QC Shop

Đổi mới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Mấy vấn đề lý luận(*)

GS, TS. Lê Hữu Tầng(**)

Nguồn: Triết học, số 5 (132), tháng 5-2002

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam được bắt đầu ngay từ giữa những năm 80 và được triển khai mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực từ đó đến nay. Quá trình đổi mới đã đưa lại nhiều thành tựu to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận quan trọng mà việc giải quyết chúng một cách đúng đắn sẽ là cơ sở lý luận hết sức cần thiết cho việc tiếp tục hoạch định và đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới.

Vấn đề đầu tiên mà chúng tôi vấp phải - đó là phải làm rõ đổi mới để làm gì?

Lời giải đáp cho câu hỏi này khá đơn giản, không có gì phải bàn cãi: chúng tôi đổi mới không phải là để từ bỏ chủ nghĩa xã hội, mà là để có chủ nghĩa xã hội đích thực.

Nhưng thế nào là chủ nghĩa xã hội đích thực? Đến đây thì câu trả lời không còn đơn giản nữa. Liên Xô đã bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội hơn 70 năm và từng tuyên bố đã xây dựng được chủ nghĩa xã hội từ năm 1936. Còn Việt Nam cũng đã bắt tay vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội được hơn 30 năm ở miền Bắc và hơn 10 năm trên phạm vi toàn quốc nếu tính đến thời điểm bắt đầu đổi mới. Thế nhưng, “chủ nghĩa xã hội hiện thực” ấy cùng những sự trì trệ, yếu kém của nó đã buộc chúng tôi phải đặt lại câu hỏi: vậy chủ nghĩa xã hội - cái xã hội mà chúng tôi dự định xây dựng ấy - thực sự phải là một xã hội như thế nào? Nếu không trả lời được câu hỏi này thì sẽ không thể nào xác định được con đường thực sự mà chúng tôi phải đi, những công việc cụ thể mà chúng tôi phải làm để xây dựng được một xã hội như chúng tôi mong muốn. Đó là lý do giải thích vì sao câu hỏi “chủ nghĩa xã hội là gì?” đã thu hút sự chú ý của tất cả những người nghiên cứu khoa học cũng như hoạt động thực tiễn ở đất nước chúng tôi suốt hơn 15 năm qua.

Cho đến nay, trong quan niệm của những người mácxít - lêninit về chủ nghĩa xã hội và về những đặc trưng cụ thể của nó vẫn còn có những điểm khác nhau. Bản thân C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khi đề cập đến nội dung và số lượng các đặc trưng ấy trong các tác phẩm khác nhau của mình cũng nói không hoàn toàn giống nhau. Thậm chí, V.I.Lênin, vào tháng 3 - 1918, lại còn cho rằng, hiện nay chúng ta không thể nêu lên các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, cho nên nêu lên nhiệm vụ đó là không đúng. Mặc dầu vậy, hơn 80 năm qua, những người sau V.I.Lênin vẫn tiếp tục bổ sung thêm vào các quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội đặc trưng này hoặc đặc trưng kia và vẫn tiếp tục hoạch định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội của mình theo hướng cố đạt cho được những đặc trưng cụ thể mà mình tưởng đích thực là của chủ nghĩa xã hội ấy, trong khi sự thực thì những đặc trưng đó chỉ là những cái được các tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đưa ra dưới dạng các tiên đoán, dưới dạng cái sẽ xảy ra chứ không phải cái dứt khoát sẽ xảy ra.

Vậy, nên nhìn nhận về bản chất của chủ nghĩa xã hội và về các đặc trưng đã được dự báo của nó như thế nào?

Nếu phân tích các quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cũng như của những người sau V.I.Lênin về xã hội tương lai với các đặc trưng cụ thể của chủ nghĩa xã hội đã được dự báo, có thể thấy, trong số các quan niệm đó, có quan niệm thì quan tâm nhiều hơn đến các đặc trưng cấu trúc của xã hội tương lai, có quan niệm lại quan tâm nhiều hơn đến các đặc trưng chất lượng của nó, mặc dầu ở chỗ này, chỗ kia, các đặc trưng ấy thường được trình bày xen kẽ nhau.

Nhưng nếu xuất phát từ chỗ coi xã hội cộng sản tương lai, mà giai đoạn thấp của nó là chủ nghĩa xã hội, phải là một xã hội nằm ở nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản thì bất kể trong tình huống nào, đấy cũng phải là một xã hội vừa cao hơn, vừa đẹp hơn chủ nghĩa tư bản, một xã hội vừa có nền kinh tế phát triển cao, vừa không còn tình trạng người bóc lột người; nói cách khác, đó không thể là một xã hội tuy có nền kinh tế phát triển cao hơn nhưng bất bình đẳng xã hội lại lớn hơn, hoặc ngược lại, quan hệ giữa người và người bình đẳng hơn nhưng cuộc sống của con người lại nghèo hơn so với trong chủ nghĩa tư bản. Điều đó có nghĩa là, xã hội cộng sản tương lai phải có đồng thời cả hai đặc trưng: vừa có nền kinh tế phát triển cao hơn, vừa có quan hệ giữa người và người tốt đẹp hơn, bình đẳng hơn so với trong chủ nghĩa tư bản. Riêng trong chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của xã hội cộng sản - sự bình đẳng xã hội ấy cũng chưa thể là một sự bình đẳng hoàn toàn, mà mới chỉ là bình đẳng một phần: bình đẳng trong mối quan hệ giữa lao động và hưởng thụ, theo nguyên tắc: lao động ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau. Nguyên tắc phân phối này, theo C.Mác, trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, là rất công bằng.

Như vậy, ngôi nhà xã hội chủ nghĩa mà chúng ta muốn xây dựng có thể có nhiều đặc trưng, nhưng có hai đặc trưng chất lượng quan trọng nhất mà dứt khoát chúng ta phải đạt đến, đó là vừa giàu có hơn, vừa công bằng hơn so với trong chủ nghĩa tư bản, hay phỏng theo cách nói của Hồ Chí Minh: chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thiếu hai đặc trưng đó không thể có chủ nghĩa xã hội. Trên thực tế, một chủ nghĩa xã hội được quan niệm như vậy cũng chính là mục tiêu mà tất cả những người cộng sản trung thực, chân chính từ trước đến nay trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng, vẫn nỗ lực phấn đấu mong đạt tới.

Song, làm thế nào để xây dựng được một xã hội như vậy? Làm thế nào để đồng thời đạt được cả hai đặc trưng đó? Đây là một trong những câu hỏi hóc búa nhất đối với chúng tôi.

Thực vậy, thực tiễn đổi mới ở đất nước chúng tôi trong những năm qua cho thấy, muốn đạt, dù là một phần, cả hai đặc trưng đó cùng một lúc đòi hỏi phải có một sự độc lập suy nghĩ và sáng tạo rất lớn. Nếu không thì việc đạt mục tiêu này có thể làm triệt tiêu việc thực hiện mục tiêu kia. Chẳng hạn, sự vận động theo cơ chế thị trường ở chúng tôi trong những năm qua đã làm cho nền kinh tế đạt được sự tăng trưởng cao và khá ổn định, nhưng đồng thời lại làm nảy sinh sự phân hoá giàu nghèo. Việc chấp nhận thành phần kinh tế tư bản tư nhân, cho phép doanh nhân được mở rộng sản xuất kinh doanh làm cho sản xuất phát triển, tạo thêm của cải, hàng hoá cho xã hội, nhưng đồng thời lại dẫn đến tình trạng bóc lột. Việc xoá bỏ bao cấp làm cho hoạt động của nhiều xí nghiệp trở nên năng động, nhưng cũng làm không ít xí nghiệp quốc doanh vấp phải khó khăn, thậm chí phá sản, khiến cho hàng loạt công nhân mất việc làm và điều đó, đến lượt mình, lại làm căng thẳng thêm vấn đề việc làm vốn đã khá căng thẳng và làm nảy sinh những vấn đề xã hội. Việc nhấn mạnh đến hạch toán kinh doanh làm cho hoạt động sản xuất ngày càng trở nên có hiệu quả, nhưng đồng thời cũng dẫn đến tình trạng thương mại hoá hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, đặc biệt là văn hoá nghệ thuật, gây nên sự xuống cấp đáng lo ngại trong các lĩnh vực này. Việc nhấn mạnh đến phân phối theo lao động, xoá bỏ bao cấp ở cả thành thị và nông thôn đã kích thích tính tích cực của người lao động, khiến họ hăng hái sản xuất, nhưng đồng thời lại làm giảm thu nhập và do đó, gây nhiều khó khăn cho các gia đình thương binh, liệt sĩ, v.v., vì ở các gia đình ấy thiếu sức lao động. Việc mở rộng kinh tế đối ngoại theo quan điểm mở cửa khiến Việt Nam thu hút được thêm nhiều vốn đầu tư và kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, nhưng đồng thời cũng kéo theo sự du nhập những phong cách sống không thích hợp với phong tục, tập quán cổ truyền đẹp đẽ của dân tộc, v.v..

Tình hình trên đây đã khiến cho bên cạnh việc xác định rõ chủ nghĩa xã hội là gì, việc tìm lời giải đáp cho một câu hỏi khác: “làm thế nào xây dựng được xã hội như vậy?, nhất là lại xây dựng nó từ một xuất phát điểm không phải là chủ nghĩa tư bản, mà là các quan hệ kinh tế - xã hội tiền tư bản chủ nghĩa - lại trở thành chủ đề trung tâm của hoạt động nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn đổi mới ở đất nước chúng tôi.

Trong quá trình đi tìm lời giải đáp có căn cứ khoa học cho câu hỏi then chốt ấy và cho những đổi thay theo mong muốn và cả không theo mong muốn của thực tiễn đổi mới trong hàng chục năm qua như đã nói ở trên, chúng tôi đã buộc phải đụng đến hàng loạt vấn đề lý luận rất cơ bản về chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trước hết, đó là vấn đề có chấp nhận sự bóc lột ở những mức độ nhất định trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hay không? Đây là một vấn đề khá nan giải và gây nhiều tranh cãi, vì mục tiêu của chúng tôi là xây dựng một xã hội không có người bóc lột người, vậy tại sao lại có thể chấp nhận sự bóc lột trong quá trình xây dựng xã hội ấy được?

Trong thời kỳ trước đổi mới, chính từ cách lập luận đó và từ quan niệm sai lầm về thời kỳ quá độ, xem thời kỳ quá độ như một giai đoạn ngắn ngủi, có thể hoàn thành trong quãng một - hai chục năm, chúng tôi đã bằng mọi cách thủ tiêu mọi sự bóc lột dưới bất kỳ hình thức nào của nó. Cách làm ấy hiện nay cho thấy rõ ràng là kém hiệu quả, vì khi thực hiện những chủ trương đó, chúng tôi đã không hiểu rằng, thời kỳ quá độ không phải là một quãng thời gian ngắn ngủi. Ngược lại, thực tế cho thấy đó là một quá trình rất lâu dài, phải trải qua nhiều bước trung gian, quá độ mà ta không thể nào vượt qua chỉ bằng một bước nhảy tức thời. Tình hình khách quan này buộc chúng tôi, trong quá trình đổi mới, không thể xoá bỏ mọi sự bóc lột ngay lập tức, mà phải xoá bỏ dần dần. Điều đó có nghĩa là, trên con đường đi tới chỗ xoá bỏ bóc lột hoàn toàn, chúng tôi buộc phải chấp nhận sự bóc lột ở những mức độ nhất định tuỳ hoàn cảnh cụ thể, khi những quan hệ sản xuất trong đó có mang tính bóc lột vẫn còn có tác dụng tích cực tới sự phát triển của lực lượng sản xuất nhiều hơn là trong trường hợp thủ tiêu chúng.

Khẳng định điều đó hoàn toàn không có nghĩa là chúng tôi từ bỏ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ bỏ cuộc đấu tranh để giải phóng con người khỏi mọi áp bức bóc lột, mà chính là khẳng định một phương thức làm khác để đạt tới mục tiêu ấy hiện thực hơn và phù hợp hơn với các quy luật phát triển khách quan của sự vật chứ không phải chủ quan, duy ý chí, và do đó, không tưởng như trước.

Thứ hai, đúng là mục tiêu của chúng tôi là xây dựng một xã hội không còn người bóc lột người, một xã hội trong đó mọi người hoàn toàn bình đẳng. Nhưng trong quá trình xây dựng xã hội ấy, liệu có thể chấp nhận sự bất bình đẳng ở những mức độ nhất định giữa người với người hay không? Đây lại là một câu hỏi đau đầu nữa mà thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội đang buộc chúng tôi phải giải đáp.

Trước đây, do quan niệm sai lầm về thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng nhất nó với bản thân chủ nghĩa xã hội, thêm nữa, do quan niệm sai lầm về chính chủ nghĩa xã hội, cho rằng trong chủ nghĩa xã hội đã có sự bình đẳng hoàn toàn giữa người với người về mọi phương diện, chúng tôi đã tìm mọi cách thực hiện sự bình đẳng ngay lập tức, trước hết là trong lĩnh vực phân phối, bằng một phương thức phân phối về thực chất là bình quân. Với cách làm đó, chúng tôi tưởng rằng đã đặt được mọi người vào vị trí ngang nhau, bình đẳng với nhau trong xã hội. Song chúng tôi đã lầm, vì như C.Mác đã từng phân tích rất rõ trong "Phê phán Cương lĩnh Gôta", ngay trong chủ nghĩa xã hội cũng chưa thể có sự bình đẳng hoàn toàn chứ đừng nói đến trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, thực hiện sự bình đẳng hoàn toàn giữa người với người trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội chỉ là một ảo tưởng. Sự bình đẳng hoàn toàn ấy chỉ có thể có được qua một quá trình đấu tranh rất lâu dài để xoá bỏ dần sự bất bình đẳng trong xã hội, chứ không thể xoá bỏ ngay lập tức. Nói cách khác, trên con đường tiến tới thủ tiêu hoàn toàn mọi sự bất bình đẳng, chúng tôi lại buộc phải chấp nhận sự bất bình đẳng ở những mức độ nhất định. Biện chứng của sự vật là như vậy và chúng ta buộc phải tuân theo nó chứ không thể khác.

Ở đây, thường có sự lầm lẫn giữa "bình đẳng xã hội" và "công bằng xã hội". Tuy rất gần nhau nhưng đó là hai khái niệm vừa có những điểm thống nhất, vừa có những điểm khác biệt. Sự thống nhất và khác biệt ấy là ở chỗ nói tới bình đẳng xã hội là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người về một (hoặc một vài) phương diện xã hội nào đó, chẳng hạn, về kinh tế, chính trị, văn hóa, v.v., còn nói đến công bằng xã hội là nói đến sự ngang bằng nhau giữa người với người không phải về mọi phương diện, cũng không phải về một phương diện nào đó bất kỳ, mà chính là về một phương diện hoàn toàn xác định: về phương diện quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc: cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau.

Trong chủ nghĩa xã hội, công bằng xã hội được thể hiện trong nguyên tắc phân phối theo lao động. Đây là một nguyên tắc phân phối rất công bằng. Mặc dầu vậy, trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, sự phân phối công bằng đó chẳng những chưa loại trừ được, mà vẫn còn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã hội, vì với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội, thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia, v.v.. Đó vừa là ưu việt, vừa là thiếu sót của nguyên tắc phân phối theo lao động - một thiếu sót, theo C. Mác, là không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa(1).

Còn trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, tức là thời kỳ nằm ở nấc thang phát triển thấp hơn so với chủ nghĩa xã hội, thời kỳ mà ở đó còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế với nhiều loại hình sở hữu khác nhau, sự công bằng xã hội được thể hiện trong nguyên tắc phân phối theo cống hiến: cống hiến ngang nhau (cả về lao động, vốn liếng cùng các đóng góp khác) cho sản xuất kinh doanh thì hưởng thụ ngang nhau.

Nếu trong chủ nghĩa xã hội, việc thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động đã hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng xã hội nhất định thì trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, việc thực hiện nguyên tắc phân phối theo cống hiến như đã nói ở trên lại càng hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng xã hội lớn hơn. Tuy nhiên, như thực tiễn đổi mới ở Việt Nam hơn 15 năm qua đã cho thấy, chính việc thực hiện nguyên tắc phân phối công bằng này đã có tác dụng cuốn hút mọi người hăng hái đóng góp công sức của mình vào sản xuất kinh doanh và nhờ đó, dẫn đến tăng trưởng kinh tế, mặc dầu việc thực hiện các nguyên tắc phân phối công bằng ấy chưa dẫn đến sự bình đẳng xã hội. Tuy vậy, ta có thể xem việc thực hiện nguyên tác phân phối theo cống hiến như một bước trên con đường tiến tới thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, còn việc thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động lại là một bước trên con đường tiến tới thực hiện sự bình đẳng xã hội hoàn toàn. Vì vậy, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong các chủ trương, chính sách cụ thể của mình, chúng ta không những có thể, mà còn cần phải thực hiện cho được công bằng xã hội theo các nguyên tắc như đã nêu trên, nhưng không nên nghĩ rằng, bằng cách đó, chúng ta đã có thể thực hiện được sự bình đẳng xã hội. Khẳng định điều ấy hoàn toàn không có nghĩa là chúng tôi từ bỏ cuộc đấu tranh vì sự bình đẳng hoàn toàn giữa người với người, mà ngược lại, chính là nhằm thực sự đạt đến mục tiêu ấy bằng những con đường hiện thực hơn.

Thứ ba, từ hai khẳng định trên đây, tất yếu dẫn đến khẳng định thứ ba, theo đó, đúng là mục tiêu của chúng tôi là xây dựng một xã hội nằm ở nấc thang phát triển cao hơn và đẹp hơn chủ nghĩa tư bản, nhưng trình độ phát triển cao hơn và đẹp hơn ấy không thể đạt được bằng một bước nhảy tức thời từ trạng thái tiền tư bản lên thẳng chủ nghĩa xã hội, mà chỉ có thể đạt được dần dần. Điều đó có nghĩa là, trên con đường tiến tới chỗ xây dựng được chủ nghĩa xã hội, chúng tôi lại buộc phải chấp nhận sự phát triển của các quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa ở những mức độ nhất định nhằm tạo những điều kiện mà hiện nay còn rất cần thiết cho sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, hay nói như V.I.Lênin, chúng tôi "phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên"(2).

Chính trên tinh thần ấy, qua kinh nghiệm của hơn 15 năm đổi mới của mình, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (họp vào tháng 4 năm 2001) đã khẳng định: con đường đi lên của Việt Nam là con đường "phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị (chúng tôi nhấn mạnh - L.H.T) của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại"(3).

Trên con đường phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản làm phương tiện, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên ấy, chúng tôi phải tìm mọi cách để đồng thời đạt được đặc trưng chất lượng thứ hai của xã hội tương lai: đó là thực hiện được công bằng và bình đẳng xã hội.

Trong quá trình phấn đấu để đạt mục tiêu vừa nói, Nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Đó là vì khi chuyển nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường, chúng tôi thúc đẩy được sự tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường, với sự phát triển tự phát của nó, cũng kéo theo nhiều hiện tượng tiêu cực khác. Việc khắc phục những hậu quả tiêu cực ấy không thể trông chờ ở bản thân cơ chế thị trường, mà phải nhờ đến sự điều chỉnh được thực hiện từ bên ngoài nó, trước hết từ phía Nhà nước. Không ai có thể thay thế Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong vai trò điều khiển nền kinh tế vận động theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có việc phải điều tiết thu nhập để san lấp bớt khoảng cách giữa công bằng và bất công, giữa bình đẳng và bất bình đẳng. Về phương diện này, chúng tôi có thuận lợi là có một Nhà nước mà ngay từ khi ra đời đã lấy mục tiêu thiết lập sự bình đẳng, công bằng cho mọi thành viên trong xã hội làm lẽ tồn tại của mình.

Hiện nay, cùng với những chính sách tận dụng những mặt tích cực của cơ chế thị trường nhằm đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế, chúng tôi cũng đang tìm mọi biện pháp thích hợp nhằm loại trừ những thu nhập bất hợp pháp, đồng thời điều tiết những thu nhập hợp pháp giữa các nhóm dân cư khác nhau làm giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo hiện đã xuất hiện và đang tăng dần trong xã hội. Trong số các công cụ mà Nhà nước có trong tay để làm việc này, quan trọng nhất là các chính sách thuếđiều tiết ngân sách. Nếu chính sách thuế có thể được dùng chủ yếu để điều tiết bớt thu nhập cao của người giàu thì ngân sách nhà nước, dưới nhiều hình thức chi khác nhau, lại có thể hướng vào chỗ chủ động hỗ trợ về mặt tài chính cho người nghèo, hỗ trợ không phải dưới dạng cho không, mà dưới dạng giúp họ giảm bớt một phần khó khăn, có thêm điều kiện để tự cải thiện cuộc sống của mình. Điều quan trọng ở đây là, chúng tôi đang cố gắng đề xuất và thực hiện các chính sách điều tiết đó theo hướng sao cho chúng không biến thành phương tiện để cào bằng, không trở thành chỗ dựa cho những kẻ lười nhác, ăn bám xã hội, mà ngược lại, trong khi thực hiện chức năng hỗ trợ cho người nghèo, san lấp bớt khoảng cách giữa họ và người giàu, chúng đồng thời không được làm triệt tiêu mất động lực cuốn hút mọi người lao vào sản xuất và thông qua đó, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế.

Cuối cùng, một vấn đề không kém phần quan trọng nữa mà Đảng và Nhà nước chúng tôi đặt ra trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải thực hiện cho được mục tiêu “Tất cả vì hạnh phúc của con người”, phải “lấy phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động”. Nhưng con người được nói tới ở đây là con người nào: con người trong tương lai hay con người trong hiện tại?

Ngay từ thời kỳ trước đổi mới, chúng tôi đã đặt cho mình mục đích là phải xây dựng cho được một xã hội tốt đẹp trong tương lai. Nhưng chúng tôi đã lầm khi nghĩ rằng, đó sẽ là một tương lai gần và do đó, đã kêu gọi và đã cố thực hiện khẩu hiệu "Hãy thắt lưng buộc bụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội"!. Hành động theo tinh thần đó, chúng tôi đã vì những lợi ích của tương lai xa xôi mà quên mất lợi ích hiện tại gần gũi của con người, đã vì viễn cảnh của cuộc sống sung sướng mai sau mà không chú ý thích đáng đến việc phải đáp ứng những nhu cầu bức thiết trước mắt của quảng đại quần chúng. Chính theo tinh thần đó, trong những năm trước đổi mới, chúng tôi đã ra sức chăm lo xây dựng các cơ sở vật chất - kỹ thuật to tát của chủ nghĩa xã hội mai sau nhưng lại không chú ý thích đáng đến việc chăm lo cho bản thân người lao động hiện đang xây dựng chủ nghĩa xã hội mai sau ấy. Chúng tôi đã xem tiền lương là yếu tố tiêu dùng và vì là yếu tố tiêu dùng nên với tinh thần “thắt lưng buộc bụng”, chúng tôi đã chủ trương “còn chừng nào dùng chừng ấy”! Trong khi đó, tiền lương, như chúng ta biết, là một bộ phận cấu thành của tư bản sản xuất. Điều đó có nghĩa là tiền lương chính là yếu tố của quá trình sản xuất và do đó, cần trả lương cho người lao động sao cho họ có thể tái sản xuất được sức lao động của mình. Ngày nay, khẳng định điều trên đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng, chăm lo đến con người, đến lợi ích chính đáng của họ cũng chính là chăm lo đến sản xuất. Ngược lại, sự phát triển của sản xuất lại tạo ra điều kiện để thoả mãn tốt hơn những nhu cầu của con người. Do vậy, không nên nghĩ một cách giản đơn rằng, chỉ sau khi đã tạo ra được sự dư thừa của cải thì bấy giờ mới có điều kiện để đảm bảo hạnh phúc cho con người, mà ngược lại, phải nghĩ rằng, để có thể tạo ra được sự dư thừa của cải lại cần chăm lo trước hết đến việc đáp ứng những nhu cầu của con người. Chính vì tương lai mà phải chăm lo đến hiện tại chứ không phải vì tương lai mà lại hy sinh lợi ích của con người trong hiện tại. Hãy để cho người lao động được hưởng ngay trong hiện tại một phần thành quả lao động của họ trên con đường đi xây dựng tương lai. Đó là con đường duy nhất đúng dẫn đến sự xây dựng thành công tương lai đẹp đẽ ấy. Không phải ngẫu nhiên, từ giữa những năm 80 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đặc biệt quan tâm chăm lo đến con người, luôn luôn lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động của mình. Việc chỉ số phát triển con người (HDI)(4) của Việt Nam trong những năm gần đây tăng nhanh (từ thứ 121 năm 1990 lên thứ 101 năm 2000 trong số 174 nước) là một minh chứng cho hiệu quả của sự quan tâm đó.

Cho đến nay, sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đã triển khai được 15 năm và đã đạt nhiều thành tựu to lớn. Những thành tựu to lớn ấy là kết quả của đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo - một đường lối đã kết hợp được một cách nhuần nhuyễn tính năng động chủ quan với biện chứng phát triển khách quan trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chắc chắn rằng, đi theo đường lối đổi mới ấy mà bước phát triển mới của nó là các Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam sẽ còn tiếp tục đạt được những thành tựu lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

 


(*) Bài đã đăng trên Tạp chí "Thứ hai" (của Bungari),  số 11-12, 2001.

(**) Giáo sư, tiến sĩ triết học, Phó giám đốc Trung tâm Khoa học Xã hội  và Nhân văn Quốc gia.

(1) Xem: C. Mác và Ph. Ăngghen. Toàn tập, t.19. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 35-36.

(2) V.I. Lênin. Toàn tập, t.43. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 276.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 84.

(4) HDI là chỉ số phát triển con người. Thành phần để tính HDI bao gồm: a) Tuổi thọ bình quân của cả nước; b) chỉ số phát triển giáo dục: c) tổng sản phẩm trong nước tính theo đầu người có tính cả sức mua tương đương (PPP).

 

 

Đã xem: 1397
Thời gian đăng: Thứ tư - 04/02/2015 02:42
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất