QC Shop

Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa sự lựa chọn đúng đắn đường lối phát triển của Việt Nam

Trần Nguyên Việt(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 7 (158), tháng 7 - 2004

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Chúng ta đều biết, khi hệ thống chủ nghĩa xã hội lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng, hầu hết các nước trong hệ thống này đã bước vào thời kỳ cải tổ, đổi mới. Nhưng cách thức tiến hành cải tổ đổi mới lại không giống nhau. Có nước lựa chọn con đường mà họ gọi là “chủ nghĩa xã hội dân chủ”, có nước theo mô hình Thuỵ Điển, có nước lựa chọn con đường phát triển của các nước phương Tây, có nước không theo một mô hình cụ thể nào cả. Mỗi nước đều có con đường phát triển của riêng mình. Chẳng hạn, ở nước Nga khi đó, phương án mà họ lựa chọn, như Voiecốp nhận định, mới chỉ có “trong đầu óc của giới trí thức” – phương án lựa chọn  giữa ba chiến lược phát triển kinh tế – xã hội như sau: thứ nhất, chủ nghĩa xã hội nhà nước từng có trước đây nhưng hiện đã sụp đổ; thứ hai, chủ nghĩa tư bản tự do mà dường như đang có mặt ở Nga như một sự quái gở và ít phù hợp  với quan niệm của chủ nghĩa tự do văn minh; và thứ ba, con đường được đại đa số quần chúng nhân dân tán thành - tổng hợp những gì được gọi là ưu việt của hai đường lối nói trên(1).

Là một nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với hoàn cảnh đặc biệt của một nước nông nghiệp lạc hậu, lại chịu hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh kéo dài và trước xu thế phát triển của thế giới, Việt Nam đã lựa chọn con đường phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm nắm bắt những cơ hội có thể có để có thể phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, lấy tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu nhưng phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Với chiến lược phát triển đó, Đảng ta chủ trương phát huy sức mạnh toàn dân tộc, kết hợp nó với sức mạnh của thời đại, phát huy những  lợi thế của đất nước, tiếp thu và sử dụng có hiệu quả những thành tựu  khoa học và công nghệ hiện đại để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đường lối tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã được Đảng ta xác định rõ tại các Đại hội VII và VIII. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, đường lối này lại tiếp tục được khẳng định một cách thể hơn: “Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tin học và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức độ cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đạo tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”(2).

Có thể nói, về thực chất, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Việt Nam hiện nay là một cuộc cách mạng về kinh tế, khoa học, công nghệ, văn hoá và mang ý nghĩa chính trị cực kỳ sâu sắc. Chỉ đi theo con đường cách mạng này, Việt Nam mới có thể thoát khỏi nghèo đói và tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhận thức rõ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của tất cả các thành phần kinh tế, trong đó “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”, Đảng ta đã nhận định, đó là “một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, đòi hỏi phải đầu tư rất nhiều trí tuệ, sức người, sức của. Chỉ có huy động sức mạnh và khả năng sáng tạo to lớn của toàn dân, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý, điều hành có hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước thì mới bảo đảm thắng lợi”(3).

Cơ hội để cuộc cách mạng này đi tới thành công chính là những thành quả phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ thế giới, các quan hệ kinh tế toàn cầu và sự giao lưu trên nhiều bình diện của cuộc sống. Đó là điều kiện cần, thậm chí rất cần, nhưng chưa phải là đủ để Việt Nam có “những bước nhảy vọt” trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Để có “những bước tiến nhảy vọt”, chúng ta còn phải cần đến sức mạnh của cả dân tộc với tinh thần đại đoàn kết toàn dân; ý chí độc lập tự chủ và không chịu thua kém bè bạn của con người Việt Nam; nguồn lực lao động dồi dào và căn bản là sự lựa chọn đường lối phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sức mạnh dân tộc đó được biểu hiện rõ nhất trong hệ thống các giá trị truyền thống Việt Nam như một tài sản vô giá, không ngừng được bồi đắp trong tiến trình lịch sử dân tộc. Nói về vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển, Giáo sư Nguyễn Trọng Chuẩn đã nhận định một cách chính xác rằng, cái cốt lõi trong hệ thống các giá trị truyền thống Việt Nam “hoàn toàn bắt nguồn từ nền tảng của dân tộc, từ truyền thống hàng nghìn năm kiên trì chịu đựng gian khổ, khó khăn và vượt qua một cách oanh  liệt các tác động khắc nghiệt khác nhau của tự nhiên và xã hội. Trong số những truyền thống vô cùng quý giá như tinh thần yêu nước, truyền thống cộng đồng; truyền thống dân chủ làng xã, quý trọng gia đình; truyền thống dung dị; chất phác, tiết kiệm, ghét thói phù phiếm xa hoa; truyền thống cần cù chịu đựng gian khổ, yêu trẻ, kính già, vị tha, bao dung; truyền thống hiếu học, ứng xử linh hoạt, thích nghi nhanh và dễ dàng hội nhập để tồn tại, v.v. thì nổi trội hơn cả là truyền thống yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí tự lập tự cường”(4).

Với tư cách là cội nguồn, là cơ sở của hàng loạt các giá trị khác trong hệ thống giá trị truyền thống, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hun đúc bởi tinh thần đoàn kết cộng đồng - một yếu tố không thể thiếu được trong việc ổn định chính trị và phát triển đất nước. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tinh thần đại đoàn kết toàn dân đã được các vương triều đặc biệt đề cao mỗi khi vận mệnh của đất nước bị đe doạ bởi các thế lực xâm lược từ bên ngoài. Chẳng hạn, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã căn dặn vua Trần Anh Tông rằng, nếu “vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước dồn sức lại mà bọn chúng đành phải chịu trói…”(5).

Thực vậy, nhờ có tinh thần đồng lòng, tinh thần đại đoàn kết toàn dân mà Việt Nam đã vượt qua muôn vàn thử thách trong lịch sử chống giặc ngoại xâm. Tuy nhiên, trong điều kiện hoà bình thì tinh thần đó cần được tiếp tục duy trì và phát huy để ổn định xã hội. Trong những năm vừa qua, trước sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hiện thực, nếu xã hội Việt Nam không có sự ổn định về mặt chính trị thì đất nước có thể gặp phải những biến động khó lường. Điều đó cho thấy, mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội trên nguyên tắc bình đẳng, công bằng, dân chủ và văn minh được biểu hiện như là yếu tố tất yếu của sự phát triển.

Ổn định chính trị phải đi đôi với việc bảo đảm dân chủ cho nhân dân. Dân chủ là điều kiện cần để ổn định chính trị, song chưa đủ. Để có ổn định chính trị, chính quyền nhà nước vừa phải thường xuyên mở rộng dân chủ theo từng cấp chính quyền mà nó quản lý, vừa phải tăng cường theo dõi, kiểm soát các thế lực cực đoan và phản động luôn dựa vào chiêu bài dân chủ để chống phá sự ổn định chính trị của chúng ta. Chính vì vậy, việc tham khảo những thành quả mà phong trào dân chủ thế giới đã đạt được, kết hợp với những điều kiện của đất nước để thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới là vấn đề mang tính biện chứng sâu sắc.

Để nhân dân hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình đối với đất nước, trước hết chúng ta cần phải làm cho họ hiểu thế nào là quyền của con người trong một đất nước có chủ quyền, độc lập và tự do. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, các nhà tư tưởng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX tuy lấy tư tưởng “Tam dân” của Tôn Trung Sơn làm mục đích phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của mình, tuy đã nhận thức được việc cấp bách là “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, họ lại không chú ý đến truyền thống yêu nước, tinh thần cố kết cộng đồng của nhân dân ta. Phan Bội Châu chỉ biết dựa vào tầng lớp trí thức nho sĩ đang nhận thấy cái vỏ bọc tư tưởng chính thống trở nên lỗi thời và “xơ cứng”, song không dễ gì thoát khỏi nó được bởi tính bảo thủ; Phan Chu Trinh thì đi ngược lại với tinh thần yêu nước, tự lực tự cường của dân tộc, chỉ biết dựa vào thế lực đế quốc thực dân vốn tham tàn đối với các nước thuộc địa. Chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có nhận thức sâu sắc về vai trò và tác dụng của tinh thần yêu nước, tinh thần cố kết cộng đồng và tinh thần độc lập tự chủ trong đấu tranh giành độc lập dân tộc. Và, khi xem đó là yếu tố nội sinh, mang tính quyết định trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh khẳng định: “Cũng như trong thời kỳ kháng chiến, phương châm của ta hiện nay là: tự lực cánh sinh là chính, việc các nước bạn giúp ta là phụ”(6).

Thành quả tiến bộ mà nhân loại đã có được trong thế giới hiện đại là những yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển của Việt Nam, song chúng chỉ có thể phát huy được tác dụng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay khi những yếu tố đó được chuyển hoá thành những yếu tố nội sinh, nội lực. Sự chuyển hóa đó phụ thuộc phần lớn vào khả năng của chủ thể tiếp nhận, tức là khả năng độc lập, tự chủ về tinh thần (trí lực) và vật chất.

Nếu trong đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh gọi các thế lực ngoại xâm, phản dân, hại nước là “giặc”, thì trong điều kiện xây dựng đất nước, Người xem sự dốt nát, kém cỏi “không sánh được với các cường quốc năm châu” cũng là giặc. Với quan niệm này, Người kêu gọi nhân dân ta ra sức học tập, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá để thâm nhập và tiếp thu trình độ tri thức nhân loại. Theo Người, dù có tinh thần yêu nước, đoàn kết toàn dân đến đâu, nếu khoảng cách tri thức của một dân tộc bị tụt hậu quá xa với tri thức hiện đại của toàn nhân loại thì dân tộc đó còn lâu mới thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu. Có tri thức, có trình độ khoa học, kỹ thuật tiên tiến mới có thể thực hiện được sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mặt khác, nhờ có tri thức, con người mới nhận rõ bản thân mình đang ở trình độ nào trong chỉnh thể văn minh nhân loại, để biết lo, biết phấn đấu sao cho không bị tụt hậu bằng chính nội lực của mình.

Chính vì vậy, để khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chúng ta cần phải có những chủ thể sáng tạo và ứng dụng hiệu quả các thành quả của động lực đó. Ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến con người với tư cách là nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Là một nước có dân số hơn tám mươi triệu người với mặt bằng trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật khá cao so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, song để sử dụng nó một cách có hiệu quả cho sự phát triển bền vững thì Việt Nam cần phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực một cách hợp lý. Không có con đường nào khác, để chiến lược này được thực hiện, ngoài sự nghiệp giáo dục và đào tạo theo hai hướng cơ bản là: một mặt, nâng cao mặt bằng dân trí bằng phổ cập giáo dục cho toàn xã hội một cách toàn diện; mặt khác, phát triển giáo dục bậc cao để làm chủ tri thức của thời đại mới.

Mặc dù nguồn nhân lực của Việt Nam được xem là dồi dào về mặt số lượng, song chất lượng lao động chưa thể đáp ứng được yêu cầu của một xã hội công nghiệp. Một số nước công nghiệp mới (NICs) cần lao động có tay nghề cao khi đến thị trường lao động Việt Nam đành chịu bó tay, mặc dù xuất khẩu lao động tại thời điểm hiện nay, khi nền công nghiệp nước nhà chưa phát triển, là giải pháp cần thiết để giải quyết vấn đề xã hội bức xúc là việc làm. Cho nên, nhiệm vụ cấp bách hiện nay của sự nghiệp giáo dục - đào tạo là làm thế nào để khắc phục sự mất cân đối trong giáo dục, để cơ cấu, trình độ hiện có của người lao động phù hợp với cơ cấu ngành nghề đang có xu hướng phát triển mạnh ở trong nước cũng như nhu cầu thị trường lao động ở nước ngoài. Nói như vậy không có nghĩa là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho nước khác, trong khi chúng ta cũng đang cần đến chính nguồn nhân lực ấy để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vấn đề là ở chỗ, lợi ích của giải pháp xuất khẩu lao động không chỉ thể hiện ở việc giải quyết vấn đề xã hội của đất nước tại thời điểm hiện nay, mà còn về lâu dài, Việt Nam cần những người thợ giỏi, có kinh nghiệm làm việc ở các nước công nghiệp tiên tiến.

Một yếu tố quan trọng cấu thành sức mạnh dân tộc của Việt Nam hiện nay là sự lựa chọn đường lối phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây cũng chính là con đường mà Hồ Chí Minh đã chọn, bởi theo Người, “chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới chân chính, xoá bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”(7). Niềm tin đó kết hợp với lòng yêu nước, tinh thần yêu thương nhân loại đã giúp cho Hồ Chí Minh tìm thấy con đường đi của đất nước - đó là chủ nghĩa xã hội.

Kiên trì thực hiện con đường xã hội chủ nghĩa đó trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn giữ vững chủ trương kế  thừa truyền thống quý báu của dân tộc, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân và coi đó là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với đường lối này, trong nhiều năm qua, Đảng ta đã ra sức thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, các thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu; gắn kết mọi thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, dù đó là người sống ở trong nước hay đang sống ở nước ngoài. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, Đảng ta đã lấy việc phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ  vững độc lập dân tộc, thống nhất, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng; đồng thời tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai. Chính vì vậy, khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không những được củng cố vững chắc, mà hơn nữa, còn ngày càng được phát triển sâu rộng trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức, gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện dân chủ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế văn hoá, xã hội ở tất các các cấp, các ngành.

Là một nước có nền văn hiến lâu đời và truyền thống nhân văn cao cả, Việt Nam hoàn toàn có thể lấy đó làm nội lực tinh thần để vững tin bước vào thiên niên kỷ mới. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, truyền thống nhân văn đó đang đứng trước nhiều thách thức của thời đại, song về cơ bản, có thể nói, nó dễ dàng hội nhập vào dòng chảy của thời đại, tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh nhân loại để ngày càng trở nên phong phú hơn, cao cả hơn. Tuy nhiên, điều đó chỉ diễn ra một cách thực sự có hiệu quả, không làm cho chúng ta đến  chỗ trở thành “cái bóng mờ” của người khác, của dân tộc khác khi dân tộc Việt Nam biết kết hợp hài hoà sức mạnh truyền thống của mình với sức mạnh của thời đại - sự tiến bộ của nhân loại được biểu hiện qua các giá trị nhân văn và khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở  chủ động hội nhập quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tổng kết 15 năm đổi mới (1986 – 2000), tại Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định bốn bài học kinh nghiệm chủ yếu của sự nghiệp đổi mới, trong đó, bài học kinh nghiệm thứ ba là: “Đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”. Tiếp tục công cuộc đổi mới khi cách mạng khoa học – công nghệ trên thế giới đang phát triển với tốc độ vũ bão, toàn cầu hoá kinh tế trở thành xu thế khách quan và đang có ảnh hưởng đến cuộc sống của các dân tộc, cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội đang diễn ra sôi nổi, chúng ta cần phải ra sức tranh thủ tối đa cơ hội tốt do chúng tạo ra. Đồng thời, sử dụng tối đa “thế và lực” mà chúng ta có được qua gần 20 năm đổi mới – cơ  sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường; đất nước còn nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên, lao động; nhân dân ta có phẩm chất tốt đẹp; tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định…, làm cơ sở nền tảng để “tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực”(8).

Như vậy, có thể nói kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tư cách đường lối phát triển trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn.

 


(*) Tiến sĩ triết học, Trưởng phòng Triết học Việt Nam, Viện Triết học.

 (1) Xem: M.I Voiecốp. Tranh luận về chủ nghĩa xã hội. Mátxcơva, 1999, tr. 53 (tiếng Nga).

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 91.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VII. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 6.

(4) Nguyễn Trọng Chuẩn. Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển. Trong: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam – lý luận và thực tiễn. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.349.

(5) Thơ văn Lý Trần, t. 2. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, tr. 398.

(6) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t. 8. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 30.

(7) Hồ Chí Minh.  Sđd., t.1, tr. 461.

(8) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Sđd., tr. 14 -15.

Đã xem: 1346
Thời gian đăng: Thứ bảy - 29/08/2015 00:15
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất