QC Shop

Về sự đồng nhất và khác biệt giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học

TS. Phùng Văn Thiết(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 3 (154), tháng 3 - 2004

Vấn đề về sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học là một đề tài triết học lớn, bao hàm nhiều khía cạnh lý luận phức tạp. Bài viết dưới đây chỉ cố gắng làm rõ thêm một khía cạnh của vấn đề - đó là sự đồng nhất và khác biệt giữa ba khoa học trên đây.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

1. Để đi đến một quan niệm chung khả dĩ có thể chấp nhận được cho nhiệm vụ này, chúng tôi cho rằng, cần phải bắt đầu từ việc làm rõ thực chất quan niệm của các nhà kinh điển của triết học Mác về sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại. Bởi vì, xét trên mọi phương diện, đây là đầu mối, là gốc rễ của vấn đề.

Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, như Ph.Ăngghen khẳng định, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Một trong những thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng triết học trong lịch sử cũng chính là việc nhân loại đã phát hiện ra nguyên lý về sự đồng nhất giữa tồn tại và tư duy. Phát hiện này được thực hiện bởi cả một quá trình lịch sử lâu dài, nhưng thành tựu ấy lại thường được gắn liền với sự nghiệp của Hêgen - nhà triết học vĩ đại của triết học cổ điển Đức. Lịch sử tư tưởng triết học đã ghi nhận rằng, trong khi tìm cách khắc phục những hạn chế của triết học Cantơ, Hêgen đã phát hiện ra và dựa hẳn vào nguyên lý về sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa những quy luật của tồn tại và những quy luật của tư duy để xây dựng hệ thống triết học của mình. Ở đó, Hêgen đã giải thích sự đồng nhất trên đây theo lập trường duy tâm khách quan với tiền đề xuất phát là sự bao trùm và sức mạnh tuyệt đối thuộc về lý tính. Chính lập trường duy lý ấy vừa đưa lại những cống hiến, vừa quy định những hạn chế trong lập luận của Hêgen. Theo đó, do đặc biệt đề cao vai trò của lý tính mà Hêgen đã phỏng đoán khá chính xác mối quan hệ nội tại giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học. Đồng thời, cũng chính vì thế mà ông, khác với Cantơ, đã hoà tan phép biện chứng và lý luận nhận thức vào trong lôgíc học. Điều này lý giải tại sao những vấn đề cơ bản nhất về phép biện chứng và lý luận nhận thức của triết học Hêgen lại được tìm thấy không phải ở đâu khác ngoài Lôgíc học của ông.
Trên cơ sở lọc bỏ và kế thừa những tinh hoa triết học nhân loại, trước hết và trực tiếp là triết học cổ điển Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra một cách kiến giải mới, khác về chất và đối lập về nguyên tắc với cách kiến giải của Hêgen về sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại. Ph.Ăngghen viết: "Nếu người ta đặt câu hỏi rằng tư duy và ý thức là gì, chúng từ đâu đến, thì người ta sẽ thấy rằng chúng là sản vật của bộ óc người và bản thân con người, là sản vật của giới tự nhiên... Vì vậy, lẽ tự nhiên là những sản vật của bộ óc con người, - quy đến cùng, cũng là những sản vật của giới tự nhiên, - không mâu thuẫn mà lại còn phù hợp với mối liên hệ còn lại của giới tự nhiên"(1). Theo đó, có thể nói, trước khi trở thành những môn khoa học độc lập với nhau và dường như độc lập với ngay cả cội nguồn của nó là hiện thực khách quan thì cả phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học đều là sản phẩm của bộ óc người, đều là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong ý thức của con người thông qua bộ óc biết tư duy của họ. Sự đồng nhất nếu có (và tất yếu) giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học, do đó, là sự đồng nhất về nội dung; và một sự luận chứng về sự đồng nhất ấy chỉ thực sự khoa học nếu dựa chắc vào quan niệm duy vật về bản chất của nhận thức. Vấn đề còn lại chỉ là ở việc làm rõ những nội dung mà theo đó, phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học đồng nhất với nhau.

2. Từ tư tưởng của các nhà kinh điển của triết học Mác và từ những công trình nghiên cứu đã được công bố của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước, có thể tóm lược sự đồng nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học theo mấy nội dung dưới đây.

Trước hết, đó là sự đồng nhất trên tính phổ biến của các quy luật của phép biện chứng. Theo hướng này có thể thấy, mặc dù tư duy và nhận thức, do những đặc điểm không giống nhau trong sự phát sinh, tồn tại và phát triển của chúng mà có thể (và nhất thiết phải) có những quy luật vận động riêng, phản ánh tính độc lập tương đối của chúng không những so với các lĩnh vực khác, mà còn giữa chúng với nhau. Với tính cách là một lĩnh vực không thể tách rời của hiện thực, tư duy và nhận thức không thể không tuân thủ những quy luật phổ biến của hiện thực, cũng như lý luận nhận thức và lôgíc học sẽ không thể trở thành khoa học nếu không coi những quy luật của phép biện chứng như là những quy luật của chính mình. Do vậy, khi cùng tuân thủ những quy luật phổ biến của hiện thực (do phép biện chứng nghiên cứu), phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học trở thành đồng nhất. Nói cách khác, những quy luật phổ biến của hiện thực là cội nguồn làm nên sự đồng nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học.

Tuy nhiên, tiền đề xuất phát mà theo đó, phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học đồng nhất với nhau là ở chỗ, xét về thực chất, chúng đều là những học thuyết về sự phát triển được xây dựng trên quan niệm duy vật về bản chất của nhận thức. Trong đó, đối với phép biện chứng, khi xét về cấu trúc sẽ bao hàm cả phép biện chứng của hiện thực khách quan (phép biện chứng khách quan) và phép biện chứng của tư duy, của nhận thức (phép biện chứng chủ quan); còn khi xét về thực chất, nó lại là một chỉnh thể mà ở đó, học thuyết tổng quát về sự phát triển (thực chất của phép biện chứng) luôn ăn nhập và bao hàm một cách khái quát cả học thuyết về sự tồn tại và phát triển của nhận thức (thực chất của lý luận nhận thức) và học thuyết về sự tồn tại, phát triển của tư duy (thực chất của lôgíc học) để tạo thành một khoa học triết học hoàn bị(2). Với ý nghĩa ấy, phép biện chứng không những là lý luận nhận thức (của Hêgen và) của chủ nghĩa Mác (3), mà còn là "một hình thức tư duy quan trọng nhất đối với khoa học tự nhiên hiện đại"(4). Trên thực tế, chỉ có hiểu sự đồng nhất theo nghĩa ấy, chúng ta mới giải thích được tại sao hệ thống phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng lại trở thành những nguyên tắc cơ bản của lôgíc học biện chứng (như V.I.Lênin đã trình bày trong Lại bàn về công đoàn...). Và, việc "suy luận một cách biện chứng" với tư cách một yêu cầu có tính nguyên tắc của phép biện chứng và lôgíc học lại trở thành một trong những tiền đề quan trọng nhất để trên đó, xây dựng toàn bộ học thuyết mácxít về nhận thức (như V.I.Lênin đã trình bày trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán).

Cuối cùng, toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển của phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học đã cho thấy rằng, sự đồng nhất giữa chúng là sự đồng nhất trên cơ sở thực tiễn. Có một sự thật là, con người biết hành động phù hợp với những quy luật phổ biến của hiện thực, biết nhận thức đúng đắn thế giới xung quanh và biết tư duy hợp lôgíc trước khi họ biết thế nào là phép biện chứng, lý luận nhận thức, lôgíc học và sự đồng nhất giữa chúng. Tất nhiên, cái năng lực trên đây không tồn tại sẵn trong con người mà trái lại, nó từng bước được hình thành cùng với quá trình con người vươn lên trở thành chủ thể của tồn tại. Con người trở thành chủ thể chỉ trong hoạt động thực tiễn. Ở đó, con người vừa phải biết cải biến tự nhiên, cải biến khách thể, vừa phải phục tùng những quy luật khách quan của tự nhiên, của khách thể. Đó là một mâu thuẫn. Mâu thuẫn này, đến lượt nó, lại được giải quyết không phải bằng cách nào khác ngoài bằng chính quá trình thực tiễn của con người. Bởi vì, chính thực tiễn của con người được lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần (V.I.Lênin) đã in vào ý thức của họ những biểu tượng lôgíc bền vững, mang tính khách quan và qua đó, hình thành nên những phạm trù, quy luật, quy tắc... của tư duy lôgíc để nhận thức tự nhiên, nhận thức khách thể. Thực tiễn càng vận động, biến đổi, chủ thể càng phải không ngừng hoàn chỉnh, "nâng cấp" hệ thống phạm trù, quy luật, quy tắc sao cho tương xứng. Điều đó không những làm cho tư duy, nhận thức của chủ thể ngày càng phát triển, mà còn làm cho sự phát triển ấy cũng ngày càng đồng nhất (phù hợp) với những quy luật khách quan của tự nhiên, của khách thể. Nói cách khác, sự đồng nhất (phù hợp) về nội dung giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học được hiện thực hoá bởi một tiến trình liên tục, lâu dài với những giai đoạn, những bậc thang nhất định từ thấp đến cao(5). Đó cũng là quá trình thường xuyên khắc phục mâu thuẫn vốn có và tất yếu giữa khách thể luôn vận động với chủ thể không bao giờ cạn nhu cầu trong suốt quá trình thực tiễn. Do vậy, mặc dù sự hiện diện của thực tiễn trong cơ cấu nội tại của phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học có thể nhiều ít khác nhau, nhưng việc thực tiễn luôn có một vai trò, vị trí không thể thay thế trong quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển của cả ba bộ môn khoa học trên đây là một bằng chứng về sự đồng nhất tất yếu giữa chúng.

3. Nhưng, bản thân việc chỉ ra những nội dung mà theo đó phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học đồng nhất với nhau cùng đồng nghĩa với việc khẳng định ba bộ môn khoa học này luôn tồn tại như những chỉnh thể tương đối độc lập với những đặc điểm riêng. Theo chúng tôi, có thể chỉ ra một số đặc điểm riêng với tính cách như thế, dưới đây.

Thứ nhất, đó là sự khác biệt giữa một khoa học nghiên cứu về những quy luật chung của tồn tại với các khoa học nghiên cứu về những quy luật đặc thù của tư duy, của nhận thức.

Biểu hiện đầu tiên của sự khác nhau giữa ba bộ môn khoa học này là ở đối tượng nghiên cứu của chúng. Nếu phép biện chứng nghiên cứu tồn tại để vạch ra (và trở thành khoa học về) những quy luật phổ biến của tồn tại, thì lý luận nhận thức và lôgíc học nghiên cứu một lĩnh vực đặc thù của tồn tại để vạch ra (và trở thành những khoa học về) những quy luật đặc thù của nhận thức, của tư duy. Chính vì vậy, những quy luật của phép biện chứng cũng đồng thời là những quy luật của nhận thức, của tư duy, nhưng những quy luật của tư duy và nhận thức thì không có được đặc tính ấy.

Tuy nhiên, sự khác nhau chủ yếu giữa ba bộ môn khoa học này lại là ở chỗ, không những tư duy và nhận thức có một hệ thống quy luật vận động riêng, mà ngay cả những quy luật phổ biến của tồn tại ở đây cũng được biểu hiện dưới hình thức đặc thù. Sở dĩ có tình hình ấy là vì, thế giới luôn thống nhất trong sự đa dạng bất tận của các sự vật, hiện tượng cụ thể. Những sự vật, hiện tượng ấy là những hình thức khác nhau về chất của sự vận động của vật chất và sự phản ánh của nó trong ý thức con người. Chính sự khác nhau ấy cùng với sự không giống nhau về hoàn cảnh ra đời, về sự tồn tại và phát triển của các sự vật, hiện tượng đã dẫn đến một thực tế là, biện chứng của tồn tại trở thành khách thể nghiên cứu của nhiều ngành khoa học và những quy luật phổ biến của tồn tại luôn được biểu hiện một cách độc đáo trong mỗi lĩnh vực, mỗi ngành khoa học cụ thể. Ph.Ăngghen đã từng coi tất cả những ai không thấy rằng những quy luật của phép biện chứng trong phép tính vi - tích phân thì biểu hiện khác với khi gieo hạt đại mạch là người siêu hình. Còn V.I.Lênin cũng đã từng lưu ý, với C.Mác thì phép biện chứng của xã hội tư sản chỉ là một trường hợp đặc biệt của phép biện chứng. Những quy luật của tư duy, của nhận thức, mặc dù đồng nhất về nội dung với những quy luật phổ biến của tồn tại, nhưng cơ chế tác động của chúng lại không mang nặng tính chất tự phát như các lĩnh vực khác của tồn tại, mà trái lại, nó đã được con người "tự giác hoá" cho phù hợp với những yêu cầu của tư duy, của nhận thức. Đó cũng chính là cách giải thích của Ph. Ăngghen về sự "đồng nhất về thực chất, nhưng khác nhau về biểu hiện" giữa những quy luật của tư duy và quy luật của giới tự nhiên bên ngoài(6).

Thứ hai, đó là sự khác biệt về nhiều mặt giữa khoa học chuyên biệt về nhận thức (lý luận nhận thức) và khoa học chuyên biệt về tư duy (lôgíc học).

Là khoa học nghiên cứu về nhận thức của con người và loài người, lý luận nhận thức có nhiệm vụ chủ yếu là vạch ra những mối liên hệ có tính quy luật giữa các yếu tố, các giai đoạn, các cấp độ của quá trình nhận thức. Vấn đề cơ bản của lý luận nhận thức, nếu có thể nói như vậy, là vấn đề về tính thực tiễn của tri thức.

So với lý luận nhận thức, lôgíc học có phạm vi bao quát hẹp hơn, nó chỉ đề cập đến tư duy - một giai đoạn (giai đoạn cao) của nhận thức. Nhưng ngay cả ở phạm vi này, lý luận nhận thức và lôgíc học cũng không hoàn toàn trùng nhau, bởi chúng đề cập đến tư duy theo những giác độ khác nhau.

Lý luận nhận thức nghiên cứu tư duy chủ yếu với tư cách một mắt xích trong tiến trình liên tục của nhận thức (từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn). Nhưng với lôgíc học thì vấn đề lại khác, lôgíc học là khoa học nghiên cứu về tư duy lôgíc, nhiệm vụ chủ yếu của nó là vạch ra cái lôgíc của tư duy và vấn đề cơ bản của nó là vấn đề về tính chân thật hay giả dối của tư tưởng. Không bàn đến tính chân thực hay giả dối của tư tưởng thì không còn là lôgíc học nữa. V.I.Lênin nhấn mạnh, vấn đề đặt ra cho lôgíc học "không phải chỉ là miêu tả các hình thức của tư duy và không phải chỉ là sự miêu tả có tính lịch sử tự nhiên về những hiện tượng của tư duy..., mà còn là sự phù hợp với chân lý"(7).

Thứ ba, đó là sự khác biệt giữa hai khoa học chuyên biệt về tư duy: lôgíc học hình thức và lôgíc học biện chứng.

Chúng ta đang bàn về sự đồng nhất và khác biệt giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học, nhưng bản thân lôgíc học lại chia thành hai ngành là lôgíc học hình thức và lôgíc học biện chứng, vì thế, đề cập đến sự khác nhau giữa chúng cũng có một ý nghĩa nhất định. Lôgíc học hình thức nghiên cứu tư duy với tính cách là một hệ thống hình ảnh lý tính (khái niệm, phạm trù...) đã định hình, không tính đến nguồn gốc, đến sự vận động và chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng. Ở đây, vấn đề "tâm", "vật" không đặt ra một cách trực tiếp. Trong khi đó, lôgíc học biện chứng lại đặc biệt quan tâm đến quá trình sinh thành của hệ thống hình ảnh ấy và đặt nó trong mối quan hệ tương tác với hiện thực, với thực tiễn và do vậy, tất yếu phải tính đến sự vận động, chuyển hoá lẫn nhau, lan tràn sang nhau của chúng. Trong lôgíc học biện chứng, vấn đề duy tâm hay duy vật, vì thế, cũng rất quan trọng. Lôgíc học biện chứng duy tâm đã được Hêgen trình bày khá hoàn chỉnh. Trong triết học Mác, lôgíc học biện chứng được xây dựng theo hướng trở thành khoa học về tư duy biện chứng và biện chứng của tư duy(8). Phương pháp nghiên cứu đặc trưng của lôgíc học hình thức là phương pháp hình thức; nó tạm thời trừu tượng hoá nội dung để tập trung nghiên cứu hình thức lôgíc của tư duy và qua đó, vạch ra những cách thức chung, những mối liên hệ có tính quy luật về hình thức, về kết cấu mà mọi tư duy chính xác phải tuân theo nếu muốn đạt đến chân lý. Với ý nghĩa ấy, người ta coi lôgíc học hình thức là khoa học về những hình thức và những quy luật của tư duy chính xác.

Song, việc chỉ nghiên cứu vấn đề về tính chính xác của hình thức lôgíc mà không tính đến vấn đề về sự "ăn khớp" của nội dung tư duy so với hiện thực, nghĩa là không nghiên cứu những điều kiện hiện thực của bản thân chân lý, đã làm cho lôgíc học hình thức trở nên chật hẹp và bản thân việc tuân thủ đầy đủ những nguyên tắc của nó cũng chưa bảo đảm chắc chắn nhận thức được chân lý khách quan. Những hạn chế trên đây được khắc phục bởi sự ra đời của lôgíc học biện chứng. Phương pháp nghiên cứu đặc trưng của lôgíc học biện chứng là phương pháp biện chứng - một phương pháp nghiên cứu tư duy trong sự thống nhất hữu cơ giữa hình thức lôgíc và nội dung cụ thể của nó. Trên thực tế, lôgíc học biện chứng không đặt ra bất cứ hình thức hay thao tác tư duy nào mới (so với lôgíc học hình thức), cũng không sáng tạo thêm bất cứ một phương pháp luận nào mới cho sự phân tích hiện thực (so với hệ thống phương pháp luận của phép biện chứng duy vật) mà trái lại, dưới góc độ phương pháp, nó vận dụng hệ thống phương pháp luận của phép biện chứng duy vật vào việc luận giải những hình thức và thao tác tư duy mà lôgíc học hình thức đã phát hiện ra, từ đó rút ra những yêu cầu (hay những điều kiện) bảo đảm để tư duy của con người phù hợp (phản ánh đúng) với quá trình khách quan của hiện thực. Đó đồng thời cũng là "chân trời mới" của lôgíc học, là chỗ khác nhau căn bản giữa lôgíc học biện chứng và lôgíc học hình thức.

 

 

 


(*) Tiến sĩ, Phó chủ nhiệm Khoa Triết học, Học viện Chính trị Quân sự.

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.55.

(2) Xem: Tô Duy Hợp. Tư tưởng Lênin về sự đồng nhất của phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học. Trong: Chủ nghĩa duy vật biện chứng. Lý luận và vận dụng. Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội, 1985, tr.192.

(3) Xem: V.I.Lênin. Toàn tập, t.23. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.53.

(4) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.488.

(5) Xem: Vũ Ngọc Pha. Tìm hiểu về lôgíc. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.174.

(6) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.21, tr.429 -430.

(7) V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr.183.

(8) Xem: Bùi Thanh Quất, Bùi Trí Tuệ, Nguyễn Ngọc Hà. Về đối tượng, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm của lôgíc học biện chứng. Tạp chí Triết học, số 7, 2001, tr.49.

Đã xem: 1117
Thời gian đăng: Thứ tư - 03/06/2015 23:47
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất