là khoảng cách giữa Quả đất và quả táo đang thay đổi theo hướng xích lại gần nhau với gia tốc là g; hiện tượng này là thực và bất kỳ cách giải thích nào phù hợp với hiện tượng ấy đều đúng như nhau.

 Một hiện tượng khác về chuyển động không thẳng đều mà ai cũng nhận thấy là sự quay của Quả đất mà nhờ đó, có ngày và đêm. Đối với hiện tượng này, chúng ta có thể tuỳ chọn một trong hai cách giải thích sau. Thứ nhất, Mặt trời đứng yên, khoảng cách giữa Quả đất và Mặt trời không thay đổi, Quả đất quay xung quanh "trục" của nó với chu kỳ 1 vòng trong 24 giờ theo chiều từ Tây sang Đông. Thứ hai, Quả đất đứng yên, khoảng cách giữa Quả đất và Mặt trời không thay đổi, Mặt trời quay xung quanh Quả đất với chu kỳ 1 vòng trong 24 giờ theo chiều ngược lại (từ Đông sang Tây). Cả hai cách giải thích này đều phù hợp với hiện tượng quan sát được.

Giả sử rằng, trong Vũ trụ chỉ có Quả đất, vậy chúng ta có thể hay không thể nói "Quả đất đang quay xung quanh trục của nó" ? Không thể được(2). Bởi vì, trong trường hợp này, không có vật thể nào được lấy làm hệ quy chiếu. "Trục của Quả đất" không phải là một vật thể, mà chỉ là sự tưởng tượng của chúng ta. Mệnh đề "Quả đất đang quay xung quanh trục của nó" lúc này cũng vô nghĩa như những mệnh đề: "vật thể A đang chuyển động", "vật thể B đang đứng yên", "vật thể C đang chuyển động thẳng đều","vật thể D đang chuyển động không thẳng đều". Nhưng, khi chúng ta lấy một vật thể khác (chẳng hạn Mặt trời) làm hệ quy chiếu, thì khi đó, "Trục của Quả đất" sẽ có ý nghĩa là một hệ quy chiếu, vì lúc này, "Trục của Quả đất" được gắn liền với Mặt trời.

Sự quay của một bánh xe đạp xung quanh trục của nó cũng giống như hiện tượng sự quay của Quả đất. Đối với hiện tượng này, chúng ta có thể tuỳ chọn một trong hai cách giải thích sau. Thứ nhất, trục của bánh xe (và toàn bộ Vũ trụ) đứng yên, bánh xe quay xung quanh trục của nó (chẳng hạn với vận tốc góc v theo chiều kim đồng hồ). Thứ hai, bánh xe đứng yên, trục của bánh xe (và toàn bộ Vũ trụ) quay xung quanh bánh xe với vận tốc góc v  theo chiều ngược kim đồng hồ.

Như vậy, dù phân tích bất kỳ một hiện tượng chuyển động nào, chúng ta cũng đều có thể kết luận rằng, chuyển động là tương đối chứ không phải là tuyệt đối(3).

2. Ý nghĩa triết học của nguyên lý tương đối của chuyển động

Nguyên lý tương đối của chuyển động có một ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của cơ học, của nhiều ngành khoa học tự nhiên khác và của triết học. Đối với triết học, nguyên lý ấy đã góp phần làm sáng tỏ hơn sự đúng đắn của nhiều quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chúng ta có thể kể ra một số ý nghĩa triết học của nguyên lý tương đối của chuyển động như sau.

 Thứ nhất, nguyên lý tương đối của chuyển động đã góp phần làm sáng tỏ hơn sự đúng đắn của quan điểm triết học cho rằng, vật chất và không gian không thể tách rời. Theo quan điểm siêu hình, không gian giống như một cái thùng rỗng khổng lồ chứa đựng tất cả các vật thể trong Vũ trụ, dù trong Vũ trụ không có một vật thể nào thì vẫn có không gian, do vậy, không gian và vật chất tồn tại tách rời nhau. Trái lại, theo quan điểm duy vật biện chứng, vật chất tồn tại khách quan, không gian là một thuộc tính của vật chất, không thể có không gian mà lại không có vật chất, ngược lại không thể có vật chất mà không có không gian.

Về mối quan hệ không thể tách rời giữa không gian và vật chất, Ph.Ăngghen đã viết: "Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ở ngoài không gian"(4). Tiếp tục tư tưởng này của Ph.Ăngghen, V.I.Lênin viết: "Thừa nhận sự tồn tại của thực tại khách quan, nghĩa là của vật chất đang vận động, không lệ thuộc vào ý thức của chúng ta, chủ nghĩa duy vật tất nhiên cũng phải thừa nhận tính thực tại khách quan của không gian và thời gian", và "Trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian"(5).

Quan điểm triết học về sự không tách rời giữa không gian và vật chất đã nhận được sự tán thành của Anhxtanh khi ông viết: "Theo quan điểm nhận thức luận thì tư tưởng coi các thuộc tính cơ giới của không gian đều hoàn toàn do vật chất quy định là tư tưởng có cơ sở xác đáng hơn cả"(6).

Quan điểm siêu hình về sự tách rời giữa vật chất và không gian là một cơ sở triết học cho nguyên lý tuyệt đối của chuyển động; và đến lượt mình, nguyên lý tuyệt đối này lại củng cố cho quan điểm siêu hình. Ngược lại, quan điểm biện chứng về sự không tách rời giữa vật chất và không gian là một cơ sở triết học cho nguyên lý tương đối của chuyển động; và đến lượt mình, nguyên lý tương đối này lại củng cố cho quan điểm biện chứng. Quan điểm triết học đúng đắn của Ph.Ăngghen về sự không tách rời giữa vật chất và không gian được trình bày trong Chống Đuyrinh lúc đầu chỉ là một tiên đoán khoa học và tiên đoán này phải chờ đến năm 1916 mới có được một cơ sở vững chắc về khoa học tự nhiên(7).

Thứ hai, nguyên lý tương đối của chuyển động đã góp phần làm sáng tỏ hơn sự đúng đắn của quan điểm triết học cho rằng, chân lý là cụ thể và thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng, chân lý bao giờ cũng phải cụ thể. Một mệnh đề chỉ được đưa ra để xác nhận là đúng hoặc sai khi có đủ những điều kiện cụ thể, phải được xét trong một không gian và một thời gian cụ thể. Theo nguyên lý tương đối của chuyển động, các mệnh đề, như "vật thể A ở bên trái", "vật thể B chuyển động", "vật thể C đứng yên" chưa có có đủ những điều kiện cụ thể (vì chúng ta chưa biết vật thể A ở bên trái, vật thể B chuyển động và vật thể C đứng yên so với vật thể nào, vào thời gian nào) và do vậy, chúng ta chưa thể xác nhận những mệnh đề ấy là đúng hoặc sai; nói cách khác, đó là những mệnh đề vô nghĩa. Khi chưa có nguyên lý tương đối của chuyển động, chúng ta dễ lầm tưởng những mệnh đề vừa nói là có nghĩa.

Đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng, chân lý phải được kiểm nghiệm bằng thực tiễn. Để xác định một mệnh đề nào đó là đúng hay sai (khi đã có đủ những điều kiện cụ thể), chúng ta phải căn cứ vào thực tiễn. Nếu như một tư tưởng (lý thuyết, quan điểm, quan niệm…) nào đó mà phù hợp với những tài liệu khách quan do thực tiễn cung cấp, thì tư tưởng ấy, dù có trái với "lẽ phải thông thường", cũng phải được tiếp nhận, tức là phải được coi là đúng đắn (chỉ đúng đắn một cách tương đối, vì sẽ còn những tư tưởng khác đúng đắn hơn). Hai tư tưởng, dù có vẻ trái ngược nhau, song nếu chúng đều không trái với những tài liệu khách quan do thực tiễn cung cấp, chúng cũng cần phải được coi là đúng đắn như nhau và không trái ngược nhau. Trong ví dụ về sự chuyển động tương đối giữa Quả đất và quả táo nói ở trên, tài liệu khách quan do thực tiễn cung cấp là: khoảng cách giữa Quả đất và quả táo thay đổi theo hướng xích lại gần nhau với gia tốc là g. Tư tưởng cho "Quả đất đứng yên còn quả táo đang tiến lại gần Quả đất với gia tốc là g theo hướng từ trên đi xuống" và tư tưởng cho "quả táo đứng yên còn Quả đất đang tiến lại gần quả táo với gia tốc là g theo hướng từ dưới đi lên" là hai tư tưởng có vẻ trái ngược nhau nhưng lại đều phù hợp với tài liệu khách quan do thực tiễn cung cấp. Vì vậy, chúng ta cần phải thừa nhận rằng, hai tư tưởng ấy không trái ngược nhau và đều đúng như nhau. Khi chưa có nguyên lý tương đối của chuyển động, việc thừa nhận hai tư tưởng ấy không trái ngược nhau chưa có cơ sở vững chắc.

Thứ ba, nguyên lý tương đối của chuyển động đã góp phần làm sáng tỏ hơn sự đúng đắn của quan điểm triết học cho rằng, Quả đất hoặc Mặt trời không phải là trung tâm của Vũ trụ. Vũ trụ của chúng ta có trung tâm hay không? Câu hỏi đã được đặt ra ngay từ buổi đầu của nền văn minh nhân loại. Một số người quan niệm, Quả đất là trung tâm của Vũ trụ (thuyết địa tâm), một số người khác lại quan niệm, Mặt trời là trung tâm của Vũ trụ (thuyết nhật tâm)(8). Thuyết địa tâm và thuyết nhật tâm, như đã biết, đều sai lầm; vì những thành tựu của thiên văn học hiện đại đã chứng tỏ rằng, Quả đất và Mặt trời của chúng ta chỉ là những vật thể bé nhỏ của Vũ trụ. Tuy nhiên, góp phần vào việc làm rõ hơn sự sai lầm của thuyết địa tâm và thuyết nhật tâm còn có cả nguyên lý tương đối của chuyển động. Bởi vì, theo nguyên lý này, mỗi vật thể (từ những hạt cơ bản cực nhỏ cho đến Mặt trời và các hành tinh không lồ khác) cũng đều là một hệ quy chiếu để xác định sự thay đổi hay không thay đổi về vị trí của các vật thể còn lại, không có hệ quy chiếu nào là không thực, mọi hệ quy chiếu đều bình đẳng như nhau.

 Về vai trò của nguyên lý tương đối của chuyển động trong việc phủ định thuyết địa tâm và thuyết nhật tâm, A. Axnhtanh và L.Infen viết: " Chúng ta có thể phát biểu các định luật vật lý sao cho chúng đúng với tất cả các hệ tọa độ, không những đối với các hệ chuyển động thẳng đều, mà cả đối với những hệ chuyển động hoàn toàn tuỳ ý đối với nhau hay không? Nếu có thể làm được điều đó thì các khó khăn của chúng ta sẽ được giải quyết và khi ấy chúng ta có khả năng áp dụng các định luật của tư nhiên vào bất kỳ hệ toạ độ nào. Cuộc chiến đấu rất gay gắt trong những buổi đầu của khoa học giữa quan điểm của Ptôlêmê và Côpécnic khi ấy sẽ trở nên hoàn toàn vô nghĩa. Bất kỳ hệ toạ độ nào cũng đều có thể được dùng như nhau. Hai câu: "Mặt trời đứng yên còn Trái đất chuyển động" và "Mặt trời chuyển động còn Trái đất đứng yên" sẽ đơn thuần chỉ có nghĩa là hai quy ước khác nhau về hai hệ toạ độ khác nhau"(9).

Ngoài ba ý nghĩa nói trên, chúng ta có thể tìm thấy ở nguyên lý tương đối của chuyển động nhiều ý nghĩa triết học khác. Tuy nhiên, chỉ với ba ý nghĩa ấy, nguyên lý tương đối của chuyển động cũng đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của triết học, làm cho chủ nghĩa duy vật phải "thay đổi hình thức của nó". Với việc góp phần thúc đẩy sự phát triển của triết học bằng cách cung cấp luận cứ khoa học để chứng minh sự đúng đắn của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên lý tương đối của chuyển động cần phải được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn không chỉ từ góc độ cơ học, mà cả từ góc độ triết học.

 

 

 


(1) L.Đ.Lanđao, Yu.B.Rume. Thuyết tương đối là gì?. Nxb Khoa học, Hà Nội, 1963, tr. 25.

(2) Trong cuốn sách "Thuyết tương đối cho hàng triệu người", Matin Ganơ cho rằng: "Quan điểm này" (tức là quan điểm cho rằng, nếu trong Vũ trụ chỉ có Quả đất thì không thể nói Quả đất đang quay xung quanh trục của nó – N.N.H.) "do giáo chủ Béccơli, một nhà triết học người Ailen, đề xuất ra lần đầu tiên. Béccơli đã chứng minh rằng: nếu trái đất là một vật thể duy nhất trong Vũ trụ thì nói rằng nó quay hay không quay là một điều vô nghĩa. Nhà triết học người Đức thế kỷ thứ XVII - Lépnít và nhà vật lý học người Hà Lan - Khrixtian Huyghen đã từng tán đồng quan điểm ấy trong một mức độ nhất định. Song quan điểm này đã bị người ta lãng quên cho tới khi Ecnơ Makhơ (nhà vật lý học người Áo ở thế kỷ XIX) khôi phục lại quan điểm này bằng cách đề xướng ra một lý thuyết khoa học đúng đắn…Theo Makhơ, nếu không có các ngôi sao , Vũ trụ sẽ không có cấu trúc không-thời gian để cho trái đất quay đối với nó." (Xem: Matin Ganơ. Thuyết tương đối cho hàng triệu người. Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1975, tr.144.).

(3) Xem: A. Axnhtanh và L.Infen. Sự tiến triển của vật lý. Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1972, tr.205-236; Matin Ganơ. Thuyết tương đối cho hàng triệu người. Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1975, tr.92-111; Nguyễn Cảnh Hồ.  Một số vấn đề triết học của  vật lý học. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr.135-139; v.v..

(4) C. Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t..20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994 , tr.78.

(5) V.I.Lênin. Toàn tập, t.18.  Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.209.

(6) A.Anh xtanh. Tuyển tập các công trình khoa học, gồm 4 tập. Mátxcơva, 1966, t.2, tr.81 (tiếng Nga). Trích theo: Lịch sử phép biện chứng mácxít, t.IV. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.626-627.

(7) Sau khi nguyên lý tương đối của chuyển động được đề xuất bởiA.Anhxtanh, một số nhà khoa học tự nhiên vẫn chưa từ bỏ quan điểm siêu hình về sự tách rời giữa vật chất và không gian. Về điều này, Matin Gannơ viết: "Có cả một lô lý lẽ cổ lỗ về sự tồn tại của cái "không gian"- hay nói khác đi là "ête"- tách rời vật chất, từ thuở thể kỷ XVIII và thể kỷ XIX, đến nay lại được nêu ra…Đa số các nhà bác học nghiên cứu về thuyết tương đối ( như Actua Etđinhtơn, Béctrăng Rutxen, Anfrêt Oatlet v.v…) đều cho rằng: tính chất không -thời gian không phụ thuộc vào các ngôi sao dù rằng các ngôi sao đã làm phần không -thời gian bao quanh bị cong đi. Nói một cách thô thiển, nếu ngoài Trái đất ra, Vũ trụ không có một thiên thể nào khác thì các nhà bác học trên vẫn khẳng định rằngTrái đất vẫn có thể quay quanh đối với không - thời gian…". (Xem: Matin Ganơ. Thuyết tương đối cho hàng triệu người. Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1975, tr.141-143.).

(8) Về thuyết địa tâm và thuyết nhật tâm , A. S. Companhiét viết: " Những thành tựu của các người xưa cũng rất vĩ đại cả trong thiên văn học mặc dù họ vẫn chưa chấm dứt được quan niệm địa tâm cho rằng Trái đát nằm ở trung tâm vũ trụ. Một số nhà tư tưởng, thí dụ như Aritxtốt, là những tín đồ trung thành của hệ nhật tâm. Acsimét cũng là tín đồ của hệ nhật tâm khi ông tính ra số lượng các hạt cát có thể lấp đầy vũ trụ. Có những tài liệu nói rằng hệ nhật tâm của thế giới cũng đã được trình bày trong bộ biên tập "Anmagietxtơ" đầu tiên của Ptôlêmê, nhưng về sau cuốn sách đó đã bị bọn thầy tu xuyên tạc một cách xảo quyệt đến nỗi bây giờ tên tuổi của Ptôlêmê lại gắn liền với hệ địa tâm của thế giới và chỉ trong thời đại mới hệ này mới bị Côpécních đánh đổ hoàn toàn." (Xem: A. S. Companhiét. Không gian và thời gian trong thuyết tương đối. Nxb khoa học, Hà Nội, 1963, tr.5). Theo A. S. Companhiét, Aritxtốt là người theo thuyết nhật tâm. Nhưng theo M.M.Rôdentan thì Aritxtốt là người theo thuyết địa tâm. (Xem: M.M.Rôdentan. Từ điển triết học. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1986, tr.8, 235).

(9) A. Axnhtanh và L.Infen. Sự tiến triển của vật lý. Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1972, tr.209.

Đã xem: 1092
Thời gian đăng: Thứ tư - 03/06/2015 23:38
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất