QC Shop

Những yếu tố chủ yếu của tiến trình đổi mới

TSKH. Lương Việt Hải

Nguồn: Triết học, số 3 (130), tháng 3 - 2002

Ảnh chỉ có tính chất minh họa

Ảnh chỉ có tính chất minh họa

Ngay sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1975), dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta bắt đầu tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

Giữa thập niên bảy mươi, với nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, lại bị chiến tranh kéo dài tàn phá nặng nề, Việt Nam đặt mục tiêu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa trong hoàn cảnh đất nước vừa mới hoà bình, thống nhất; các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội phát triển; Liên Xô xây dựng cơ sở vật chất ban đầu của chủ nghĩa cộng sản. Hoàn cảnh đó tạo nhiều thuận lợi cho Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tinh thần lạc quan, khí thế chiến thắng sục sôi trên mọi miền đất nước.

Trong không khí đó, Đại hội IV (tháng 12-1976) của Đảng đã xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa là: Nắm vững chuyên chính vô sản, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền sản xuất lớn, nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu và chế độ người bóc lột người; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Đường lối chung đó được cụ thể hoá bằng việc xác định miền Bắc trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, tiếp tục củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, xây dựng và cải tiến chế độ quản lý, chế độ phân phối; mở rộng và củng cố thành phần kinh tế quốc doanh về mọi mặt. Việc các hợp tác xã nhanh chóng mở rộng quy mô, tổ chức lại theo quy mô lớn trên địa bàn cấp huyện đã trở thành một phong trào rầm rộ và rộng khắp.

Ở miền Nam, phấn đấu đến năm 1980 về cơ bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa. Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các xí nghiệp tư bản tư doanh, thương nghiệp tư bản chủ nghĩa và tiểu thương được tiến hành mạnh mẽ, ồ ạt trong hai năm 1977 và 1978. Mô hình hợp tác xã quy mô lớn ở miền Bắc được áp dụng rộng rãi vào các tỉnh miền Nam nên đến năm 1980, việc đưa nông dân vào hợp tác xã và tập đoàn sản xuất về căn bản đã hoàn thành.

Tuy nhiên, với một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, chủ yếu bằng việc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tổ chức lại sản xuất và mở rộng quy mô hợp tác xã, áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô, với hy vọng nhanh chóng có nhiều chủ nghĩa xã hội hơn, chúng ta đã bộc lộ tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí cả trong lý luận lẫn trong chỉ đạo thực tiễn. Điều đó đã dẫn đến kết quả thực tế trái với ý định và dự kiến tốt đẹp ban đầu. Các mục tiêu do Đại hội IV của Đảng đề ra đều không đạt. Càng về cuối thập niên bảy mươi, nền kinh tế càng suy thoái nghiêm trọng. Hầu hết các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm 1976 - 1980 đều không thực hiện được. Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn. Triệu chứng của một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội đã xuất hiện và ngày càng trở nên nặng nề hơn khi bối cảnh quốc tế có những bất lợi cho Việt Nam.

Tháng 3 - 1982, Đại hội lần thứ V của Đảng đã xác định những chủ trương lớn: Những năm 1981 - 1985 tập trung phát triển mạnh nông nghiệp; nông nghiệp được xem là mặt trận hàng đầu; đưa nông nghiệp tiến một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng; tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý. Quyết tâm đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, hoàn thành về cơ bản hợp tác hoá nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam với hình thức phổ biến là tập đoàn sản xuất. Phấn đấu hoàn thành về cơ bản cải tạo thương nghiệp, vận tải, công nghiệp, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp ở các tỉnh phía Nam bằng cách làm và hình thức thích hợp. Trong một thời gian nhất định, ở các tỉnh phía Nam vẫn còn 5 thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, cá thể và tư bản tư nhân).

Đại hội đã phê phán tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí, thể hiện trong việc đề ra những chỉ tiêu quá cao, quy mô, tốc độ quá lớn về xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất; đưa hợp tác xã nông nghiệp lên quy mô quá lớn ở nhiều địa phương; đầu tư xây dựng các công trình tràn lan, kém hiệu quả. Đại hội cũng phê phán tư tưởng bảo thủ, trì trệ trong việc duy trì quá lâu cơ chế quản lý hành chính quan liêu, bao cấp, gây kìm hãm sản xuất...

Tuy vậy, về căn bản và trên tổng thể, Đại hội V vẫn tiếp tục đường lối do Đại hội IV đã vạch ra, không phản ánh được đầy đủ những thay đổi bước đầu (“làm chui”, “phá rào”) trong thực tiễn ở nhiều địa phương và đơn vị cơ sở.

Trong khoảng thời gian 1981 - 1985, mặc dù một số chỉ báo kinh tế có mức tăng trưởng khá hơn so với thời kỳ 1976 - 1980, nhưng do chúng ta vấp phải một số sai lầm thể hiện tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí, trước hết và chủ yếu là trong lĩnh vực lưu thông, phân phối, với chính sách giá - lương - tiền, nên  đã dẫn đến những hậu quả tai hại.

Tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam vào giữa thập niên 80 dường như ngày càng lao nhanh vào khủng hoảng. Đến cuối năm 1985, đầu năm 1986, tình hình trở nên nghiêm trọng hơn. Sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục trì trệ, lương thực không đủ dùng. Các xí nghiệp luôn trong tình trạng “lãi giả lỗ thật”. Nhà nước bao cấp tràn lan. Lưu thông, phân phối ách tắc. Lạm phát phi mã đến mức kỷ lục. Đời sống nhân dân khó khăn cùng cực. Lương tháng của công nhân viên chức không đủ sống. Tiêu cực xã hội có điều kiện sinh sôi, nẩy nở. Nhân dân bất bình; họ cảm thấy không thể tiếp tục sống như cũ được nữa. Đảng và Nhà nước cũng thấy không thể duy trì những chính sách và cơ chế cũ. Khủng hoảng kinh tế - xã hội đã đến độ nguy hiểm.

Nhưng, trong khó khăn, nhân dân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện khả năng sáng tạo tuyệt vời. Khả năng sáng tạo đó được bắt đầu từ những “làm chui”, “phá rào”, những tìm tòi, thử nghiệm, đưa đến hiệu quả kinh tế - xã hội cao, rồi trở thành phong trào quần chúng, như thực hiện khoán trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, bù giá vào lương, kế hoạch 3 và quyền tự chủ tài chính của các xí nghiệp... Qua đó, nhận thức và kinh nghiệm về quản lý kinh tế-xã hội của các cấp Đảng, Nhà nước và của cả dân tộc ngày càng được nâng cao. Đây chính là tiền đề của đổi mới. Đã đến lúc đổi mới là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với dân tộc Việt Nam.

Tháng 12-1986, Đại hội VI của Đảng đã chủ trương “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, nghiêm khắc tự phê bình những chủ trương, chính sách sai lầm vừa mang tính giáo điều, bảo thủ, lại vừa chủ quan, duy ý chí trong việc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đó. Đại hội đã đề ra đưòng lối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng, đi vào thế ổn định và phát triển.

Công cuộc đổi mới của chúng ta vừa mới bắt đầu thì những biến động dồn dập trên thế giới đã gây những tác động bất lợi lớn. Hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ khiến cho các quan hệ thương mại, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, các hiệp định, chương trình hợp tác, liên doanh đều bị đỗ vỡ. Việt Nam đứng trước những khó khăn và thách thức hết sức to lớn. Trong thời gian này, nhiều bạn bè quốc tế đã biểu lộ sự lo lắng cho Việt Nam.

Đường lối đổi mới của chúng ta dựa trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn, những sáng tạo của nhân dân và trên cơ sở nghiên cứu lý luận, từ bỏ những ảo tưởng đã từng có trong cán bộ và nhân dân về một mô hình có sẵn, cũng như những ảo tưởng chủ quan, duy ý chí, xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, lấy dân làm gốc và được tiến hành từng bước phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước.

Các nước xã hội chủ nghĩa khác chủ trương thực hiện cải tổ, cải cách, sữa chữa sai lầm, còn Việt Nam chủ trương đổi mới. Tuy vậy, có lúc không ít người đã cho rằng đổi mới của Việt Nam là con đẻ của perextrôika của Liên Xô. Trên thực tế, con đường đổi mới của Việt Nam hoàn toàn khác. Nó không chịu sức ép của perextrôika, càng không phải là con đẻ của perextrôika. Đổi mới của Việt Nam là con đẻ của sự sáng tạo của nhân dân, của trí tuệ các nhà hoạch định chính sách quốc gia và các nhà khoa học Việt Nam. Việc hình thành đường lối đổi mới là một quá trình không theo phương thức “liệu pháp sốc”, mà là vừa thử nghiệm, vừa điều chỉnh, vừa tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, phát huy sự sáng tạo của nhân dân, lại vừa nghiên cứu lý luận và tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Đại hội VI của Đảng (1986) là một điểm mốc đặc biệt quan trọng của quá trình đổi mới, bởi ở đó, lần đầu tiên hình thành một cách toàn diện nhất mục tiêu, nội dung, con đường và các biện pháp tiến hành đổi mới. Có thể diễn đạt một số nội dung cơ bản của đổi mới đã và đang được thực hiện kể từ Đại hội VI (1986) đến nay:

1. Đổi mới quan niệm về chủ nghĩa xã hội với tính cách là mục tiêu đi tới của dân tộc Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Mục tiêu đó thể hiện tư tưởng lấy dân làm gốc được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa từ truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc và phát triển với những nội dung mới trong thời đại ngày nay. Chính vì vậy, việc kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa đã được toàn thể nhân dân Việt Nam ủng hộ tích cực.

2. Chuyển nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, theo mô hình Liên Xô sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này có nghĩa, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần (quốc doanh, tập thể, cá thể, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước), trong đó kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo. Nền kinh tế ấy được quản lý không phải chủ yếu bằng các biện pháp hành chính, mà là bằng các biện pháp kinh tế. Chức năng quản lý hành chính của Nhà nước được tách khỏi chức năng quản lý sản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế.

3. Kết hợp phát triển kinh tế với thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo giữ vững ổn định chính trị, xã hội. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, sự bình đẳng giữa các dân tộc trong nước. Mở rộng dân chủ, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo dựng một xã hội văn minh.

4. Đổi mới cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Từng bước  xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Con người được đặt ở vị trí trung tâm của mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

5. Thực hiện chính sách đối ngoại đa phương, mở cửa; tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế với tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới; phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.

Đổi mới là đường lối sáng tạo độc đáo, độc lập, tự chủ của Việt Nam, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, trong khi cải tổ, cải cách, sữa chữa sai lầm ở các nước gặp thất bại thì đổi mới của Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất cơ bản, to lớn và có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện.

Xuất phát từ chỗ Việt Nam là một nước nông nghiệp sản xuất nhỏ, sản xuất lương thực không đủ ăn, nên đổi mới trong nông nghiệp được xem là khâu đột phá. Hộ gia đình nông dân được xem là đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định, lâu dài. Nông dân được hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, được hướng dẫn chuyển giao công nghệ, khoa học, kỹ thuật và được tự do bán sản phẩm trên thị trường. Hiện nay, họ cũng có cả quyền trực tiếp xuất khẩu các sản phẩm của mình ra nước ngoài. Nhờ vậy, những tiềm năng to lớn của nông dân mà trước đây các hợp tác xã không thể phát huy được thì nay đã được phát huy. Sản lượng lương thực từ 17,5 triệu tấn năm 1987 đã tăng lên 34,5 triệu tấn năm 2000. Trước đổi mới, hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu trung bình trên 1 triệu tấn lương thực. Năm 2000, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 4,5 triệu tấn gạo, đứng thứ 2 thế giới. An ninh lương thực được đảm bảo vững chắc.

Trong công nghiệp, các xí nghiệp được quyền tự chủ hạch toán kinh doanh, gắn sản xuất với thị trường trong và ngoài nước; cơ chế bao cấp dần dần bị xoá bỏ. Nhà nước khuyến khích đầu tư nước ngoài, mở rộng và phát triển các hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết trong sản xuất và kinh doanh. Tất cả các thành phần kinh tế đều bình đẳng. Từ năm 1991 đến nay, sản xuất công nghiệp liên tục đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, từ 10 - 14%/năm. Trong 5 năm (1996 - 2000), giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm tăng 13,5%. Nếu lấy giá trị sản xuất công nghiệp năm 1994 làm so sánh thì giá trị sản xuất công nghiệp năm 2000 tăng gần 2 lần. Trước đổi mới, các ngành dịch vụ không được coi trọng và do vậy, kém phát triển, nhưng từ đầu những năm 90 đã bắt đầu tăng tốc phát triển.

Cơ cấu kinh tế quốc dân trong thời kỳ đổi mới đã thực sự có những bước chuyển dịch tích cực. So với năm 1985, tỷ trọng của các ngành nông, lâm, thuỷ sản trong GDP năm 2000 đã giảm từ 43% xuống 24,3%, còn tỷ trọng của công nghiệp tăng từ 22,7% lên 36,6%, của các ngành dịch vụ tăng từ 27,7% lên gần 40%. Đồng thời, tất cả những thành quả đó cũng được thể hiện trong việc đẩy lùi lạm phát hàng năm (từ ba con số xuống một con số) và nhờ vậy, giá trị đồng nội tệ được nâng cao.

Thực hiện chính sách mở cửa, chủ động hội nhập trong quá trình đổi mới, Việt Nam đã mở rộng thành công quan hệ kinh tế đối ngoại, từng bước hội nhập với khu vực và quốc tế. Kim ngạch xuất khẩu năm 1987 chỉ có 723,9 triệu USD, năm 2000 đã đạt khoảng 14,3 tỷ USD, còn kim ngạch nhập khẩu trong giai đoạn đó tăng từ 2,15 tỷ lên 15,2 tỷ USD. Từ chỗ nhập siêu hàng năm rất lớn, đến nay cán cân thương mại đã dần dần tiến tới cân bằng. Đầu tư nước ngoài gia tăng nhanh chóng. Đến đầu năm 2000, đã có khoảng 700 công ty của gần 70 nước và khu vực lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với khoảng 2290 dự án và 35,5 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó khoảng 1/2 số vốn đã được thực hiện. Việt Nam hiện có quan hệ thương mại với 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 3,9% trong giai đoạn 1986-1990 lên 8,21% trong giai đoạn 1991  - 1995 và 7% trong giai đoạn 1996 - 2000. Tổng sản phẩm trong nước năm 2000 so với năm 1990 tăng hơn gấp đôi (2,07 lần).

Những thành tựu kinh tế đạt được đã tạo nên những bước phát triển tiến bộ trong đời sống xã hội. Đời sống nhân dân được cải thiện rất căn bản so với trước đổi mới. 85% số hộ gia đình tự đánh giá có mức sống khá hơn thời kỳ trước đổi mới. Thu nhập bình quân đầu người từ khoảng gần 200 USD năm 1990 đã tăng lên 400 USD năm 2000. Công tác “xoá đói giảm nghèo” cùng với việc khuyến khích làm giàu chính đáng được triển khai nhanh chóng trên tất cả các vùng lãnh thổ đất nước. Tỷ lệ hộ giàu và khá đã tăng lên; tỷ lệ hộ nghèo đói giảm nhanh chóng, chỉ còn khoảng 10% vào năm 2000.

Trong đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế thị trường, tính năng động của các tầng lớp dân cư được khơi dậy và phát huy mạnh mẽ, tạo nên một động lực quan trọng để đẩy lùi nhanh chóng tình trạng suy thoái, thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển sản xuất và cải thiện đời sống. Người lao động bớt dần thái độ thụ động, chờ đợi bao cấp của Nhà nước cả trong việc giải quyết công ăn việc làm. Tính từ 1991 đến nay, hàng năm có khoảng 1,2 triệu việc làm được tạo ra, làm giảm bớt súc ép của nạn thất nghiệp. Nhà nước có thêm khả năng huy động các nguồn lực cho sự phát triển xã hội. Hàng năm, khoảng 25% ngân sách được dành cho các chương trình xã hội như dân số và kế hoạch hoá gia đình, giáo dục, y tế, phòng chống tệ nạn xã hội... Nhờ đó, tỷ lệ tăng dân số đã giảm từ trên 2,3% vào cuối những năm 80 xuống còn 1,4% vào năm 2000. Hệ thống giáo dục có bước phát triển mới về quy mô và hình thức đào tạo. Đất nước hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, bắt đầu phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố và các tỉnh đồng bằng. Công tác y tế có những chuyển biến rõ rệt trong việc phòng chữa bệnh, hạ thấp tỷ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ sơ sinh, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi. Phong trào “đền ơn đáp nghĩa” đối với những người có công với nước, giúp đỡ, cưu mang những người có hoàn cảnh đặc biệt (mô côi, tàn tật...) đã phát triển rộng khắp trong cả nước. Tuổi thọ bình quân của dân cư trong 5 năm gần đây tăng từ 65,2 lên 68,3.

Điểm khác biệt và là thành quả quan trọng của đổi mới ở Việt Nam là ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Ổn định chính trị như một tiền đề quan trọng của đổi mới, bởi thiếu nó, không thể có một cải cách, đổi mới nào diễn ra. Từ kinh nghiệm của mình, Việt Nam hết sức coi trọng việc giữ vững ổn định chính trị, xã hội nhằm tiếp tục con đường đổi mới.

Những thành tựu của 15 năm đổi mới vừa qua là rất to lớn và có ý nghĩa quan trọng, tạo nên thế và lực mới cho dân tộc Việt Nam, tạo đà cho việc chuyển sang giai đoạn phát triển mới - giai đoạn đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những thành tựu đó là cơ sở vững chắc để dân tộc Việt Nam bước vào thiên niên kỷ phát triển nhanh và bền vững, rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các quốc gia khác trên thế giới, thực hiện mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”([1]), góp phần tích cực vào sự nghiệp hoà bình, ổn định và phát triển của nhân loại.

 

 


([1]) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 85-86.

Đã xem: 468
Thời gian đăng: Thứ hai - 02/02/2015 22:45
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất