QC Shop

Về mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng

Trần Đắc Hiến(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 2 (153), tháng 2 - 2004

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng là loại mâu thuẫn đặc thù, chỉ có trong xã hội loài người, mà cũng chỉ trong các xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp. Với tư cách những mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng có đầy đủ các đặc trưng cơ bản của mâu thuẫn xã hội. Là mâu thuẫn giữa những con người, nên nó không chỉ có những yếu tố khách quan thuần tuý, mà bao giờ cũng chứa đựng một hàm số chủ quan nhất định; việc giải quyết mâu thuẫn ở đây được thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người, nên chịu sự can thiệp mạnh mẽ của nhân tố chủ quan; biểu hiện chủ yếu của nó là mâu thuẫn về lợi ích mà trong đó, xét đến cùng, lợi ích vật chất giữ vai trò quyết định, nên lợi ích chính là mắt khâu quan trọng nhất trong việc giải quyết mâu thuẫn; và do thường được bộc lộ qua các khâu trung gian hay các lực lượng trung gian, nên việc nhận thức và giải quyết nó thường gặp nhiều khó khăn, phức tạp.

Hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau trong việc nhận thức mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng cũng như phương pháp giải quyết chúng trong thực tiễn. Trong bài viết này, chúng tôi xin được góp thêm ý kiến, phân tích nhằm làm sáng rõ quan điểm mácxít về hai loại mâu thuẫn này và về việc lựa chọn các phương pháp giải quyết mâu thuẫn xã hội ở nước hiện nay.

1. Về định nghĩa mâu thuẫn. Đối với mâu thuẫn không đối kháng thì nhìn chung, các ý kiến đều thống nhất cho rằng, đó là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội, khuynh hướng xã hội có chung lợi ích cơ bản, chỉ đối lập về lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời. Đối với mâu thuẫn đối kháng thì hiện vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau. Giáo trình triết học Mác-Lênin viết: “Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau”(1). Trong Từ điển Triết học, “mâu thuẫn đối kháng là những mâu thuẫn đặc thù của quan hệ xã hội của xã hội bóc lột; cơ sở của những mâu thuẫn này là lợi ích không thể điều hoà của các giai cấp, các tập đoàn, các lực lượng xã hội đối địch”(2).

Như vậy, hiểu theo định nghĩa thứ nhất thì mâu thuẫn đối kháng là sự đối lập giữa những giai cấp, những tập đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau. Đây thực chất là một cách hiểu nhằm “mềm hoá” khái niệm mâu thuẫn, bởi vì “lợi ích cơ bản đối lập nhau” thì chưa đủ để khẳng định là mâu thuẫn đối kháng hay không đối kháng, chẳng hạn lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân là thống nhất với nhau nhưng không có nghĩa là không có đối lập nhau. Do đó, vấn đề là ở chỗ, sự đối lập nhau về lợi ích cơ bản ấy phải ở tính chất nào, mức độ nào thì mới trở thành mâu thuẫn đối kháng. Hiểu theo cách thứ hai thì xem ra lại hơi “cứng”. Bởi lẽ, nếu cho rằng lợi ích cơ bản trong mâu thuẫn đối kháng là “không thể điều hoà được” thì sẽ khó giải thích nhiều hiện tượng mâu thuẫn đối kháng vẫn “có thể điều hoà được” lợi ích cơ bản thông qua sự dàn xếp trên bàn thương lượng, qua biện pháp ngoại giao,...

Vì thế, theo chúng tôi, có thể định nghĩa mâu thuẫn đối kháng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự đối lập thuộc về bản chất của lợi ích cơ bản giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội, các khuynh hướng xã hội đối địch.

Những mâu thuẫn đối kháng thường được đề cập tới là mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ, địa chủ và nông nô, tư sản và vô sản, giữa các nước đi xâm lược và các dân tộc bị xâm lược, giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, giữa địch và ta,… Những mâu thuẫn không đối kháng thường được nhắc đến là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức, giữa dân chủ và tập trung, dân chủ và chuyên chính, giữa quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội và hoạt động tự giác, có ý thức trong việc sáng tạo xã hội mới của con người, mâu thuẫn trong các đảng cộng sản, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, mâu thuẫn giữa xoá bỏ giai cấp và chuyên chính giai cấp, giữa việc nhà nước tiêu vong và sự tăng cường nhà nước…

Như vậy, phải nhận thức rõ vấn đề bản chất đối kháng và hiện tượng đối kháng trong hai loại mâu thuẫn trên, chúng ta mới giải thích được những biểu hiện đa dạng, phức tạp của chúng trong thực tế. Mâu thuẫn đối kháng có thể được biểu hiện thông qua hiện tượng không đối kháng; ngược lại, mâu thuẫn không đối kháng có khi lại biểu hiện ở hiện tượng đối kháng. Đối kháng là khái niệm dùng để chỉ sự xung đột gay gắt giữa các cá nhân, nhóm, tầng lớp, giai cấp, khuynh hướng xã hội, do chỗ giữa chúng có lợi ích đối lập nhau.

2. Về căn cứ để phân biệt mâu thuẫn. Vấn đề  này cũng có nhiều quan điểm khác nhau. M.M.Rôđentan cho rằng, cơ sở của những mâu thuẫn đối kháng là “lợi ích không thể điều hoà của các giai cấp, các tập đoàn, các lực lượng xã hội đối nghịch”(3). Tác giả Nguyễn Ngọc Hà lại cho rằng, “khi căn cứ vào lợi ích đối lập là cơ bản hay không cơ bản để phân biệt mâu thuẫn đối kháng với mâu thuẫn không đối kháng chúng ta sẽ gặp phải khó khăn trong việc xác định tiêu chuẩn phân biệt lợi ích cơ bản với lợi ích không cơ bản”. Và, do vậy theo tác giả, nếu hiểu theo cách này thì sẽ không thể giải thích được tại sao trong thực tế, nhiều mâu thuẫn đối kháng hết sức gay gắt vẫn có thể được dàn xếp trên bàn thương lượng, chứ không phải nhất thiết dẫn đến tình trạng một mất một còn giữa các mặt đối lập. Bởi vì, hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, chính ý thức giúp con người có thể điều hoà được lợi ích của nhau để cùng tồn tại và phát triển. Từ đó, tác giả cho rằng, một đặc trưng để phân biệt mâu thuẫn đối kháng với mâu thuẫn không đối kháng là “có hay không có tính chất bạo lực trong quan hệ giữa con người với con người”(4). Chúng tôi cho rằng, nếu hiểu theo cách này, sẽ gặp phải khó khăn khi nhận dạng mâu thuẫn đối kháng lúc còn ở giai đoạn chưa chín muồi, tức là ở giai đoạn mà sự đấu tranh giữa các mặt đối lập chưa diễn ra gay gắt, chưa có dấu hiệu bạo lực. Mặt khác, việc hiểu theo cách này cũng sẽ mâu thuẫn với khẳng định trước đó của tác giả cho rằng, có nhiều mâu thuẫn đối kháng hết sức gay gắt vẫn có thể được dàn xếp trên bàn thương lượng, chứ không nhất thiết phải sử dụng bạo lực.

Chúng tôi nhất trí với cách hiểu của tác giả Rôdentan, nhưng cần phải giải thích rõ hơn vấn đề tại sao lợi ích của các lực lượng xã hội ấy lại không thể điều hoà được để từ đó, có thể nhận thức được những biểu hiện hết sức đa dạng, phức tạp của mâu thuẫn đối kháng trong thời đại ngày nay.

3. Về nguồn gốc của mâu thuẫn. Nhìn chung, các ý kiến đều thống nhất cho rằng, nguồn gốc xuất hiện hai loại mâu thuẫn này là từ sự đối lập về lợi ích, nhưng ở các mức độ và tính chất khác nhau. V.E.Côdơlốpxki cho rằng, “mâu thuẫn đối kháng xã hội, đó là mâu thuẫn được đặc trưng bằng sự thù địch không thể điều hoà của những lợi ích giai cấp, bằng việc không thể giải quyết nó một cách căn bản, có tính cách mạng mà lại không thủ tiêu cơ sở kinh tế làm nảy sinh và tái sinh mâu thuẫn đó, tức là sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất”(5). Theo quan điểm này thì mâu thuẫn đối kháng có nguồn gốc hay nguyên nhân từ chế độ chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất và do vậy, nó chỉ được giải quyết triệt để khi thủ tiêu chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Tác giả Nguyễn Ngọc Hà cho rằng, sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất không phải là nguồn gốc, là nguyên nhân duy nhất làm xuất hiện mâu thuẫn đối kháng, mà ngoài nguyên nhân đó, còn có nguyên nhân từ sự thiếu thốn, “làm không đủ ăn”, “cung không đủ cầu” và ở chính “ý thức” của con người. Theo đó, mâu thuẫn đối kháng có nguồn gốc từ cả những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Chúng tôi cho rằng, cần phải hiểu nguồn gốc của mâu thuẫn đối kháng một cách toàn diện (nguồn gốc kinh tế, xã hội; nguồn gốc sâu xa, trực tiếp) để từ đó, đề ra giải pháp khắc phục việc phát sinh mâu thuẫn này một cách triệt để, có hiệu quả.

4.Về hình thức biểu hiện của mâu thuẫn. Hầu hết các quan điểm từ trước đến nay đều đồng nhất mâu thuẫn đối kháng với mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột (chủ nô và nô lệ, địa chủ và nông nô, tư sản và vô sản). Với cách hiểu này, tính chất phức tạp và những biểu hiện phong phú của mâu thuẫn đối kháng có thể bị làm đơn giản hoá. Bởi lẽ, trên thực tế, mâu thuẫn đối kháng có thể là giữa các nước đế quốc với nhau, chẳng hạn trong Đại chiến thế giới lần thứ nhất, đó là cuộc đấu tranh của các nước tư bản nhằm phân chia lại thế giới, giành thị trường, thuộc địa và phạm vi ảnh hưởng - đây rõ ràng không phải là mâu thuẫn giai cấp, nhưng tính chất bạo lực của cuộc đấu tranh lại rất gay gắt và quyết liệt. Trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, những mâu thuẫn giữa các nước tư bản vẫn hết sức gay gắt, có khi phải sử dung bạo lực, chiến tranh để giải quyết. Mặt khác, không phải lúc nào quan hệ giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột cũng có tính đối kháng, có những thời điểm hai giai cấp này còn là đồng minh của nhau, cùng hợp tác với nhau để chống lại một giai cấp khác, hoặc chống kẻ thù từ bên ngoài xâm lược. Ví dụ, quan hệ hợp tác giữa giai cấp tư sản dân tộc với giai cấp vô sản trong thời kỳ Cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta trước đây; quan hệ hợp tác giữa giai cấp tiểu tư sản và giai cấp vô sản ở Pháp trong cuộc Cách mạng 1848 – 1850(6)… Ngoài ra, mâu thuẫn đối kháng cũng có thể xuất hiện trong quan hệ giữa các nhóm, các cộng đồng người trong xã hội (giữa các thị tộc, bộ lạc, các cộng đồng tôn giáo, các dân tộc,...).

Trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay, quan niệm cứng nhắc về mâu thuẫn này là không thích hợp, ảnh hưởng đến chủ trương, chính sách của Đảng ta, trong đó có chủ trương mở rộng hợp tác về nhiều mặt, khuyến khích đầu tư từ nước ngoài, kể cả với các nước tư bản, thậm chí cả những nước mà trước đây vốn là kẻ thù của dân tộc ta, để phát triển kinh tế của đất nước. Nhưng nếu không thấy rõ bản chất của hai loại mâu thuẫn này thì lại dễ rơi vào “hữu khuynh”, chỉ thấy mặt “hợp tác”, không thấy mặt “đấu tranh” trong thế giới ngày nay, khi mà các thế lực thù địch vẫn không ngừng chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta bằng những âm mưu, thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt. Văn kiện Đại hội IX của Đảng ta đã khẳng định: “Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức  và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra găy gắt”(7).

5. Về tính chất và phương pháp giải quyết mâu thuẫn. Hầu hết các quan điểm đều cho rằng, mâu thuẫn đối kháng có xu hướng phát triển và tính chất ngày càng gay gắt và theo quy luật chung, nó thường được giải quyết bằng phương pháp bạo lực. Mâu thuẫn không đối kháng có xu hướng và tính chất ngày càng đi đến thống nhất các mặt đối lập và theo quy luật chung, nó thường được giải quyết bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục, phê và tự phê bình. Từ điển Triết học viết: “Mâu thuẫn đối kháng được giải quyết bằng đấu tranh giai cấp cách mạng và bằng cách mạng xã hội làm thay đổi chế độ xã hội hiện hành… Trong quá trình phát triển, mâu thuẫn ngày càng gay gắt thêm, sâu sắc thêm và cuộc đấu tranh giữa các mâu thuẫn dẫn đến sự xung đột gay gắt. Những hình thức giải quyết xung đột này được quy định bởi những điều kiện lịch sử cụ thể của cuộc đấu tranh… Mâu thuẫn không đối kháng được khắc phục bằng cách cải tạo từng bước và có kế hoạch những điều kiện kinh tế, xã hội, v.v. gây nên những mâu thuẫn ấy”(8).

Theo chúng tôi, giải quyết mâu thuẫn đối kháng thông thường phải sử dụng bạo lực, như C.Mác đã khẳng định: chừng nào chủ nghĩa tư bản còn tồn tại, thì tình trạng đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản vẫn còn là một cuộc đấu tranh giữa giai cấp và giai cấp, cuộc đấu tranh ấy, đến giai đoạn cao nhất của nó, sẽ trở thành một cuộc cách mạng toàn diện. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể, không nhất thiết phải sử dụng bạo lực mà có thể sử dụng các hình thức khác, như đấu tranh nghị trường, hợp pháp. Hình thức này hiện đang được nhiều người ủng hộ trong các nước tư bản phát triển, nguyên nhân chủ yếu là những biến đổi giai cấp do giai cấp tư sản chủ động điều chỉnh. Còn mâu thuẫn không đối kháng nhìn chung được giải quyết bằng phương pháp “cải tạo tuần tự các điều kiện kinh tế”, cải tạo nền kinh tế tiểu nông phân tán và biến nó thành một nền đại công nghiệp xã hội chủ nghĩa, đấu tranh chống tâm lý tiểu tư sản của giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Cuộc đấu tranh ấy chẳng những không phá vỡ mà trái lại, còn củng cố thêm sự thống nhất, liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân.

Trong điều kiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn không đối kháng là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, yêu cầu phải tính toán rất kỹ lưỡng để không ảnh hưởng đến các vấn đề chính trị trong quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

6. Về sự chuyển hoá mâu thuẫn. Hiện cũng đang có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về vấn đề này. Một số quan điểm cho rằng, không thể có sự chuyển hoá mâu thuẫn đối kháng thành mâu thuẫn không đối kháng và ngược lại…, vì đối với mâu thuẫn đối kháng thì “lợi ích cơ bản” giữa các mặt đối lập là không thể điều hoà được. Một số quan điểm khác lại khẳng định có sự chuyển hoá giữa hai loại mâu thuẫn này. Trong Nguyên lý triết học Mác Lênin, một số tác giả Liên Xô viết: “Mặc dù có sự khác biệt sâu sắc, nhưng giữa mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng không có một cái hố ngăn cách”(9). V.I.Lênin cho rằng, trong trường hợp có sự sai lầm về chính sách hoặc sai lầm từ hoạt động thực tiễn, mâu thuẫn không đối kháng có thể trở nên gay gắt, sâu sắc và trong những điều kiện nhất định, có những nét của mâu thuẫn đối kháng. Tác giả Nguyễn Tấn Hùng cho rằng, “sai lầm trong đường lối, chính sách của nhà nước có thể làm cho mâu thuẫn vốn không đối kháng trở thành đối kháng”; “sự kích động của các phần tử cực đoan, quá khích có thể đưa mâu thuẫn hiện tượng từ chỗ không đối kháng trở thành đối kháng”(10). Tác giả Nguyễn Ngọc Hà cũng cho rằng, “nếu con người không biết điều hoà lợi ích của mình thì những mâu thuẫn không đối kháng giữa họ đều có thể chuyển thành các mâu thuẫn đối kháng”(11).

Chúng tôi cũng nhất trí cho rằng, có sự chuyển hoá giữa hai loại mâu thuẫn này. Việc nhận thức sự đối kháng có tính bản chất và sự đối kháng không có tính bản chất như trên đã trình bày cho phép giải thích được sự chuyển hoá ấy một cách thích hợp nhất mà không mâu thuẫn với định nghĩa về chúng. Bởi vì, với bản chất biện chứng của mình, hai loại mâu thuẫn này luôn vận động, phát triển và có thể chuyển hoá lẫn nhau trong những điều kiện nhất định. Vì vậy, trong thực tiễn phải tuỳ từng điều kiện cụ thể để lựa chọn phương pháp giải quyết thích hợp đối với từng loại mâu thuẫn, đảm bảo việc giải quyết mâu thuẫn là nguốc gốc của sự phát triển. Thực tế cho thấy, một mâu thuẫn không đối kháng có thể chuyển hoá thành đối kháng, hoặc biểu hiện có tính chất đối kháng mà các nhà nghiên cứu ở Liên Xô gọi là “có những nét” của mâu thuẫn đối kháng một khi có sự sai lầm kéo dài về đường lối (của Đảng cầm quyền), phương pháp giải quyết mâu thuẫn thô bạo, bất chấp thực tế (quy luật) khách quan, có sự can thiệp, xúi giục, kích động của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Sự đổ vỡ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã chứng minh cho quan điểm này. Nhiều cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo trong lịch sử ở khắp nơi trên thế giới, nhiều khi xuất phát từ mâu thuẫn không đối kháng, có thể được giải quyết bằng con đường hoà bình, thương lượng, nhưng do bị xúi giục, kích động bởi những phần tử cầm đầu quá khích đã dẫn tới những cuộc bạo động, chém giết và đổ máu không cần thiết. Mâu thuẫn nội bộ nhân dân mà phát triển thành “điểm nóng” thì sẽ có nguy cơ chuyển hoá thành mâu thuẫn đối kháng một khi không được giải quyết kịp thời, thích hợp. Ngược lại, có những mâu thuẫn đối kháng vẫn có thể được giải quyết bằng con đường ngoại giao, trên bàn thương lượng,… chứ không nhất thiết phải sử dụng bạo lực trên chiến trường. Thực tiễn lịch sử  cũng đã chứng minh cho lập luận này.

Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng, to lớn về nhiều mặt, nhưng cũng đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ do xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đưa lại, cùng với những bất cập về nhiều mặt của xã hội và tình trạng tham nhũng đang có xu hướng gia tăng. Nền kinh tế thị trường nước ta còn ở trình độ thấp, trong đó các mâu thuẫn giữa những yếu tố cũ, mới đan xen và diễn biến phức tạp. Tình hình an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội về cơ bản được giữ vững, nhưng những mâu thuẫn xã hội, nhất là ở một số vùng nông thôn những năm gần đây có chiều hướng gia tăng, có nơi, có lúc phát triển trở thành “điểm nóng”. Cùng một lúc, chúng ta phải giải quyết nhiều mâu thuẫn trong các lĩnh vực khác nhau, với những tính chất khác nhau. Điều đó, về mặt lý luận đòi hỏi phải nắm vững những nguyên tắc có tính phương pháp luận về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn biện chứng để làm cơ sở cho việc lựa chọn những hình thức đấu tranh, giải quyết có hiệu quả các mâu thuẫn này theo hướng có lợi cho cách mạng, cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời chủ động ngăn chặn kịp thời những biến cố gây bất lợi. Giải quyết có hiệu quả những mâu thuẫn xã hội sẽ góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 

 

 


(*) Học viện An ninh nhân dân.

(1) Giáo trình triết học Mác - Lênin. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.329.

(2) Từ điển Triết học. Nxb Tiến bộ,  Mátxcơva, 1986, tr.361-362.

(3) Từ điển Triết học. Sđd., tr.362.

(4) Tạp chí Triết học, số 4, 1995, tr.48 - 49.

(5) Dẫn theo: Tạp chí Triết học, số 4, 1995, tr. 49.

(6) Xem: Đấu tranh giai cấp ở Pháp. Trong:  C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.7. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.64 -65.

(8) Từ điển Triết học. Sđd., tr.361-362.

(9) Nguyên lý triết học Mác – Lênin. Nxb Chính trị, Mátxcơva, 1979, tr.102 (tiếng Nga).

(10) Tạp chí Triết học, số 3, 1995, tr.20, 21.

(11) Tạp chí Triết học, số 4, 1995, tr.51.

Đã xem: 7186
Thời gian đăng: Thứ ba - 02/06/2015 23:26
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất