QC Shop

Những nhận thức lý luận mới về dân chủ qua 20 năm đổi mới và trong Văn kiện Đại hội X của Đảng

Hoàng Chí Bảo(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 10 (197), tháng 10 - 2007

Để làm rõ những nhận thức lý luận mới về dân chủ được hình thành từ thực tiễn 20 năm đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và trong các Văn kiện Đại hội X của Đảng, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải những vấn đề, những điểm mới, như: Dân chủ hoá mọi lĩnh vực của đời sống để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách mục tiêu và động lực của đổi mới; dân chủ trong hệ mục tiêu của đổi mới và phát triển; dân chủ trong Đảng và dân chủ trong xã hội theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và nền hành chính công minh bạch; tư vấn, phản biện và giám sát xã hội của dân và các tổ chức của dân đối với Đảng, Nhà nước với tư cách con đường, phương thức phát triển dân chủ trên cơ sở đổi mới hệ thống chính trị.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

1. Nhận thức lý luận mới về dân chủ hình thành từ thực tiễn đổi mới

Đại hội X của Đảng đã tiến hành tổng kết lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), vạch ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm tới (2006 - 2010), hướng tới tầm nhìn năm 2020 khi nước ta trở thành một nước công nghiệp.

Những văn kiện quan trọng được Đại hội thông qua thể hiện một quyết tâm chính trị lớn của toàn Đảng, toàn dân: "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển".

Quyết định quan trọng này có sức cổ vũ rất to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, kể cả cộng đồng người Việt Nam đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài.

Bạn bè quốc tế đánh giá cao những thành tựu đổi mới của Việt Nam và quan tâm theo dõi những tổng kết lý luận - thực tiễn của Đảng ta qua 20 năm đổi mới.

Nghiên cứu Văn kiện Đại hội X có thể nhận thấy những nhận thức lý luận mới của Đảng được hình thành và phát triển từ thực tiễn, qua tổng kết thực tiễn một chặng đường đổi mới 20 năm.

Thực hành dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị hướng theo mục tiêu xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, làm cho dân chủ thực sự trở thành mục tiêuđộng lực của đổi mới, của tiến bộ và phát triển ở nước ta là một trong những nhận thức lý luận mới, phản ánh sự trưởng thành về trình độ tư duy lý luận của Đảng với tư cách một Đảng cầm quyền. Điều nói trên có ý nghĩa to lớn cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.

Về mặt lý luận, những quan điểm, tư tưởng của Đảng về dân chủ và hệ thống chính trị được nêu lên trong Văn kiện Đại hội X lần này cho thấy, Đảng ta nhất quán và vận dụng sáng tạo tư tưởng về dân chủ và xây dựng chế độ dân chủ trong di sản kinh điển Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi chúng ta đi vào kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác song phương và đa phương với các nước trên thế giới, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

Về mặt thực tiễn, những nhận thức lý luận mới về dân chủ, những giải pháp, biện pháp thực hành dân chủ ở nước ta không phải là kết quả của những suy lý chủ quan, tư biện hoặc những giáo điều, áp dụng  máy móc mô hình dân chủ của nước ngoài vào Việt Nam mà trái lại, bắt nguồn từ chính thực tiễn cuộc sống của người dân, từ thực tiễn đổi mới ở nước ta hơn hai thập kỷ nay.

Đổi mới ở Việt Nam, đặc biệt là đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị (đổi mới hệ thống chính trị) chẳng những đòi hỏi sự phát triển dân chủ, thực hành dân chủ, nhất là ở cơ sở vì lợi ích và quyền lực của chính người dân, mà còn tạo ra những tiền đề, điều kiện thúc đẩy dân chủ, nâng cao ý thức dân chủ và rèn luyện năng lực thực hành dân chủ ở mọi đối tượng xã hội, từ người dân đến nhà lãnh đạo, quần chúng, từ cá nhân đến tập thể và cộng đồng xã hội, từ mỗi tổ chức thành viên đến toàn bộ hệ thống chính trị, từ Đảng cầm quyền đến Nhà nước quản lý và các tổ chức của quản lý do dân lập ra và dân tự quản, trong hoạt động đồng tham giađồng đánh giá chính sách cùng với Đảng và Nhà nước. Nhìn từ yêu cầu dân chủpháp quyền, những tổ chức xã hội của quần chúng đang làm cho quá trình vận động dân chủ hoá ở nước ta phát triển tích cực, hình thành môi trường xã hội dân sự. Đó là cơ sở xã hội cần thiết để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân - bộ phận giường cột của hệ thống chính trị.

Không có tư tưởng đổi mới và đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo thì cũng không có những nhận thức lý luận mới về dân chủ và dân chủ hoá ở Việt Nam, không hình thành nên những quan điểm, phương hướng và giải pháp đổi mới hệ thống chính trị như hiện nay. Đó là sự thể hiện vai trò của lý luận và tư duy lý luận trong việc thúc đẩy nhận thức và cải biến thực tiễn ở nước ta. Song, sâu xa hơn, tư tưởng và lý luận ấy lại nằm ngay trong thực tiễn, gắn liền với lợi ích thường nhật và cuộc sống của nhân dân. Chính nhu cầu, lợi ích của người dân, chính những tìm tòi, sáng kiến và sáng tạo của quần chúng nhân dân ở cơ sở, đặc biệt ở cơ sở nông thôn rộng lớn với 60 triệu nông dân, trên 10.000 xã, trên 115.000 thôn, làng, ấp bản trong cả nước(1) đã cung cấp những chất liệu thực tiễn sống động, đã gợi ý, mách bảo và hối thúc sự hình thành, sự chín muồi của lý luận đổi mới, của lý luận dân chủ và dân chủ hoá ở nước ta. Lý luận mới hình thành từ tổng kết thực tiễn đổi mới 20 năm qua là kết quả lý luận hoá thực tiễn đi liền với thực tiễn hoá lý luận nhờ nỗ lực của chủ thể tư duy và hành động mà Đảng là tiêu biểu.

2. Những điểm mới trong nhận thức lý luận về dân chủ qua 20 năm đổi mới

2.1. Dân chủ hoá mọi lĩnh vực của đời sống để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xác định là mục tiêu và động lực của đổi mới

Đại hội VI (1986) là Đại hội khởi xướng đường lối đổi mới, Đại hội mở đầu cho tiến trình đổi mới ở nước ta.

Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế. Đổi mới kinh tế là vấn đề quan trọng hàng đầu, có tính chất quyết định đối với sự phát triển của nước ta, không chỉ ở thời điểm khởi động đổi mới, cải cách lúc bấy giờ mà còn trong toàn bộ tiến trình đổi mới cho đến nay cũng như sau này.

Quan điểm duy vật biện chứng của triết học Mác và chủ nghĩa Mác nói chung ứng dụng vào nhận thức những biến đổi và phát triển lịch sử đã từng nhấn mạnh rằng, mọi sự vận động và biến thiên của lịch sử dù rích rắc như thế nào, rốt cuộc rồi cũng lần tìm thấy cái lôgíc tất yếu của kinh tế đi xuyên qua sự vận động ấy. Xét đến cùng, kinh tế là nhân tố quyết định của tiến bộ xã hội. Tham dự vào quá trình lịch sử, kinh tế là cái quyết định cuối cùng chứ không phải là cái duy nhất. Không phải là cái duy nhất nhưng rõ ràng, kinh tế là nhân tố quan trọng nhất của phát triển xã hội. Duy vật và biện chứng là ở đó. Đó còn là sự thể hiện quan điểm thực tiễn, quan điểm đời sống trong nhận biết những biến đổi của xã hội; rằng, phải từ thực tiễn biến đổi của kinh tế để xem xét thực tiễn biến đổi của chính trị và xã hội, của mọi hiện tượng và lĩnh vực khác trong đời sống.

Rồi đây, những nhà viết sử về lịch sử đổi mới ở nước ta thời kỳ đương đại chắc chắn không thể bỏ qua một thực tế là, những đột phá dẫn tới đổi mới đều bắt đầu từ kinh tế. Khoán trong nông nghiệp, từ khoán sản phẩm đến khoán hộ, coi kinh tế hộ gia đình nông dân là một đơn vị kinh tế cơ bản ở nông thôn, coi lợi ích cá nhân của người lao động là động lực trực tiếp để phát triển sản xuất và là cơ sở để thực hiện lợi ích xã hội... là một trong những minh chứng sinh động về tầm quan trọng và ý nghĩa của những đột phá kinh tế đối với phát triển. Nhờ đó xã hội tìm được xung lực mạnh mẽ để ra khỏi sức ì và sự trì trệ, khắc phục suy thoái và khủng hoảng, từng bước hướng tới phát triển.

Trong lịch sử chủ nghĩa Mác, từ rất sớm, vào năm 1845, trong Gia đình thần thánh, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận thấy vai trò của lợi ích kinh tế như một đảm bảo vật chất cho sức sống, cho tính hiện thực của tư tưởng. Hai ông đã nhấn mạnh rằng, tư tưởng mà tách rời khỏi lợi ích thì tự nó làm nhục bản thân nó, nghĩa là làm mất đi sự tín nhiệm của tư tưởng.

Đến những năm 20 của thế kỷ trước, khi đề xướng và thực hiện "Chính sách kinh tế mới" (NEP), V.I.Lênin đã đặc biệt chú trọng tới lợi ích của nông dân, bãi bỏ chế độ trưng thu lương thực thừa, cho phép nông dân sau khi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước được tự do bán lương thực và nông sản do mình làm ra trên thị trường. Đảm bảo thực hiện lợi ích và nhu cầu chính đáng của người lao động, khuyến khích lợi ích cá nhân - đó là cái đòn bẩy kinh tế có sức mạnh làm thay đổi căn bản thái độ lao động của họ. Bằng cách đó, V.I.Lênin đã tìm đúng cách thức và giải pháp để lôi cuốn mọi người tới lao động cho mình và cho xã hội - điều mà ông coi là một trong những vấn đề khó khăn, phức tạp nhất của chủ nghĩa xã hội, nhất là trong buổi đầu phát sinh của nó. Với NEP, V.I.Lênin đã đặt nền móng cho một chiến lược đổi mới và phát triển và ông xứng đáng được coi là nhà cách tân vĩ đại đầu tiên trong lịch sử chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Có điều kiện quan sát trực tiếp sự hồi sinh của nước Nga trong bối cảnh của NEP, Nguyễn Ái Quốc từ hồi đó (1925) đã trù tính, sau này đi vào kiến thiết chế độ mới, nhất định chúng ta phải áp dụng "Tân kinh tế chính sách" của V.I.Lênin.

Cũng từ đó, vấn đề đem lại lợi ích, sự thụ hưởng chính đáng lợi ích cho người lao động đã luôn là vấn đề thường trực trong tư duy lý luận của Hồ Chí Minh về dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Người từng nhấn mạnh rằng, chế độ khoán là rất phù hợp trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội. Và, người dân chỉ cảm nhận được giá trị thực tế của dân chủ, khi họ được ăn no, mặc ấm. Người còn nói rõ, nước nhà tranh đấu được độc lập, tự do mà người dân vẫn đói rét, cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do đó cũng chẳng để làm gì.

Điều đó đủ thấy, từ nhu cầu, khát vọng dân chủ đến thành quả thực tế của dân chủ đòi hỏi phải đi qua đấu tranh, giải phóng để xoá bỏ áp bức, bóc lột và thân phận nô lệ cho quần chúng lao động, đồng thời tổ chức đời sống xã hội sao cho họ đạt tới lợi ích và quyền lực thực tế của chính mình.

Từ khi lịch sử đã hình thành thể chế nhà nước, dân chủ trong kinh tế và dân chủ trong chính trị luôn là những nội dung trọng yếu hàng đầu của dân chủ.

Trong những luận đề của Hồ Chí Minh, dân chủ và dân làm chủ, dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân; ta thấy rõ điều sâu xa này: Dân phải là chủ sở hữu dân chủ của mình, cả lợi ích và quyền hành. Bước vào đổi mới, với việc thực hiện giải phóngphát triển lực lượng sản xuất bằng cách chuyển đổi mô hình kinh tế, từ kinh tế hiện vật và kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và giờ đây là phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thay đổi căn bản cơ chế quản lý kinh tế, từ cơ chế tập trung quan liêu, hành chính mệnh lệnh với phương thức bao cấp và phân phối bình quân sang cơ chế thị trường, cạnh tranh, phân hoá và vượt trội, xoá bỏ bình quân trong phân phối, áp dụng đa hình thức sở hữu và phân phối lợi ích... đã nhanh chóng tạo ra động lực cho sự phát triển sản xuất và tạo nên sức tăng trưởng kinh tế liên tục, nhiều năm.

Sức mạnh giải phóng mọi tiềm năng xã hội và giải phóng ý thức tinh thần là sức mạnh rất căn bản của phát triển, gắn bó mật thiết giữa phát triển cá nhân với phát triển cộng đồng thông qua sợi dây lợi ích. Đây cũng chính là sức mạnh của dân chủ thông qua vận động dân chủ hoá, tháo bỏ các lực cản dân chủ có trong cơ chế tập trung quan liêu.

Với kinh tế hàng hoá, với cơ chế thị trường và kinh tế thị trường, cái sức mạnh tất yếu kinh tế của dân chủ đã bộc lộ và phát triển một cách hợp quy luật. Giải phóng sức sản xuất là cơ sở sâu xa nhất, là nền tảng để thực hiện và phát triển dân chủ, bởi đây là giải phóng các khả năng, năng lực của người lao động - nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất, cũng đồng thời là chủ thể của các quan hệ sở hữu, phân phối, tổ chức và quản lý trong quan hệ sản xuất.

Kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường tuân theo quy luật giá trị, quy luật thị trường đã tạo ra môi trường kinh tế để kích thích sự phát triển các năng lực cá nhân, đảm bảo cho con người quyền chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính mình. Trong kinh tế thị trường và với cơ chế thị trường, cơ hội cho tìm kiếm việc làm và thu nhập đã mở ra cho tất cả mọi người, đồng thời mọi người cũng phải làm quen, thích ứng với yêu cầu về những đòi hỏi nghiêm ngặt của năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc, sự sàng lọc và thải loại những giả giá trị, cả tâm lý thụ động, ỷ lại, lối sống ký sinh, ăn bám vào người khác, vào nhà nước. Đó thực sự là môi trường kinh tế để khẳng định cá nhân, quyền và lợi ích cá nhân trong lao động. Nó khuyến khích và đòi hỏi sự tháo vát, năng động, sự đổi mới; nó xa lạ với thói dựa dẫm, bảo thủ, trì trệ, thói phù phiếm, lãng phí, vô trách nhiệm không chỉ với cộng đồng xã hội, mà với cả chính mình. Bởi thế, chuyển sang kinh tế thị trường là cơ hội đối với phát triển, mà cũng là thách thức đối với những thiếu hụt, những bất cập trong phát triển. Làm giàu bằng lao động chính đáng được khuyến khích cũng như mọi lao động có ích cho bản thân và xã hội đều là lao động được thừa nhận về phương diện đạo đức.

Bởi thế, qua hơn 20 năm đổi mới, với kinh tế thị trường, nước ta đã có một bước tiến đáng kể về dân chủ kinh tế. Thể chế nhà nước pháp quyền mà chúng ta đã và đang xây dựng đã thừa nhận cả về pháp lý lẫn thực tiễn một nguyên lý quan trọng của dân chủ - đó là "mọi công dân được phép làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm" cũng như "mọi công chức được làm những gì mà pháp luật cho phép".

Doanh nghiệp và doanh nhân được quyền tự do sản xuất - kinh doanh trong khuôn khổ luật pháp, quyền chủ động trong sản xuất - kinh doanh của họ được khẳng định, Nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý hành chính kinh tế theo pháp luật chứ không can thiệp vào quyền sản xuất - kinh doanh của họ, các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật. Đó thực sự là một bước tiến của dân chủ hoá kinh tế.

Cùng với dân chủ hoá kinh tế, dân chủ hoá chính trị được thực hiện trong đời sống chính trị của xã hội, của từng tổ chức và của mỗi người dân với tư cách một công dân, một con người chính trị. Nó trở thành nội dung mà cũng đồng thời là động lực của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Bước chuyển sang kinh tế thị trường tất yếu đòi hỏi phải đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động chính trị cho phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế. Trước hết là đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện kinh tế thị trường, phân biệt sự khác nhau về vai trò, chức năng, nhiệm vụ giữa lãnh đạo chính trị của Đảng với quản lý của Nhà nước, với hoạt động phối hợp trong kiểm tra, giám sát xã hội và gần đây còn là thực hiện tư vấn, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, của các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội của quần chúng để thực thi dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Với đổi mới chính trị và hệ thống chính trị, quyền và nghĩa vụ công dân được coi trọng, việc thực hiện dân chủ hoá hoạt động bầu cử, nâng cao chất lượng hiệp thương dân chủ trong bầu cử đã đảm bảo cho mọi người dân quyền dân chủ trong việc lựa chọn đại biểu mà mình uỷ quyền. Dân chủ hoá đời sống chính trị để thực hiện dân chủ chính trị đã góp phần nâng cao ý thức và năng lực tham chính của người dân trong việc đóng góp ý kiến xây dựng thể chế pháp luật; đánh giá chính sách; giám sát hoạt động của bộ máy chính quyền và hành vi của công chức; kết  hợp quản lý với tự quản ở cơ sở; kết hợp nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và Nhà nước với chế độ hiệp thương dân chủ trong hoạt động của Mặt trận để làm phong phú thêm nền dân chủ nước ta. Một trong những bước tiến quan trọng của dân chủ hoá đời sống chính trị là ở chỗ, quần chúng nhân dân và các phương tiện thông tin đại chúng trong xã hội cùng với dư luận xã hội đã góp phần rất quan trọng vào cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, nhất là phát huy tác dụng của dân chủ cơ sở. Với sức mạnh của dân chủ hoá kinh tế và chính trị, cuộc vận động dân chủ hoá ở nước ta còn diễn ra trong lĩnh vực văn hoá và tinh thần.

Tự do tư tưởng, tự do thảo luận, tranh luận, tôn trọng ý kiến khác biệt, miễn là không trái với lợi ích xã hội, không làm tổn hại tới ổn định và phát triển chung của cộng đồng, phát huy những điểm tương đồng, cùng hướng vào mục đích, mục tiêu phát triển, thực hiện đoàn kết và đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là nhân tố quyết định thành công của đổi mới - đó là một thành tựu lớn của dân chủ hoá văn hoá tinh thần trong xã hội ta qua hơn 20 năm đổi mới. Điều này được thể hiện rõ rệt ở bầu không khí dân chủ để thảo luận, tranh luận trong giới chuyên môn học thuật và tư tưởng, trong nghiên cứu khoa học, trong sáng tạo văn học, nghệ thuật, trong dư luận xã hội và trong hoạt động của báo chí; hơn nữa, còn là trong tư duy, lối sống của thế hệ trẻ, trong đời sống tinh thần ở gia đình và xã hội trên cơ sở những định hướng đúng của chính trị và tư tưởng.

Nhờ có dân chủ hoá đời sống văn hoá tinh thần mà hình thành được quan niệm "thống nhất trong đa dạng", "thống nhất bao hàm những khác biệt" về văn hoá, khuyến khích những tìm tòi, sáng tạo văn hoá, nhất là trong lĩnh vực văn hoá tinh thần, từ nghiên cứu khoa học đến sáng tác, biểu diễn nghệ thuật.

Mối quan hệ giữa chính trị và khoa học, giữa quyền lực và chân lý chỉ có thể được nhận thức và giải quyết đúng đắn trên tiền đề dân chủ hoá đời sống văn hoá tinh thần, đảm bảo tự do tư tưởng.

Đổi mới và dân chủ hoá ở Việt Nam với tất cả ý nghĩa lành mạnh của nó đã đáp ứng yêu cầu ấy.

Hồ Chí Minh đã để lại trong di sản lý luận dân chủ của mình một luận điểm cực kỳ sâu sắc và mãi mãi có giá trị. Đó là luận điểm: trong một nước dân chủ, ai ai cũng có quyền tự do thảo luận, tranh luận để cùng nhau tìm tòi chân lý. Khi chân lý đã tìm thấy rồi thì quyền tự do tư tưởng hoá ra quyền tự do phục tùng chân lý. Đó là sự giác ngộ về cái tất yếu và hành động tự giác theo cái tất yếu ấy để đạt tới tự do. Nó xa lạ với sự áp đặt, sự phục tùng mù quáng và thụ động để vươn tới tự do và làm chủ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với sự phát triển của khoa học và nghệ thuật, của trí thức và văn nghệ sĩ.

Nói tóm lại, đổi mới với kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập đã thúc đẩy và đòi hỏi dân chủ hoá trong mọi lĩnh vực, đảm bảo cho người dân quyền làm chủ, phát huy ý thức dân chủ và năng lực thực hành dân chủ của mình.

Trước đổi mới, những phương diện như thế của nội dung dân chủ và dân chủ hoá thường được hiểu một cách thái quá, thoát ly điều kiện thực tế và hoàn cảnh lịch sử ở nước ta. Trước đổi mới, chúng ta thường chỉ nhấn mạnh quyền làm chủ tập thể, thông qua chế độ làm chủ tập thể. Phải đến đổi mới, chúng ta mới có thực tiễn để nói đến dân chủ, xây dựng nền dân chủ, đổi mới hệ thống chính trị vì dân chủ.

Có thể nói, với đổi mới, từ Đại hội VI, nhất là từ Đại hội VII trở đi, các khái niệm khoa học "dân chủ", "dân chủ hoá" và "hệ thống chính trị" lần đầu tiên mới được xác định trong Văn kiện và Nghị quyết của Đảng, được thể hiện trong Cương lĩnh 1991 của Đảng - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Những khái niệm này cũng dần trở nên quen thuộc trong chính trị học và các khoa học chính trị ở nước ta, kể cả khoa học nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và Hồ Chí Minh học. Đổi mới đã sinh thành những ngành khoa học mới, non trẻ nhưng rất có triển vọng như thế với tác động tích cực của dân chủ hoá.

Đảng ta đã khẳng định dân chủ hoá toàn diện các lĩnh vực của đời sống để xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, coi đó là mục tiêuđộng lực của đổi mới, của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

2.2. Dân chủ trong hệ mục tiêu của đổi mới và phát triển

Đổi mới mang tầm vóc của những cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để và toàn diện ở nước ta từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX cho tới nay. Đổi mới là một sự nghiệp lâu dài của toàn Đảng, toàn dân với sự tham gia của nhiều thế hệ người Việt Nam hiện nay và mai sau.

Đổi mới sẽ đi qua nhiều chặng đường, hoàn thành từng nhiệm vụ trong những chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển văn hoá, xây dựng con người mới, lối sống mới ở nước ta. Mỗi chặng đường như thế của đổi mới sẽ đánh dấu những trình độ của phát triển và tiến bộ xã hội, từng bước đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, xã hội ta trở thành một xã hội hiện đại với chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ở nước ta, cả một thế hệ mới đã ra đời và trưởng thành cùng tuổi với đổi mới, là sản phẩm của đổi mới. Thế hệ sẽ tiếp nối thế hệ, sẽ nhập cuộc và đồng hành cùng đổi mới để phát triển dân tộc Việt Nam, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, để độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được củng cố và phát triển bền vững ở Việt Nam. Đổi mới là phương thức của phát triển, chừng nào còn tồn tại và phát triển chừng đó còn đổi mới. Sức sống và triển vọng của đổi mới tùy thuộc vào năng lực sáng tạo, vào những động lực thúc đẩy, khơi nguồn cho sáng tạo của con người và dân tộc Việt Nam. Bởi thế, đổi mới, xét trên quan điểm hoạt động thực tiễn và phát triển, là thường xuyên và mãi mãi, là sự kết hợp biện chứng giữa tính tương đối và tính tuyệt đối.

Một sự nghiệp vĩ đại và sáng tạo như thế đòi hỏi phải nhận thức rõ hệ mục tiêu của đổi mới. Mục tiêu càng rõ ràng thì hướng đi của con đường càng sáng tỏ. Các quyết sách đề ra càng phù hợp với thực tiễn thì tính khả thi của các giải pháp và điều kiện càng có độ tin cậy và việc huy động cũng như sử dụng các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực, càng có hiệu quả, đáp ứng tốt nhất tính thực tế, hữu ích, toàn dụng trong sử dụng lao động và các nguồn lực để tránh được những sự lãng phí, hình thức và thói phù phiếm trong quản lý, điều hành công việc.

Muốn vậy, phải đặc biệt chú trọng giải phóng mọi tiềm năng xã hội, làm cho từng người và cả cộng đồng đều ở trong môi trường của phát triển, ai ai cũng nhận được từ xã hội những cơ hội như nhau để phát triển. Đây là thực chất sâu xa của công bằng và bình đẳng. Đó là công bằng, bình đẳng về cơ hội phát triển. Những vấn đề và nguyên tắc này chẳng những không tách rời mà trái lại, còn gắn liền mật thiết với dân chủ, được thúc đẩy bởi dân chủ.

Cả một tập hợp giá trị như thế không thể không có mặt trong hệ mục tiêu của đổi mới mà việc nhận thức đúng về nó không thể có ngay một lúc. Nó là một quá trình, từng bước được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, trải qua những thể nghiệm, thử nghiệm và tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận.

Đại hội VI (1986) xác định đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh.

Đại hội VII (1991) xác định mục tiêu đổi mới với một sự bổ sung quan trọng để làm rõ hơn định hướng xã hội chủ nghĩa của đổi mới và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Đó là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Đại hội VIII (1996) tổng kết 10 năm đầu của đổi mới đã nhận định rằng, đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội về cơ bản, dù còn có một số tiền đề chưa vững chắc, một thời kỳ mới của phát triển đã mở ra: thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Để đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, chúng ta chẳng những phải tiếp tục đẩy mạnh đổi mới kinh tế, đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế để không ngừng cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân; chú trọng thực hiện chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo, khắc phục độ giãn cách của phân hoá giàu nghèo nhằm từng bước thực hiện công bằng xã hội..., mà còn phải tiến hành đổi mới chính trị, tức là đổi mới hệ thống chính trị, tạo động lực cho phát triển.

Động lực ấy bao gồm cả nội lực và nội sinh ở trong nước lẫn ngoại lực và ngoại sinh từ bên ngoài, được khai thác và tận dụng có hiệu quả, chuyển hoá thành nội lực.

Để đổi mới hệ thống chính trị, phải đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, phân biệt và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng với quản lý, điều hành của Nhà nước, sự tham gia phối hợp một cách chủ động, có hiệu quả của Mặt trận và các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội.

Về thực chất, những nội dung, yêu cầu đổi mới chính trị và hệ thống chính trị chính là đẩy mạnh hơn nữa dân chủ hoá đời sống chính trị, thực hiện dân chủ trong Đảng, trong Nhà nước và trong xã hội theo hướng đảm bảo dân chủ thực chất, khắc phục dân chủ hình thức, ra sức chống quan liêu, tham nhũng - nhân tố kìm hãm dân chủ, làm tổn hại tới dân chủ và đối lập với dân chủ. Dân chủ và pháp quyền phải được nhận thức như đặc tính và bản chất của Nhà nước, đảm bảo cho quyền lực của dân, sự uỷ quyền của dân vào Nhà nước không bị biến dạng.

Trong nhiệm kỳ của Đại hội VIII có một sự kiện đáng lưu ý và rất có ý nghĩa - đó là sự ra đời của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở, đặc biệt ở cơ sở nông thôn vào năm 1998, bắt đầu từ chỉ thị của Bộ Chính trị, sau đó là Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế dân chủ ở xã, trên địa bàn nông thôn cả nước. Cấp xã là cấp cơ sở, nền tảng của hành chính nhà nước, là loại hình cơ sở nổi bật và điển hình, chiếm số lượng tuyệt đối các đơn vị cơ sở ở nước ta. Quy chế thực hiện dân chủ ở xã đồng thời còn được vận dụng vào các phường và thị trấn (ở đô thị) và ở tất cả các loại hình cơ sở khác, từ cơ quan, trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu đến công ty, doanh nghiệp, nghĩa là ở tất cả những tập thể lao động, các cộng đồng xã hội - nơi con người sinh sống, làm việc, có những mối liên hệ xã hội với nhau, vừa chịu tác động của quản lý nhà nước, vừa thực hiện tự quản cộng đồng.

Quy chế dân chủ ở cơ sở trao vào tay mọi người dân một công cụ có tính pháp lý để tự thực hiện và tự bảo vệ những quyền dân chủ và lợi ích chính đáng của mình. Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra(**) vừa là nội dung dân chủ, vừa là cách thức thực hiện dân chủ từ phía người dân, là sự xác định pháp lý giữa quyền và nghĩa vụ của dân với chính quyền nhà nước và ngược lại.

Đây thực sự là một cái mới trong thể chế dân chủ ở nước ta. Dân chủ cơ sở là một bước tiến mới trong nhận thức lý luận dân chủ và dân chủ hoá ở nước ta.

Quy chế dân chủ cơ sở ra đời là một quyết định rất được lòng dân và hợp với xu thế phát triển của dân chủ, vừa tăng cường chất lượng, hiệu quả của dân chủ đại diện, vừa mở rộng và đề cao vai trò của dân chủ trực tiếp để đảm bảo quyền làm chủ trên thực tế của người dân.

Trên phương diện chính sách, quy chế dân chủ cơ sở có giá trị và ý nghĩa như một chính sách chính trị, có tác dụng trực tiếp đối với việc xoá đói giảm nghèo của nông dân, hộ nông dân ở nông thôn, mở rộng khả năng cho người dân tham gia thực hiện và giám sát thực hiện chính sách. Cùng với nhà nước, người dân tham gia vào việc đánh giá chính sách như một đồng chủ thể, đó thực sự là một bước tiến và phát triển mới về dân chủ.

Cho đến nay, quy chế dân chủ cơ sở đã đi vào cuộc sống gần 10 năm, đã qua nhiều lần sơ kết, tổng kết, bổ sung và điều chỉnh, nhất là các chế tài thực hiện.

Quy chế dân chủ cơ sở đang phát triển theo chiều hướng tích cực và việc nâng quy chế dân chủ cơ sở thành pháp lệnh dân chủ ở cơ sở đang trở thành một tất yếu phổ biến, có lợi cho việc đảm bảo quyền và lợi ích của dân ở cơ sở.

Đến Đại hội IX (2001), Đại hội đầu tiên ở thế kỷ XXI, Đại hội tổng kết 15 năm đổi mới, chúng ta đã thấy sự xuất hiện mục tiêu dân chủ trong hệ mục tiêu của đổi mới: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Việc đưa dân chủ vào hệ mục tiêu đổi mới là một bước ngoặt trong nhận thức lý luận đổi mới của Đảng và cũng là trong ý thức xã hội nói chung của quần chúng. Đến đây, về cơ bản, hệ mục tiêu của đổi mới đã trở nên đầy đủ và hoàn chỉnh.

Cũng trong khoảng thời gian của nhiệm kỳ khoá IX (2001-2005), trên vấn đề dân chủ, Đảng ta còn có những nhận thức mới và có những quyết định quan trọng về thực hiện dân chủ. Đó là:

- Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, gọi chung là cấp xã. Trong Nghị quyết này đã nói rõ, thực hiện dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở là một đảm bảo quan trọng để xác lập ổn định chính trị tích cựcphát triển bền vững. Đó cũng là định hướng trực tiếp và sâu xa của đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở. Nghị quyết còn nhấn mạnh một tư tưởng lớn: đảm bảo dân sinh, nâng cao dân trí, thực hiện dân quyền để phát triển dân chủ, hướng tới người dân, vì dân, làm cho dân chủ thực sự là của quý báu nhất trên đời của người dân như Hồ Chí Minh đã khẳng định.

- Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, về công tác dân tộc, trong đó có liên quan tới hệ thống chính trị cơ sở. Cái mới về mặt lý luận trong vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc, dân chủ và hệ thống chính trị trong Nghị quyết này là việc kết hợp nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và Nhà nước với chế độ hiệp thương dân chủ trong hoạt động của Mặt trận để làm phong phú thêm nền dân chủ ở nước ta. Đây thực sự là vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ và quan hệ dân chủ trong các tổ chức của hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở; nó chuẩn bị những luận cứ khoa học để xác lập cơ chế và chính sách phù hợp với mục tiêu dân chủ.

Đại hội X, như đã nói, là Đại hội tổng kết lý luận - thực tiễn 20 năm đổi mới. Tại Đại hội này, dân chủ từ chỗ nằm trong hệ mục tiêu của đổi mới đã được nhận thức là một trong những nhân tố nói lên đặc trưng, bản chất, tiêu chí đánh giá về xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng. Hơn nữa, hệ mục tiêu của đổi mới "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" còn được nhận thức như là đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa xã hội, bổ sung thêm vào các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa đang hình thành. Nghị quyết Đại hội X còn đề cập tới một tư tưởng có tính chiến lược trong sự phát triển xã hội ta, thông qua đổi mới và hiện đại hoá. Đó là: xây dựng xã hội ta thành một xã hội dân chủ(2), xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự đồng thuận xã hội(3).

Có thể nói, những tư tưởng nêu trên cho thấy nhận thức lý luận dân chủ của Đảng đã ngày càng chú ý tới đặc trưng pháp lý và đặc trưng nhân văn của dân chủ. Cơ sở xã hội rộng lớn của dân chủ là nhân dân và dân tộc, do đó, phải nêu cao tinh thần trọng dântrọng pháp. Một vấn đề, có thể nói, là rất tinh tế thuộc về văn hoá dân chủ đã được đặt ra, được thể hiện trong việc hoàn thiện các quan điểm, nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc trong cơ cấu đa tộc người ở nước ta. Đó là:

Thứ nhất, xác lập mối quan hệ giữa dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong phát triển. Chỉ có dân chủ thực chất mới có đoàn kết thực chất, rộng rãi và bền vững. Đảm bảo dân chủ, đoàn kết là cơ sở chính trị - xã hội quan trọng nhất nhằm tạo ra sự hoà hợp, hợp tác và đồng thuận xã hội trong phát triển - sự phát triển hướng tới thực hiện lợi ích, quyền lực của nhân dân, dân là gốc của nước, mọi chính sách của nước phải hướng vào dân, phải vì dân.

Thứ hai, dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong phát triển ở Việt Nam là nhằm vào sự phát triển tích cực, lành mạnh, hài hoà giữa phát triển dân tộc - quốc giadân tộc - tộc người. Chính sách dân tộc, do đó, phải đồng thời là chính sách phát triển quốc gia và là chính sách phát triển tộc người. Cũng do vậy, hệ quan điểm chỉ đạo vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc phải xuất phát từ việc giải quyết đúng đắn, chuẩn xác mối quan hệ giữa các dân tộc - tộc người trong quốc gia đa tộc người và đa tôn giáo ở nước ta.

Các dân tộc - tộc người ở Việt Nam đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giúp nhau cùng phát triển. Để thực hiện được những nguyên tắc này, chúng ta phải chú trọng thực hiện hai nguyên tắc (hay hai yêu cầu chuẩn mực): tôn trọng lẫn nhautin cậy lẫn nhau. Chỉ có dựa trên sự tôn trọng và tin cậy lẫn nhau thì mới đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp nhau một cách thực chất.

2.3. Dân chủ trong Đảng và dân chủ trong xã hội theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và nền hành chính công minh bạch

Khi Đảng đã ở vị trí cầm quyền, nhất là trong điều kiện chỉ có một Đảng duy nhất cầm quyền như Đảng ta, vấn đề đảm bảo dân chủ trong Đảng để thúc đẩy phát triển dân chủ trong xã hội có một tầm quan trọng đặc biệt.

Văn kiện Đại hội X đã nêu rõ vấn đề dân chủ trong Đảng theo phương hướng phát huy dân chủ đi đôi với giữ gìn kỷ luật trong Đảng.

Mọi cán bộ, đảng viên có quyền tham gia quyết định công việc của Đảng. Đó là quyền được thông tin, thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến trong tổ chức. Thực hiện những quyền này không tách rời khỏi nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người trong Đảng - đó là phải nói và làm theo Nghị quyết mà Đảng đã ban hành.

Đây là một trong những điểm cốt yếu, có tính nguyên tắc của tập trung dân chủ mà Đảng đòi hỏi phải được chấp hành nghiêm túc, đảm bảo cho Đảng thống nhất tư tưởng, chính trị và tổ chức - một đòi hỏi tất yếu của Đảng chiến đấu, Đảng hành động.

Nội dung thực hiện dân chủ trong Đảng còn được cụ thể hoá trong quan hệ giữa đảng viên với tổ chức Đảng, giữa các cấp và các cơ quan lãnh đạo của Đảng, giữa Đảng và đảng viên với nhân dân, giữa Đảng với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể trong hệ thống chính trị.

Vận dụng và thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn công tác xây dựng Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cần phải đặc biệt nhấn mạnh rằng, lãnh đạo một cách dân chủ, lãnh đạo bằng sự gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất, tức là dân chủ trong Đảng là sự kết hợp giữa chính trị - pháp chế và đạo đức. Nền tảng của Đảng, mục tiêu và phương hướng chính trị của Đảng phải được giữ vững và củng cố. Điều lệ Đảng là bộ luật của toàn Đảng, trong Đảng ai ai cũng phải chấp hành. Đảng viên còn đồng thời là công dân, nên ngoài việc tuân thủ điều lệ, chấp hành nghị quyết, mọi đảng viên, nhất là đảng viên giữ chức vụ phải nghiêm chỉnh và gương mẫu chấp hành pháp luật. Đảng hoạt động và lãnh đạo trong khuôn khổ của pháp luật. Đảng đồng thời nêu cao gương sáng đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, chống chủ nghĩa cá nhân, làm tốt chức phận là người lãnh đạo đồng thời là người đầy tớ trung thành, là công bộc tận tụy của nhân dân.

Đảng nhấn mạnh sự cần thiết phải có quy chế ra quyết định của Đảng, phát huy trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm, chế độ trách nhiệm, xác lập cơ chế để nhân dân bày tỏ ý kiến đối với những quyết định lớn, tham gia các công việc của Đảng, khắc phục lối làm việc quan liêu, xa dân.

Nhằm nâng cao hiệu lực lãnh đạo, phát huy sức mạnh bởi mối quan hệ xã hội mật thiết giữa Đảng với dân, Đảng nhấn mạnh quyền kiểm tra, giám sát của tập thể đối với cá nhân và tổ chức, kể cả đối với người lãnh đạo chủ chốt và tổ chức cấp trên; đảm bảo sự kết hợp giám sát trong Đảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân.

Đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng theo phương hướng dân chủ hoá và đề cao pháp luật trong Nhà nước pháp quyền, Đảng ta đã thực hiện đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ máy Đảng, đặc biệt là hệ thống Ban Đảng ở Trung ương sao cho tinh giản, gọn nhẹ, năng động, khắc phục triệt để tình trạng song trùng làm cho Đảng rơi vào khuynh hướng nhà nước hoá Đảng, hình thức hoá và Đảng hoá Nhà nước, hành chính hoá và quan liêu hoá Mặt trận và đoàn thể. Đảng chú trọng chất lượng tham mưu, tư vấn, tập trung tinh hoa trong đội ngũ chuyên gia chứ không thiên về bộ máy, tổ chức theo kiểu nhà nước. Chú trọng chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là ở lãnh đạo cấp cao, chất lượng chính trị, tư tưởng, trí tuệ và đạo đức để thực sự hành động tiên phong, có uy tín, có ảnh hưởng thực sự trong nhân dân và trong xã hội.

Đảng cầm quyền một cách dân chủ, nên trong lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận và đoàn thể, Đảng không bao biện làm thay, không can thiệp tuỳ tiện, càng không thể tách rời thẩm quyền ra quyết định với trách nhiệm về quyết định đó.

Dựa vào dân mà xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị - đó là một trong những điểm cốt lõi của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh. Đảng khuyến khích và tạo mọi điều kiện, đồng thời Đảng cũng đòi hỏi các tổ chức, kể cả Nhà nước phải chủ động thực hiện tư vấn, phản biện, giám sát đối với Đảng.

Điều đặc biệt quan trọng là, đổi mới phương thức lãnh đạo gắn với đổi mới phong cách và lề lối làm việc sao cho thật sự dân chủ, thiết thực, nói đi đôi với làm(4). Đảng cũng đồng thời nhấn mạnh, muốn phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa phải xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền, hoàn thiện pháp luật, xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền, đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đẩy mạnh cải cách hành chính để có một nền hành chính công minh bạch(5).

Dân chủ trong xã hội được biểu hiện ở dân chủ của từng cá nhân công dân, của từng tổ chức, đoàn thể của nhân dân, nhất là ở cơ sở, ở việc tôn trọng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Trong nền kinh tế thị trường, sự biến đổi của cơ chế kinh tế và thành phần kinh tế kéo theo sự biến đổi theo hướng đa dạng hoá cơ cấu xã hội, từ cơ cấu giai cấp đến giai tầng, tầng lớp, các nhóm xã hội đặc trưng và đặc thù.

Dân chủ của công dân gắn liền với quyền công dân, quyền con người, thể hiện ở mối quan hệ giữa công dân với công chức, giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, giữa quản lý và tự quản. Theo đó, bước tiến trong nhận thức lý luận về dân chủ xã hội đã thể hiện ở sự tôn trọng quyền và lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội, thái độ lắng nghe ý kiến của dân, thái độ tôn trọng trong tiếp dân và giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo, đề nghị của dân trong chức trách, thẩm quyền và pháp luật.

Đó còn là cải cách chế độ bầu cử, để nhân dân thực sự lựa chọn người đại diện hoặc được tự do tham gia vào công việc chung thông qua ứng cử vào cơ quan quyền lực.

Vai trò của dân được tôn trọng và đề cao, dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể. Dân tham gia chủ động, tích cực và có cơ chế bảo vệ người dân trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng.

Thực hành dân chủ, đề cao sức mạnh của dân chủ là sức mạnh của người dân với tư cách là chủlàm chủ. Phát triển dân chủ xã hội là để xây dựng một xã hội dân chủ, một nhà nước pháp quyền, một xã hội dân sự trên nền tảng kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ và Đảng cầm quyền thực sự tiêu biểu cho đạo đức và văn minh, đại diện điển hình cho đổi mới, đoàn kết, dân chủ, trí tuệ và phát triển.

Đó là những nhận thức lý luận mới về dân chủ trong Đảng, trong xã hội của Đảng ta.

2.4. Tư vấn, phản biện, giám sát xã hội của dân và các tổ chức của dân đối với Đảng, Nhà nước - đó là con đường, phương thức phát triển dân chủ trên cơ sở đổi mới hệ thống chính trị

Đây là một vấn đề mới, thực sự mới mẻ trong nhận thức lý luận dân chủ của Đảng, phản ánh trình độ trưởng thành về tư duy lý luận chính trị của Đảng cầm quyền. Liên quan trực tiếp tới sự  phát triển nhận thức lý luận này là sự đổi mới nhận thức về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận, của các đoàn thể của nhân dân trong hệ thống chính trị.

Trong điều kiện một Đảng cầm quyền và Nhà nước lại do Đảng lãnh đạo thì Mặt trận và các đoàn thể ngày càng có vai trò quan trọng. Tác dụng, hiệu quả hoạt động và ảnh hưởng xã hội của Mặt trận, của đoàn thể là một chỉ báo xã hội không thể thiếu để xem thực chất dân chủ trong xã hội. Mặt khác, đó còn là một đảm bảo chính trị tối cần thiết để phòng ngừa sự thoái hoá của tổ chức và cá nhân cầm quyền, sự biến dạng của quyền lực nhân dân. Thừa nhận giám sát xã hội, tư vấn, phản biện của các thiết chế chính trị - đó chính là sự thừa nhận hoạt động tham chính có tổ chức của nhân dân, thừa nhận và đề cao khả năng sáng tạo của nhân dân trong hoạt động chính trị, tạo ra một lực đẩy đối với dân chủ, đồng thời đặt một vật cản đối với các biến dạng phản dân chủ. Tham gia tư vấn, phản biện, giám sát xã hội của Mặt trận và đoàn thể đối với Đảng và Nhà nước có cơ sở xã hội là quần chúng nhân dân; có cơ sở pháp lý là luật pháp và Nhà nước pháp quyền; có cơ sở chính trị là quyền làm chủ của dân, dân phải có ý thức bảo vệ quyền của mình, tham gia thực hiện quyền đó; có cơ sở đạo đức và văn hoá ở chỗ, Đảng, Nhà nước phải lắng nghe tiếng nói, nguyện vọng, nhu cầu của dân, biết đối thoại, tranh luận, tiếp xúc trực tiếp với dân, không thế không thể lãnh đạo được dân mà còn không học hỏi được dân như Hồ Chí Minh đã chỉ ra.

Để tư tưởng mới mẻ này đi vào cuộc sống và được thực hiện phải đồng thời chú trọng tới những giải pháp và điều kiện:

- Đảng và Nhà nước với tư cách chủ thể lãnh đạo, quản lý, lại là đối tượng tiếp thu tư vấn, phản biện, giám sát, do vậy phải thực sự có nhu cầu được tư vấn, phản biện, giám sát, không chiếu lệ, hình thức, không lấy mình làm chuẩn chân lý, sẵn sàng tiếp thu ý kiến phê bình của dân, có tư duy đổi mới và quyết tâm đổi mới.

- Cá nhân và tổ chức phản biện, tư vấn, giám sát phải thực sự có năng lựcbản lĩnh, có động cơ chính trị đúng, có trách nhiệm xã hội cao của người phát hiện, đề xuất, khuyến nghị.

- Dư luận xã hội tích cực, pháp luật, kỷ luật, đạo đức của xã hội được nâng cao là sự đảm bảo cho hoạt động giám sát, kiểm tra, tư vấn và phản biện của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước có hiệu quả.                                                         

  


(*) Giáo sư, tiến sĩ triết học, Uỷ viên Hội đồng lý luận Trung ương.

(**) Trong mệnh đề này phải bổ sung hai điều quan trọng là dân quyếtdân hưởng.

(1) Hoàng Chí Bảo. Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005.

(2) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,  2006.

(3) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam.  Sđd.

(4) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.139.

(5) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam.  Sđd., tr.124 – 127.

Đã xem: 1328
Thời gian đăng: Thứ hai - 23/11/2015 14:21
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất