QC Shop

Quan điểm phản quy nạp của C.Pốppơ và những hạn chế của nó

TS. Nguyễn Gia Thơ

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 4 (155), tháng 4 - 2004

Lý thuyết phủ chứng là hạt nhân của phương pháp luận phản quy nạp của Popper. Theo lý thuyết này, để luận chứng cho tri thức khoa học, tính bị phủ chứng là dấu hiệu khác biệt duy nhất. Popper không thừa nhận sự tồn tại tiêu chuẩn khách quan của chân lý và cho rằng, tính có thể phủ chứng được là tiêu chuẩn phân định khoa học kinh nghiệm với không phải khoa học kinh nghiệm; tính khoa học thể hiện ở khả năng bị bác bỏ bởi kinh nghiệm, hay khả năng bị phủ chứng và nhiệm vụ chính của phương pháp luận khoa học là xây dựng lý thuyết tăng trưởng tri thức khoa học. Tuy nhiên, quan niệm của Popper về phản quy nạp không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Và do vậy, xét về khía cạnh nhận thức luận, chủ nghĩa phản quy nạp đã đưa ông đến gần chủ nghĩa chủ quan trong mối quan hệ với khả năng khoa học đạt được chân lý khách quan.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Chúng ta đều biết, để đối lập lại quan điểm của chủ nghĩa kinh nghiệm lôgíc trong lôgíc quy nạp hiện đại - quan điểm thừa nhận vai trò của nhân tố kinh nghiệm trong việc kiểm chứng và tiếp nhận giả thuyết, lý thuyết, C.Pốppơ đã xây dựng lý thuyết phủ chứng.

Khi xây dựng lý thuyết phủ chứng, C.Pốppơ cho rằng, để luận chứng cho tri thức khoa học thì tính bị phủ chứng (tính có thể phủ chứng được) là dấu hiệu khác biệt duy nhất. Và, cũng như Cácnáp ở giai đoạn đầu, C.Pốppơ còn cho rằng, những quy luật hay khái quát chung đều có xác suất "không", điều đó có nghĩa là không thể kiểm chứng các quy luật, khái quát chung. Theo ông, không thể có một quan sát hữu hạn nào có thể kiểm chứng được các khái quát  hay quy luật có tính chung, đặc biệt là các khái quát chung nhất. Mặt khác, một nhà nghiên cứu không thể thực hiện được số lượng vô hạn các quan sát, vì cuộc sống của người đó là hữu hạn. Vì thế, việc kiểm chứng các mệnh đề khoa học có các lượng từ phổ dụng luôn không đầy đủ, mang tính ước lệ, có điều kiện và không bao giờ kết thúc. Nếu xét từ quan điểm lôgíc, khái quát chung kiểu "xF(x), theo Pốppơ, chỉ có thể phủ chứng được, mà không thể kiểm chứng được, vì chúng ta không bao giờ chỉ ra hết được các trường hợp cụ thể của x (x=  x1, x2, x3,..., xn, xn+1,...). Tuy nhiên, về nguyên tắc, có thể chỉ ra một phản ví dụ, một Xi nào đó không có tính chất F. Vì vậy, ông cho rằng, tính có thể kiểm chứng được không những không được coi là điều kiện đủ, mà còn không được coi là điều kiện cần đối với ý nghĩa kinh nghiệm của các lý thuyết khoa học. Xuất phát từ quan điểm này, Pốppơ hoàn toàn loại bỏ bất kỳ quan hệ quy nạp nào ra khỏi mối quan hệ giữa tri thức lý thuyết và các thông số kinh nghiệm.

Một lý do nữa khiến C.Pốppơ lấy chủ nghĩa phủ chứng làm hạt nhân cho phương pháp luận của mình - đó là việc không thừa nhận sự tồn tại tiêu chuẩn khách quan của chân lý - tiêu chuẩn mà theo ông, khiến cho chân lý bị tách ra khỏi niềm tin của chủ thể và ngay cả khi ngẫu nhiên động chạm đến chân lý trong sự tìm kiếm khoa học, chủ thể cũng không thể khẳng định được một cách chắc chắn rằng đó là chân lý. Cả tính phi mâu thuẫn và tính xác nhận được bởi các thông số kinh nghiệm đều không thể là tiêu chuẩn của chân lý. Vì rằng, bất kỳ sự tưởng tượng nào cũng đều có thể hình dung trong dạng phi mâu thuẫn, còn những niềm tin giả dối thì lại thường tìm được sự xác nhận(1).

Cái bao trùm toàn bộ lý thuyết "phủ chứng" của Pốppơ là vấn đề phân định tri thức khoa học với không phải tri thức khoa học, hay nói theo cách hiểu của ông là, các khoa học kinh nghiệm với không phải khoa học kinh nghiệm ( toán học, lôgíc học và siêu hình học). Để làm rõ sự phân định giữa các khoa học này, ông đặc biệt chú ý đến quan điểm của Bêcơn và Niutơn – quan điểm phân biệt khoa học này với khoa học khác theo phương pháp quy nạp, bắt đầu từ sự quan sát và phân tích các sự kiện để sau đó, khái quát thành những mệnh đề, quy luật chung. Hầu hết các nhà kinh nghiệm lôgíc đều tán thành quan điểm này và coi tính có thể kiểm chứng, có thể xác nhận là tiêu chuẩn để phân định khoa học kinh nghiệm với không phải khoa học kinh nghiệm. Những tiêu chuẩn này cho phép làm rõ tính xác thực và tính có thể luận chứng được của khoa học, còn nét đặc thù của lĩnh vực không phải khoa học (ví dụ, siêu hình học) là ở tính không xác thực và không đáng tin cậy của nó.

Pốppơ bác bỏ quy nạp và kiểm chứng với tư cách là tiêu chuẩn của sự phân định đó. Theo ông, tính có thể luận chứng được một cách hoàn toàn và tính xác thực hoàn toàn không thể đạt được trong khoa học, còn khả năng xác nhận từng phần thì không thể phân biệt khoa học với không phải khoa học, chẳng hạn, học thuyết của các nhà chiêm tinh học về ảnh hưởng của các vì sao đến số phận con người được xác nhận bởi một khối tài liệu kinh nghiệm khổng lồ. Vì thế, Pốppơ không coi tính có thể luận chứng được các vấn đề của khoa học hay tính có thể xác nhận được chúng bằng kinh nghiệm là nét đặc thù của khoa học. Một số khẳng định hay hệ thống các khẳng định  ( mệnh đề) nói về thế giới vật lý được thể hiện không phải ở tính có thể xác nhận được chúng bằng kinh nghiệm, mà là ở chỗ kinh nghiệm có thể bác bỏ chúng. Nếu hệ thống các khẳng định bị bác bỏ bởi kinh nghiệm, nghĩa là nó mâu thuẫn với tình hình thực tế, thì điều đó nói lên rằng hệ thống này thể hiện một cái gì đó về thế gới. Xuất phát từ những nhận thức như vậy, Pốppơ coi tính có thể phủ chứng được – tức tính có thể bác bỏ được bằng kinh nghiệm – là tiêu chuẩn phân định. Ông viết: "Tôi coi một hệ thống nào đó có tính chất kinh nghiệm hoặc khoa học chỉ trong trường hợp nếu nó có thể được kiểm tra bởi kinh nghiệm. Những lập luận này dẫn đến tư tưởng cho rằng, không phải tính có thể kiểm chứng được, mà là tính có thể bị phủ chứng của hệ thống cần được coi là tiêu chuẩn phân định. Nói cách khác, tôi không đòi hỏi ở hệ thống khoa học phải luôn có ý nghĩa tích cực, mà tôi đòi hỏi hệ thống đó phải có một hình thức lôgíc sao cho nó có thể tách hệ thống  ra theo nghĩa tíêu cực: một hệ thống khoa học kinh nghiệm luôn cần đến khả năng bị bác bỏ bởi kinh nghiệm..."(2).

Như vậy, theo Pốppơ, tính khoa học thể hiện ở khả năng bị bác bỏ bởi kinh nghiệm, hay khả năng bị phủ chứng. Để biết được một hệ thống các khẳng định (mệnh đề) nào đó là khoa học hay không, cần phải cố gắng bác bỏ nó. Nếu sự bác bỏ này là đúng thì hệ thống các khẳng định ấy là khoa học. Nhưng, nếu với mọi khả năng mà ta vẫn không thể bác bỏ được một hệ thống các mệnh đề khoa học nào đó thì theo Pốppơ, hoàn toàn có thể nghi ngờ tính khoa học của nó, và đó có thể là hệ thống giả khoa học, hay siêu hình học (khoa học mà Pốppơ nói ở đây là khoa học kinh nghiệm – N.G.T.).

 Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của hai khái niệm quan trọng nhất trong phương pháp luận của Pốppơ – khái niệm "tính bị phủ chứng" và "sự phủ chứng ". Cũng như các nhà kinh nghiệm lôgíc, Pốppơ đặt lý thuyết đối lập với các mệnh đề kinh nghiệm . Ông quy các mệnh đề (câu) đơn nhất về lớp các mệnh đề kinh nghiệm và coi chúng là các mệnh đề mô tả sự kiện. Tổng thể các câu kinh nghiệm có thể có, như ông gọi "các câu cơ sở", là cái hình thành nên cơ sở kinh nghiệm của lý thuyết khoa học. Trong "cơ sở kinh nghiệm" của khoa học có cả những câu (mệnh đề) không tương thích với nhau. Lý thuyết khoa học, theo Pốppơ, có thể được thể hiện dưới dạng tổng thể những mệnh đề chung, kiểu  ""x (Px®Qx)".  Một khẳng định như vậy có thể được diễn đạt dưới dạng tương đương "Ø$x ( Px&ØQx)". Do vậy, theo ông, bất kỳ lý thuyết nào cũng có thể được coi như  là “dấu chấm hết” sự tồn tại của một số sự kiện hoặc như là cái khẳng định tính giả dối của một số "câu cơ sở". Các "câu cơ sở" này mô tả các sự kiện bị lý thuyết đặt “dấu chấm hết” được Pốppơ gọi là "các nhân tố phủ chứng tiềm thế" của lý thuyết, bởi chúng chỉ có thể phủ chứng lý thuyết trong trường hợp khẳng định được tính chân thực của chúng. Từ đó, khái niệm tính phủ chứng được ông xác định như sau: "Lý thuyết có thể bị phủ chứng nếu lớp các nhân tố phủ chứng tiềm thế của chúng không trống"(3). Thế nhưng, khi giải quyết vấn đề xoá bỏ mâu thuẫn giữa lý thuyết với một số "câu cơ sở", Pốppơ lại bác bỏ sự tồn tại của một cơ sở không thể nghi ngờ nào đó của khoa học và xem các "mệnh đề cơ sở" của mình như là các giả thuyết bị phủ chứng. Và, trong trường hợp cần loại bỏ “các câu cơ sở”  khi có mâu thuẫn giữa lý thuyết mang tính giả thuyết và "các câu cơ sở " cũng mang tính giả thuyết, thì ông lại cho rằng, trong trường hợp này, cần phải phủ chứng lý thuyết. Bởi lẽ, theo ông, quyết định về sự phủ chứng  lý thuyết luôn chứa đựng sự mạo hiểm.

Khi thừa nhận quá trình phủ chứng lý thuyết dựa trên sự thoả thuận, Pốppơ đã đưa vào phương pháp luận của mình một số yếu tố của chủ nghĩa quy giản và mô tả quá trình phủ chứng bằng sơ đồ modus tollens: Từ lý thuyết T diễn dịch ra "câu cơ sở" A, có nghĩa là theo các quy tắc của lôgíc hình thức, ta có T®A, câu A sai và ØA đúng ( do vậy, A là nhân tố phủ chứng của lý thuyết ). Từ T suy ra A, câu A sai và ØA đúng suy ra ØT đúng, có nghĩa là lý thuyết T sai và bị phủ chứng.

Sơ đồ phủ chứng này của Pốppơ đã bị phê phán từ nhiều phía. Ví dụ, có quan điểm cho rằng, khi ta nói về "câu cơ sở" A từ lý thuyết T, thì cần tính đến vấn đề là, từ lý thuyết T không thể đưa ra "câu cơ sở" mà không kèm theo điều kiện bổ trợ  nào. Để đi đến kết luận, cần bổ sung vào lý thuyết T một số "câu cơ sở" khác gọi là "những điều kiện ban đầu". Nếu chúng ta coi những điều kiện ban đầu là H, các quy tắc tương quan là Z, thì như vậy, câu cơ sở A được rút ra từ hội (TÙHÙZ). Nếu tính đến trường hợp này thì câu A sai không phủ chứng lý thuyết T, mà phủ chứng toàn bộ (TÙHÙZ). Từ đó rút ra kết luận rằng, chưa chắc lý thuyết T đã là sai.

Pốppơ cũng nhận ra vấn đề này và cố gắng khắc phục nó. Theo ông, trong trường hợp phủ chứng một lý thuyết T nào đó, chúng ta coi H và Z là hiển nhiên và không cần tranh luận, kể cả những lý thuyết mà chúng có thể được sử dụng trong quá trình phủ chứng. Do vậy, khi hệ quả A sai, chúng ta có thể coi lý thuyết T bị phủ chứng, vì đó chính là đối tượng của sự bàn luận. Tất nhiên, ở đây luôn có sự mạo hiểm và chúng ta có thể sai lầm khi bác bỏ lý thuyết T. Nhưng, nếu ai không muốn mạo hiểm thì người đó cần phải từ bỏ khoa học, bởi các quy tắc tương quan Z hoặc những điều kiện ban đầu H cũng có thể kiểm tra được, mặc dù sau đó, chúng có thể sẽ bị phủ chứng.

Trở lại vấn đề sự bất đồng giữa Pốppơ với những người theo chủ nghĩa quy nạp mới, chúng ta thấy, Râykhenbắc (Reichenbach) và Cácnáp đã đặt ra nhiệm vụ xác định xác suất của giả thuyết trên cơ sở lý thuyết xác suất và hơn nữa, đã sáng tạo ra lôgíc quy nạp - xác suất. Trong suốt hơn 40 năm, Pốppơ đã đấu tranh chống lại khuynh hướng này và chính ông cũng quan tâm tới lý thuyết xác suất. Từ những năm 30 của thế kỷ XX, Pốppơ đã phân tích một cách chi tiết cách luận giải tần suất về xác suất và dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu, ứng dụng các phương pháp thống kê trong vật lý học(4). Tuy nhiên, sau này, tư tưởng về sự phân định đã đưa ông đến một quan niệm khác về lý thuyết xác suất. Ông cho rằng, theo tiêu chuẩn phân định, mọi lý thuyết cần phải được kiểm tra nghiêm ngặt và dù xác nhận hoặc bác bỏ thì cũng phải dứt khoát. Không đồng ý với quan niệm của Râykhenbắc và Cácnáp rằng xác suất của lý thuyết (giả thuyết) càng cao thì lý thuyết (giả thuyết) đó càng tốt (gần chân lý hơn), Pốppơ cho rằng, nếu như vậy thì những khẳng định của siêu hình học phải có xác suất cực đại, bởi chúng bao chứa một lượng thông tin kinh nghiệm lớn nhất. Với quan niệm này, khẳng định "mức độ xác nhận không thể là xác suất"(5). Lý giải tính không tương dung này giữa mức độ xác nhận và xác suất có điều kiện, Pốppơ cho rằng, một lý thuyết (giả thuyết) tốt là lý thuyết (giả thuyết) có nội dung kinh nghiệm lớn, vì khi đó, nó được kiểm tra tốt hơn và dễ bác bỏ hơn. Đề cập đến nội dung kinh nghiệm của lý thuyết, Pốppơ viết: "Lý thuyết thông báo cho chúng ta về các sự kiện quan sát được càng nhiều, thì càng nhiều những sự kiện như vậy  bị lý thuyết đó đặt dấu chấm hết". Rằng, “các mệnh đề cơ sở mâu thuẫn với lý thuyết T có thể được gọi là "những nhân tố phủ chứng tiềm thế" của lý thuyết T. Khi sử dụng hệ thuật ngữ này, chúng ta có thể coi nội dung kinh nghiệm của lý thuyết T là cái cấu thành lớp các nhân tố phủ chứng tiềm thế của nó"(6).

Khi lý giải tính không tương dung của xác suất với mức độ xác nhận của giả thuyết, Pốppơ rút ra kết luận rằng, cùng với việc tăng nội dung thông tin thì mức độ xác suất lại giảm, hay nói chung, lượng thông tin tăng cùng với sự tăng của tính không xác suất". Từ đó, ông đòi hỏi các nhà khoa học cần sáng tạo ra các giả thuyết  có tính phiêu lưu và ít mức độ xác suất nhất. Đòi hỏi này nhất quán với quan điểm của ông về tính giản đơn trong tiếp nhận giả thuyết.

Chính vì những lý do trên, Pốppơ cho rằng, nhiệm vụ chính của phương pháp luận khoa học không phải là xây dựng lý thuyết xác nhận, mà là xây dựng lý thuyết tăng trưởng tri thức khoa học. Bởi lẽ, theo ông, bản chất của nhận thức khoa học không phải là thường xuyên khái quát hoá chứng cứ, như các nhà quy nạp cổ điển quan niệm; cũng không phải là tìm ra mức độ xác nhận giả thuyết, lý thuyết cao nhất, như những nhà quy nạp mới quan niệm, mà là mạnh dạn đưa ra các lý thuyết và phủ chứng chúng bằng kinh nghiệm.

Những điểm chính trong phương pháp luận phản quy nạp của C. Pốppơ gồm:

1- Khoa học không phải bắt đầu từ những thông số kinh nghiệm, mà là từ những vấn đề (P1 ).

2- Người ta cố gắng giải quyết những vấn đề này bằng cách đưa ra những giả thuyết cạnh tranh và thường là không có cơ sở (TT).

3- Những lý thuyết này tuân theo quá trình chọn lọc bằng con đường loại bỏ sai lầm (E E- error elimination), nghĩa là bằng con đường lập luận phê phán và so sánh, trong đó những thực nghiệm có tính quyết định luôn đóng vai trò quan trọng ở nơi nào có sự kiểm tra.

4- Kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học là tình huống có vấn đề mới  (P2 ).

Những vấn đề trên được biểu diễn khái quát dưới dạng: P1® TT ®EE®P2 (Trong đó, P1 là vấn đề xuất phát, TT là việc giải quyết sơ bộ (lý thuyết), EE là thủ pháp loại bỏ sai lầm và P2  là vấn đề mới). Giải quyết vấn đề P1 đôi khi không phải là một lý thuyết, mà là nhiều lý thuyết và trong trường hợp như vậy, sơ đồ có dạng sau:

                 T T1

P1®          T T2     ®EE  ® P2

                ........

                 T Tn

5- Sự tiến bộ của khoa học được đo bằng sự khác nhau về chiều sâu giữa P1 (tình huống có vấn đề cũ) và  P(tình huống có vấn đề mới).

6- Không nên bỏ qua các giả thuyết có định kiến. Con đường duy nhất để tránh những giả thuyết sai là thường xuyên phê phán lý thuyết. Cần phải phủ chứng lý thuyết, chứ không phải là kiểm chứng hay xác nhận chúng. Chính điều này tạo nên tính đặc thù của nhận thức khoa học so với triết học, hệ tư tưởng  và tôn giáo.

7- Các nguyên tắc lý thuyết được đưa ra không phải nhờ trực giác của trí năng, mà bằng con đường "thử" và "sai".

8- Những mệnh đề "cơ sở" là những nhân tố phủ chứng tiềm thế của lý thuyết. Chúng được các hiệp hội khoa học coi là chân thực dựa trên sự quy ước và chỉ tạm thời(7).

Từ những phân tích trên, chúng tôi có một số nhận xét về quan điểm của Pốppơ như sau:

1/ Trước hết là quan điểm của Pốppơ về sự  phát triển khoa học. Theo quan điểm của ông, các lý thuyết khoa học, về nguyên tắc, chỉ đúng tạm thời, bất kỳ lý thuyết nào rốt cuộc cũng bị phủ chứng và được thay thế bằng một lý thuyết khác. Điều này không tương ứng với sự phát triển thực tế của khoa học: lý thuyết tương đối của Anhxtanh ra đời không thay thế cơ học cổ điển của Niutơn; hình học Lôbasépxki không phủ nhận hình học Ơcơlít...

2/ Quan điểm của Pốppơ về phát minh khoa học cũng phiến diện, vì ông thổi phồng các yếu tố ngẫu nhiên trong quá trình phát minh khoa học. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc ông phủ nhận tính nhân quả khách quan trong nhận thức của chủ thể khi đưa ra giả thuyết, vì quan điểm đó khẳng định quá trình này, về căn bản, diễn ra bằng con đường thử và sai. Nó gợi nhớ lại chủ nghĩa Đácuyn, thậm chí cả chủ nghĩa Đácuyn mới.

3/ Pốppơ đã đúng khi phê phán quan điểm về sự xác nhận của chủ nghĩa quy nạp mới: không thể đánh giá về mặt số lượng đối với nội dung giả thuyết, lý thuyết. Tuy nhiên, ông lại đưa ra phương pháp so sánh các lý thuyết với nhau bằng các khái niệm "lớn hơn", "nhỏ hơn", "bằng nhau". Việc đặt vấn đề như vậy là thiếu cơ sở, vì trong thực tiễn khoa học, thật khó mà xác định được nội dung của các lý thuyết khoa học cụ thể để có thể so sánh chúng với nhau theo cách như vậy.

4/ Pốppơ có chú ý đến thủ pháp xác nhận, nhưng khái niệm "xác nhận" được ông hiểu theo cách khác. Ông đưa ra thuật ngữ mới là “củng cố” (corroboration) để thay cho thuật ngữ cũ là "xác nhận" (confirmation). Theo quan điểm của ông, nếu lý thuyết được xác nhận nghĩa là được kiểm tra bằng thực nghiệm, kinh nghiệm thì các hệ quả của lý thuyết đó không bị bác bỏ. Được xác nhận tức là không bị phủ chứng, bởi thực nghiệm hiện tại dưới ánh sáng của các tri thức được thừa nhận là tiền đề. Rõ ràng là theo cách hiểu như vậy, sự xác nhận của bất kỳ lý thuyết nào cũng chỉ là tương đối và tạm thời.

Nếu như đối với các nhà quy nạp hiện đại thuộc trào lưu thực chứng lôgíc, sự tăng mức độ xác nhận (confirmation) của lý thuyết luôn gắn liền với việc tìm kiếm các sự kiện kinh nghiệm bổ sung để xác nhận lý thuyết này, thì đối với Pốppơ, sự tăng mức độ xác nhận, củng cố (corroboration) luôn gắn với ý đồ bác bỏ lý thuyết không thành công. Tư tưởng đó của ông không tương ứng với quá trình thực của sự phát triển khoa học. Một trong vô số ví dụ để bác bỏ tư tưởng đó là, khi các nhà bác học nói rằng lý thuyết tương đối được xác nhận bởi thực nghiệm của Êđintơn, có nghĩa là họ muốn nói đến việc kiểm chứng một tiên đoán quan trọng của lý thuyết này về độ cong của tia sáng khi đi qua gần một khối vật thể lớn. Như vậy, quá trình thực của sự xác nhận lý thuyết thể hiện ở việc kiểm chứng các hệ quả, tiên đoán của nó, chứ không phải là ở ý đồ phủ chứng nó.

Những bất đồng còn lại của chúng tôi liên quan đến sự phân tích của Pốppơ về vấn đề tính chân thực của tri thức khoa học. Khi từ chối khả năng chứng minh đối với các lý thuyết khoa học nhưng lại muốn đứng trên quan điểm của chủ nghĩa kinh nghiệm, Pốppơ buộc phải thừa nhận chủ nghĩa quy giản. Đương nhiên, ông đã đúng khi phê phán quan niệm thực chứng về tri thức kinh nghiệm "thuần tuý". Quả thực, trong khoa học hiện đại, quan sát và thực nghiệm luôn chịu sự định hướng của một lý thuyết nhất định, còn kết quả của chúng (quan sát, thực nghiệm) thì luôn được phân tích trên cơ sở những ngôn ngữ lý thuyết tương ứng. Nhưng từ đó, Pốppơ đã đi đến kết luận không đúng về bản chất quy ước của các mệnh đề "sự kiện" hay "cơ sở". Ông lập luận rằng, do không có tri thức kinh nghiệm "thuần tuý", mà các  khẳng định "sự kiện" hay "cơ sở" lại cần phải chân thực, cho nên tính chân thực của chúng chỉ có thể là kết quả của sự quy ước. Thêm nữa, việc tiếp nhận bất kỳ mệnh đề cơ sở nào với tư cách chân lý, theo Pốppơ, luôn có đặc điểm tạm thời, nghĩa là tính chân thực đó dường như là được "vay mượn". Tri thức lý thuyết không chỉ đơn giản là giả định, mà sớm hay muộn cũng tìm thấy cái sai, bị phủ chứng, một lý thuyết khác sẽ thay thế nó và đến lượt mình, lý thuyết này cũng có một số phận tương tự như vậy,... Như vậy, xét về khía cạnh nhận thức luận, chủ nghĩa phản quy nạp của Pốppơ đã dẫn ông đến gần chủ nghĩa chủ quan trong mối quan hệ với khả năng khoa học đạt được chân lý khách quan, hơn là so với những nhà quy nạp hiện đại.

 

 

 

(*) Tiến sĩ triết học, Viện Triết học.

(1) Xem: A.L.Nikiphơrốp. Từ lôgíc hình thức đến lịch sử khoa học. Mátxcơva, 1983, tr. 49, 50.

(2) K.Popper. The logic of scientific discovery. New York, 1961, p. 34.

(3) K.Popper. Ibid., p.86.

(4) Xem: B.X.Griađơnốp. Lôgic học-tính hợp lý - sự sáng tạo.  Mátxcơva, 1982, tr.153 (tiếng Nga).

(5) Dẫn theo: B.X.Griađơnốp . Sđd., tr, 153.

(6) Dẫn theo: B.X.Griađơnốp . Sđd., tr, 154.

(7) Xem: K.Popper. Ibid., p. 104.

Đã xem: 579
Thời gian đăng: Thứ năm - 04/06/2015 04:18
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất