QC Shop

Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

TSKH. Lương Việt Hải(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 4 (155), tháng 4 - 2004

Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ xã hội và công bằng xã hội phải được thực hiện ngay trong từng bước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nền kinh tế thị trường mà Việt Nam đang tạo dựng và phát triển có thể đảm bảo thực hiện công bằng xã hội. Thậm chí, trong điều kiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất như hiện nay thì chỉ duy nhất nền kinh tế đó mới có thể thực hiện tốt nhất công bằng xã hội. Công bằng xã hội phải được tiến hành ngay trong mỗi bước phát triển, song song với tăng trưởng kinh tế, và đó là một trong những động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội. Việc thực hiện công bằng xã hội phải được thực hiện bằng nhiều hình thức phân phối khác nhau cả từ bên ngoài lẫn bên trong nội dung kinh tế của khái niệm công bằng.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Trong công cuộc đổi mới đất nước, tạo dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn khẳng định tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội là mục tiêu chủ yếu. Tại Đại hội IX, một lần nữa khẳng định mục tiêu này, Đảng ta đã nhấn mạnh: Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội phải được thực hiện ngay trong từng bước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội(1). Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là kinh tế thị trường có dung hợp với công bằng xã hội không, và giữa chúng liệu có những mâu thuẫn nào không thể khắc phục được? Nếu không phải như vậy thì công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường có những điểm khác biệt nào so với công bằng trong các nền kinh tế khác. Nền kinh tế thị trường mà nước ta đang tạo dựng và phát triển là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chứ không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và do vậy, theo chúng tôi, công bằng xã hội trong điều kiện này, ngoài những điểm chung giống với các nước khác, còn có những đặc thù riêng của nó. Đây chính là vấn đề mà chúng tôi đề cập đến trong bài viết này.

Thông thường, khi nói đến công bằng người ta muốn nói đến sự bằng nhau chính đáng trong một lĩnh vực, phạm vi nào đó. Công bằng đòi hỏi sự tương hợp giữa vai trò thực tiễn và địa vị xã hội của các cá nhân hay các nhóm xã hội khác nhau trong đời sống xã hội, giữa quyền và nghĩa vụ, việc làm và hưởng thụ, giữa lao động và sự trả công, giữa tội ác và trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội... Sự không tương hợp, cân xứng trong những quan hệ đó được coi là bất công. Nói đến công bằng xã hội là nói đến sự ngang bằng nhau giữa người với người về phương diện quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc: cống hiến lao động ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau(2).

Công bằng xã hội không đơn thuần thể hiện quan hệ cá nhân - xã hội, mà còn thể hiện quan hệ giữa các nhóm, cộng đồng, giai cấp và cá nhân với nhau. Bản chất của nó là sự phù hợp giữa cái mà chủ thể (nhóm, cộng đồng, cá nhân) đã đóng góp và cái mà họ được hưởng. Dĩ nhiên, hình thức đóng góp của họ là khác nhau và đa dạng: thời gian, lao động, vốn, chất xám, xương máu, kinh nghiệm, v.v., và hình thức mà họ nhận lại cũng rất đa dạng: tiền công, phần thưởng, danh vị, chức vụ, v.v.. Chính tính đa dạng của hình thức đóng góp và nhận lại đã khiến cho sự công bằng xã hội thường không được bộc lộ rõ ràng. Do vậy, trong thực tế có những trường hợp mà quan hệ đó đã thể hiện sự công bằng nhưng nhận định chủ quan của chủ thể lại cho là bất công và ngược lại.

Điều đáng lưu ý là, công bằng xã hội được nói ở đây không phải theo nghĩa: nếu anh đóng góp một lượng A nhất định thì anh sẽ được nhận lại cũng lượng A đó dưới một hình thức khác. Công bằng không phải là sự bằng nhau về lượng hay chất giữa cái bỏ ra và cái thu về. Vấn đề cốt yếu ở đây là sự so sánh tỷ lệ. Nếu tỷ lệ giữa phần mà cá nhân hay nhóm xã hội nào đó đóng góp và phần mà họ nhận được tương đương tỷ lệ ấy ở những người hay nhóm xã hội khác thì đó mới là công bằng, còn nếu các tỷ lệ đó không có sự tương đương thì đương nhiên sẽ là bất công.

Kinh tế thị trường là hiện tượng kinh tế - xã hội rất phức tạp. Đặc biệt, trong bối cảnh mà xu thế toàn cầu hoá ít nhiều chịu sự khống chế của một số nước lớn như hiện nay, nó lại càng trở nên phức tạp hơn. Xét về phương diện kinh tế, nước ta tiến hành hiện đại hoá xã hội theo hướng tạo dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, nhưng đó không phải là “thị trường tự do” chịu sự điều tiết hoàn toàn bởi “bàn tay vô hình”, mà là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước. Nhưng, cần phải thấy một thực tế là, những nước đi sau như nước ta không thể buộc thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế phải vận hành theo các luật lệ riêng của mình. Hầu hết các quy chế, luật lệ của thị trường quốc tế đều do các nước phát triển hơn quyết định và áp đặt. Trong bối cảnh đó, việc tạo dựng một nền kinh tế thị trường đủ khả năng hội nhập quốc tế là một khó khăn lớn, đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng, chính xác và quyết tâm. Liệu nền kinh tế thị trường ấy có đảm bảo cho phép thực hiện được sự công bằng xã hội với tính cách là một trong những mục tiêu chiến lược tối cao của hiện đại hoá xã hội hay không? Đó là một vấn đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội.

Trước hết, cần  phải khẳng định rằng, nền kinh tế thị trường mà nước ta đang tạo dựng và phát triển có thể đảm bảo thực hiện công bằng xã hội; thậm chí, trong điều kiện trình độ phát triển các lực lượng sản xuất như hiện nay, chỉ duy nhất nền kinh tế đó mới có thể cho phép thực hiện tốt nhất sự công bằng xã hội. Điều này do tính tất yếu khách quan quy định. Mặc dù có những giá trị nhất định, song về lâu dài và trong những điều kiện mới, chúng ta không thể duy trì mãi kiểu công bằng cào bằng như một dạng thức chủ đạo, phổ biến của xã hội. Nó chỉ có thể là dạng thức chủ đạo của thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, khi mà trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn hết sức thấp kém và nhu cầu của con người mới ở mức độ đòi hỏi xã hội đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho mỗi thành viên. Do vậy, việc phân phối đồng đều thức ăn và các tư liệu sinh họat khác là một tất yếu. Xã hội đó không thể có phương thức phân phối nào khác ngoài kiểu phân phối bình quân, vì chỉ như vậy mới có thể duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội. Trước đây, do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh và nhằm đảm bảo thắng lợi của các cuộc kháng chiến vệ quốc cũng như đảm bảo đời sống cho mọi công dân, chúng ta đã chủ động thực hiện nguyên tắc phân phối bình quân. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh kết thúc, việc duy trì quá lâu dạng thức phân phối đó trở nên phản tác dụng và dẫn đến những hậu quả tiêu cực cho xã hội. Đây là một trong những lý do buộc chúng ta phải tiến hành công cuộc đổi mới.

Nước ta cũng chưa thể áp dụng ngay nguyên tắc phân phối theo nhu cầu với tính cách là nguyên tắc chính yếu. Chỉ khi nào các lực lượng sản xuất đã phát triển đến trình độ rất cao và nền kinh tế có đủ khả năng thoả mãn các nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội, lúc đó nguyên tắc phân phối theo nhu cầu mới trở thành dạng thức phân phối chủ đạo trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây còn là mục tiêu rất lâu dài và chỉ trở thành hiện thực khi xã hội ta đạt đến chủ nghĩa cộng sản. Cũng phải nói rằng, ngay cả trong giai đoạn hiện nay, mặc dù 2 nguyên tắc phân phối nói trên không phải là những nguyên tắc chính yếu, chủ đạo của việc thực hiện công bằng xã hội, nhưng chúng vẫn tác động ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác của đời sống kinh tế - xã hội. Thực tiễn lịch sử đã cho thấy, cơ chế thị trường và nền kinh tế thị trường nói chung không tương thích với nguyên tắc phân phối cào bằng hay bình quân. Theo đà phát triển của mình, kinh tế thị trường đang từng bước thủ tiêu nguyên tắc phân phối bình quân. Do đó, có thể nói rằng, kinh tế thị trường đã góp phần xoá bỏ dần tình trạng bất công trong xã hội do sự phân phối bình quân mang lại và đòi hỏi thực hiện một nguyên tắc phân phối khác, công bằng hơn.

Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, nguyên tắc phân phối bình quân vẫn tiếp tục tồn tại một cách tất yếu trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội. Chẳng hạn, nó vẫn tác động trong việc phân phối một số giá trị nền tảng của xã hội như các quyền con người. Trong lĩnh vực này, sự tác động của nó lại đảm bảo tính công bằng cho xã hội. Nền kinh tế thị trường hiện đại, trong bản chất của nó, đang đòi hỏi xã hội phải thực hiện ngày càng đầy đủ và nghiêm chỉnh hơn các quyền cơ bản của con người. Đó là một đòi hỏi tất yếu, bởi nếu xã hội không đảm bảo được những quyền cơ bản của con người thì đó sẽ là một xã hội không ổn định, và đương nhiên, nền kinh tế thị trường cũng không thể phát triển bình thường trong một xã hội không ổn định.

Công bằng xã hội luôn có tính lịch sử, bị quy định bởi hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia. Về phương diện kinh tế, nước ta vẫn nằm trong nhóm các nước nghèo và chậm phát triển của thế giới. Tuy nhiên, chúng ta không những có thể, mà còn cần thực hiện cho được công bằng xã hội ngay khi xã hội chưa giàu có. Không nhất thiết phải giàu có mới thực hiện công bằng; trái lại, càng chưa giàu có, càng nghèo khó lại càng phải thực hiện công bằng, nếu muốn tạo ra bầu không khí hoà thuận, tin yêu lẫn nhau, nếu muốn giữ cho xã hội ổn định(3). Việc thực hiện công bằng xã hội là một trong những ước mơ lâu đời của nhân dân lao động, một nội dung quan trọng của lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Nhân dân ta bao đời đã hy sinh xương máu trong chiến đấu và xây dựng để thiết lập một xã hội công bằng, hạnh phúc. Chính vì vậy, việc xác định một trong những mục tiêu của sự nghiệp cách mạng là xây dựng xã hội công bằng đã thể hiện đúng nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân đồng tình và ủng hộ.

Không ít người vẫn quan niệm rằng, kinh tế thị trường ở nước ta đang tạo nên sự phân hoá giàu nghèo, còn sự phân hoá giàu nghèo là biểu hiện của sự không công bằng trong xã hội. Trong lịch sử xã hội loài người, sự phân hoá giàu nghèo gần như là một hiện tượng vốn có của đời sống xã hội. Con người sinh ra vốn đã khác nhau về năng lực thể chất và tinh thần. Thêm vào đó, sự khác nhau về cơ hội và điều kiện xã hội cũng góp phần tạo nên sự khác biệt về thu nhập được tích tụ dần dần, dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội. Ngay cả trong cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp trước đây, ở các nước xã hội chủ nghĩa, cũng có sự phân hoá giàu nghèo được che dậy dưới các hình thức tinh vi và kín đáo. Khi các lực lượng sản xuất càng phát triển cao, khoa học, kỹ thuật và công nghệ càng phát triển, năng suất lao động càng cao thì tốc độ phân hoá giàu nghèo càng lớn. Các chế độ xã hội, các quốc gia khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của mình mà xử lý việc phân hoá giàu nghèo theo những cách thức riêng.

Kinh tế thị trường không thể thủ tiêu phân hoá giàu nghèo; trái lại, nó là môi trường thuận lợi cho sự phân hoá giàu nghèo phát triển. Do vậy, khi nước ta bắt đầu tạo lập và phát triển kinh tế thị trường, hiện tượng phân hoá giàu nghèo trở thành vấn đề xã hội nổi cộm. Kinh tế thị trường càng phát triển thì sự phân hoá giàu nghèo cũng ngày càng dãn rộng. Trong nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa, như đã nói, có mục tiêu công bằng xã hội. Tương tự như vậy, trong nội dung điều tiết của nhà nước có việc điều tiết sự phân hoá giàu nghèo. Trong những giới hạn nhất định, nhà nước phải tham gia điều tiết sự phân hoá ấy để đảm bảo công bằng xã hội. Dĩ nhiên, ở từng giai đoạn cụ thể của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự điều tiết có những giới hạn xác định. Nếu giới hạn quá “chặt” sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế thị trường; ngược lại, giới hạn quá “lỏng” có thể sẽ đưa đến những hậu quả khó lường cho đời sống kinh tế - xã hội.

Không thể nói rằng, trong nền kinh tế thị trường, phân hoá giàu nghèo là biểu hiện của sự bất công. Nó chỉ là bất công khi sự giàu có đó được tiến hành bằng những thủ đoạn bất hợp pháp và phương thức bất chính. Phân hoá giàu nghèo cũng sẽ là bất công khi do cơ chế quản lý xã hội có nhiều bất cập, để những lợi thế nghề nghiệp, tình trạng độc quyền, sự can thiệp của các cơ quan nhà nước... tạo cơ hội cho một bộ phận nào đó trong xã hội có thu nhập cao hơn mức đóng góp của họ, còn những bộ phận khác - không có lợi thế đó - lại hưởng thu nhập thấp hơn. Sự bất công còn diễn ra khi có một bộ phận dân cư “có nhiều cống hiến khác cho xã hội”, “không chỉ bằng sức lực, của cải, mà cả xương máu của mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước” lại phải sống trong nghèo khó do thiếu sức lao động, trong khi một số khác có ít, thậm chí không có cống hiến như vậy, bây giờ có nhiều sức lao động hơn và trở nên giàu có hơn. Do vậy, nếu việc phân phối chỉ theo lao động hiện đang đóng góp thì “công bằng” lại trở thành “bất công”.

Phải thừa nhận rằng, phân phối theo lao động là công bằng. Tuy nhiên, nước ta đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đang phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện như vậy, thực hiện phân phối theo đóng góp cho xã hội là nguyên tắc phân phối thích hợp nhất, đảm bảo tốt hơn sự công bằng trong xã hội. Đóng góp ở đây có thể là vốn, là trí tuệ, là mồ hôi, xương máu trong chiến tranh giải phóng dân tộc, là những cống hiến khác cho đất nước, cho xã hội (cả trong quá khứ lẫn hiện tại). Nếu không tính đến những điều đó, trong xã hội sẽ có một bộ phận nhân dân vốn đã có nhiều đóng góp cho đất nước, dân tộc, phải chịu không ít thiệt thòi trước đây… nay tiếp tục phải sống trong nghèo khó, trong bất công. Như vậy, chắc chắn sẽ không được nhân dân và xã hội đồng tình(4).

Thực tiễn nước ta đã cho thấy, kinh tế thị trường không thể tự giải quyết được vấn đề phân phối theo đóng góp hay cống hiến. Đây là một trong những yếu điểm của kinh tế thị trường. Chính xuất phát từ đây, một số tác giả đã đi đến kết luận rằng, kinh tế thị trường không có khả năng thực hiện công bằng xã hội. Vấn đề không giản đơn như vậy. Kinh tế thị trường trong sự vận động liên tục của nó làm cho sự phân hoá giàu nghèo ngày càng lớn dần. Sự cạnh tranh trong kinh tế thị trường, một mặt, dẫn đến đào thải, sàng lọc, loại bỏ một cách lạnh lùng, không thương xót những người kém thích nghi, làm ăn không hiệu quả; mặt khác, tạo cơ hội phát đạt cho những người tài giỏi, năng động… Vì thế, trên một phương diện nhất định, kinh tế thị trường cũng góp phần thực hiện sự công bằng xã hội. Nhờ đó, nó thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Đây chính là mặt tích cực của kinh tế thị trường, xét từ góc độ công bằng xã hội.

Tuy nhiên, để giải quyết được vấn đề phân phối theo cống hiến, tức để giải quyết triệt để vấn đề công bằng xã hội, hiện nay, không thể có cách nào khác hơn là sự điều chỉnh từ bên ngoài thị trường. Nhà nước là một trong những yếu tố điều chỉnh có vai trò đặc biệt. Chỉ có thông qua Nhà nước mới có thể thực hiện phân phối theo cống hiến. Như đã nói ở trên, nền kinh tế thị trường của chúng ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được điều tiết bởi Nhà nước xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng lợi ích của nhân dân lao động. Đây là điểm khác biệt rất căn bản giữa nền kinh tế thị trường của nước ta và các nước tư bản chủ nghĩa. Sự điều tiết của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, một mặt, nhằm loại bỏ những thu nhập bất hợp pháp; mặt khác, nhằm giảm bớt những chênh lệch “hợp pháp” do thị trường mang lại nhờ lợi thế nghề nghiệp, độc quyền, v.v.. Đồng thời, quan trọng hơn, sự điều tiết ấy đảm bảo cho tất cả mọi người đều được hưởng thụ đúng theo mức độ mà họ đã cống hiến cho xã hội - điều mà thị trường không thể tự nó làm được.

Một vấn đề căn bản, quan trọng và có ý nghĩa chiến lược trong việc thực hiện mục tiêu công bằng xã hội ở nước ta hiện nay là sự phát triển đồng đều giữa các ngành, vùng, miền. Nó đòi hỏi Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải sử dụng hệ thống công cụ của mình để có sự điều tiết hợp lý về mọi mặt và chỉ có như vậy mới có thể phân phối công bằng các thành quả của sự tăng trưởng và phát triển nói chung. Phân phối công bằng các thành quả của sự phát triển mới đảm bảo sự công bằng đầy đủ, toàn diện và triệt để hơn, trong đó, thu nhập chỉ là một nội dung kinh tế. Phân phối theo cống hiến các thành quả phát triển, đảm bảo cho mọi người có được những điều kiện sống, lao động bình đẳng, là nguyên tắc phân phối công bằng nhất trong giai đoạn đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay. Vấn đề đặt ra là làm sao để tạo ra được tỷ lệ hợp lý, tương xứng giữa cống hiến (đóng góp) và hưởng thụ có tính đến khả năng phát triển. Xác lập tỷ lệ này phù hợp với từng giai đoạn của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nghệ thuật quản lý xã hội của nhà nước. Như vậy, không phải bất cứ nền kinh tế thị trường nào cũng đều có thể giải quyết được vấn đề công bằng xã hội. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước, có thể giải quyết một cách hợp lý vấn đề này.

Một phương diện khác của công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay là vai trò động lực của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Trước hết, có thể thấy là trong cơ chế bao cấp trước đây, nguyên tắc phân phối theo lao động đã không được thực hiện đầy đủ. Việc duy trì kiểu phân phối “cào bằng”, “bình quân chủ nghĩa” trong một thời gian dài đã cản trở sự phát triển của sản xuất, làm cho xã hội rơi vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng. Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, trong xã hội bắt đầu có tình trạng phân hoá giàu nghèo. Nhưng, nếu sự phân hoá giàu nghèo đó là do xuất hiện tầng lớp các hộ gia đình và cá nhân giàu có lên nhờ lao động chính đáng…, thì điều đó chứng tỏ rằng, công bằng xã hội đang được thực hiện một cách khách quan thông qua cơ chế thị trường: ai lao động, cống hiến nhiều và có hiệu quả hơn thì người đó có thu nhập nhiều và trở nên giàu có hơn. Việc công bằng xã hội được thực hiện một cách khách quan như vậy trở thành động lực trực tiếp và đặc biệt quan trọng của tăng trưởng kinh tế. Do vậy, cần phải khai thác tối đa động lực này. Kinh tế thị trường là môi trường thuận lợi cho việc phát huy vai trò động lực của công bằng xã hội.

Trong điều kiện hiện nay, đảm bảo công bằng xã hội và phát huy vai trò động lực của nó cũng có nghĩa là phải tạo cơ chế khuyến khích hơn nữa sự làm giàu chính đáng của nhân dân, chấp nhận “một bộ phận nhân dân giàu trước”. Hiện nay, trong xã hội, một bộ phận cán bộ và nhân dân vẫn còn tư tưởng e ngại sự phân hoá giàu nghèo. Theo chúng tôi, cần phải xoá bỏ tư tưởng đó để không gây ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng kinh tế và việc nâng cao mức sống của xã hội. Điều đáng lo ngại không phải là ở sự phân hoá giàu nghèo do thực hiện triệt để nguyên tắc công bằng xã hội, mà là ở chỗ, khuynh hướng làm giàu bất hợp pháp, bất chính nẩy sinh do những bất cập còn tồn đọng của cơ chế quản lý bao cấp trước đây cũng như những nguyên nhân khác đang gây nên những bức xúc xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. Việc làm giàu bất hợp pháp như vậy là vi phạm nguyên tắc công bằng xã hội, là bất công. Vì vậy, loại bỏ càng sớm tình trạng làm giàu một cách bất chính và sự phân hoá giàu nghèo do nó sinh ra sẽ càng có lợi cho xã hội và cho sự phát triển sản xuất.

Công bằng xã hội phải được thực hiện ngay trong mỗi bước phát triển, song song với tăng trưởng kinh tế. Điều này phải luôn là một mục tiêu tự giác của nhà nước, của tất thảy các cấp, các ngành, các đoàn thể, các địa phương trong cả nước. Có như vậy, công bằng xã hội mới trở thành động lực phát triển của xã hội, trở thành nhân tố đảm bảo sự ổn định xã hội, giúp cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá được đẩy nhanh và có hiệu quả.

Như đã nói ở trên, ngoài nội dung kinh tế, công bằng xã hội còn bao hàm những nội dung khác. Vì vậy, thực hiện công bằng phải được mở rộng cả trong việc phân phối các thành quả khác của phát triển xã hội như văn hoá, giáo dục, y tế, hạ tầng cơ sở, v.v..  Ở đây, nhà nước, chứ không phải là thị trường, đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Về phương diện này, nội dung của công bằng cũng đồng thời là nội dung của bình đẳng. Vì vậy, nhà nước phải là trung tâm điều phối các nguồn lực phát triển một cách hợp lý trên bình diện toàn xã hội. Nếu để mặc kinh tế thị trường tự điều tiết, chắc chắn các vùng, miền, các ngành, nghề có điều kiện thuận lợi sẽ tự động thu hút hết các nguồn lực phát triển, và do vậy, sẽ có tốc độ phát triển nhanh hơn. Ngược lại, những vùng, miền, ngành nghề khác ít có điều kiện và nguồn lực phát triển hơn sẽ ngày càng tụt hậu. Theo đó, phân hoá giàu nghèo trên phạm vi vĩ mô một cách bất công sẽ ngày càng dãn rộng và trở thành nguyên nhân dẫn đến mất ổn định xã hội, ngăn trở sự phát triển và tiến bộ xã hội. Phân phối công bằng các nguồn lực phát triển cho các vùng, miền, ngành, nghề để tạo cơ hội và điều kiện cho con người có thể sống, lao động bình đẳng là sự thể hiện một cách tập trung tính chất định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò quản lý kinh tế thị trường của nhà nước xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu công bằng xã hội.

Dĩ nhiên, trong quá trình đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhà nước không nên và cũng không thể hạn chế tốc độ phát triển của các khu vực có điều kiện phát triển nhanh. Điều chủ yếu là Nhà nước phải thực hiện điều phối các nguồn lực một cách hợp lý để các khu vực ít có điều kiện thuận lợi vẫn có thể có được cơ hội phát triển tốt hơn, khắc phục và ngăn chặn nguy cơ tụt hậu tại những nơi đó, đảm bảo cho mọi khu vực đều được hưởng thụ những cơ hội cũng như thành quả của sự phát triển chung.

Nhà nước cũng phải tích cực và chủ động thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như y tế, giáo dục, văn hoá, v.v.. Hiện nay, thị trường nước ta chưa được hình thành đồng bộ và hoàn chỉnh. Trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, tính chất thương mại hoá theo hướng tiêu cực đang có những dấu hiệu ngày càng gia tăng. Việc đảm bảo cho tất cả mọi người dân có thể được hưởng thụ những thành quả của sự phát triển phải được coi là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng nhất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Có thể nói, tạo cho mọi người có cơ hội như nhau trong hưởng thụ các thành quả phát triển xã hội chính là sự thể hiện cao nhất và sâu sắc nhất của công bằng xã hội. Trong các lĩnh vực xã hội như y tế, giáo dục, văn hoá, phương thức tốt nhất để phân phối công bằng các thành quả của sự phát triển là tạo điều kiện cho mọi thành viên có thể được hưởng thụ theo nhu cầu. Tuy nhiên, việc phân phối không thể vượt quá năng lực sản xuất của xã hội. Thêm vào đó, trong khoảng 10 năm tới, theo nhận định của Báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2001, đói nghèo vẫn là một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển của nước ta. Do đó, chúng ta chưa thể thoả mãn đầy đủ các nhu cầu của nhân dân trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá và việc phân phối theo phương thức nói trên chưa thể thực hiện được.

Như vậy, không thể nói một cách giản đơn rằng, trong nền kinh tế thị trường không thể thực hiện được công bằng xã hội. Trái lại, trong những giới hạn của nó, kinh tế thị trường đã bao hàm việc thực hiện công bằng xã hội. Nhưng, tự nó, kinh tế thị trường không thể thực hiện triệt để và rộng khắp, đầy đủ và toàn diện sự công bằng xã hội. Cũng không nên quan niệm rằng, công bằng xã hội chỉ giản đơn là công bằng trong phân phối của cải vật chất, hay chỉ thuần tuý từ phương diện kinh tế. Công bằng xã hội cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là sự phân phối theo cống hiến các thành quả của sự phát triển kinh tế, xã hội nhằm đảm bảo cho mọi người có được những cơ hội và điều kiện sống, lao động bình đẳng. Chính do vậy, việc thực hiện công bằng xã hội cũng phải được tiến hành bằng nhiều hình thức phân phối khác nhau, cả bên ngoài và bên trong nội dung kinh tế thuần tuý. Công bằng xã hội là một động lực phát triển kinh tế - xã hội, ngay cả trong điều kiện kinh tế thị trường. Với việc xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, yêu cầu thực hiện công bằng xã hội là một tất yếu, vì đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội.r

 


(*) Tiến sĩ khoa học, Trưởng phòng Duy vật lịch sử, Viện Triết học.

(1) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.88.

(2) Xem: Lê Hữu Tầng (Chủ biên), Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội, 1997, tr. 63.

(3) Xem:  Lê Hữu Tầng (chủ biên). Sđd., tr.66.

(4) Xem: Lê Hữu Tầng (chủ biên). Sđd., tr.76 – 80.

Đã xem: 1107
Thời gian đăng: Thứ năm - 04/06/2015 03:33
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất