QC Shop

Quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa và đời sống xã hội dân sự

GS, TS. Lê Văn Quang(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 3(154), tháng 3 - 2004

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Việc thực hiện chức năng xã hội - chính trị và chức năng xã hội - dân sự của các loại hình nhà nước là nội dung cơ bản nhất, đánh giá sự khác biệt về chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa so với các nhà nước trước đó trong mối quan hệ với xã hội dân sự. Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa có khả năng khách quan, vừa có thể phát huy đầy đủ nhân tố chủ quan nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ đó. Do vị trí lịch sử và sứ mệnh thế giới của giai cấp công nhân nên Nhà nước của giai cấp ấy tồn tại với tư cách là phương tiện để xây dựng xã hội mới, và trong đó đã bao hàm sự thống nhất chặt chẽ giữa tính chính trị - giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân. Đó là định hướng mácxít rất quan trọng đối với chúng ta trong xây dựng và hoàn thiện mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân với đời sống xã hội dân sự. Chính vì vậy, trong quá trình phát triển quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân với đời sống xã hội dân sự ở Việt Nam, phải thường xuyên đánh giá việc thực hiện thống nhất các chức năng xã hội - chính trị và xã hội - dân sự của Nhà nước; thường xuyên phát hiện những vấn đề bất cập để không ngừng hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước với các định chế xã hội dân sự.

Quan hệ giữa nhà nước với xã hội dân sự là quan hệ giữa hệ thống thiết chế điều tiết với khách thể của sự điều tiết ấy; đồng thời, đó còn là quan hệ giữa bản thân thiết chế với cơ sở xã hội của thiết chế ấy. Trong đó, những nội dung quan trọng nhất cần khẳng định chính là phương thức mà Nhà nước xã hội chủ nghĩa sử dụng để giải quyết các mối liên hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ, giữa chính trị và nhân văn, giữa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế nhiều thành phần và phát huy đại đoàn kết dân tộc, giữa thực hiện chức năng xã hội - chính trị và chức năng xã hội - dân sự trên các phương diện của đời sống xã hội.

Tập trung và dân chủ có mối liên hệ biện chứng sâu sắc với việc tổ chức nhà nước và thực hiện các chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tập trung biểu thị xu thế thống nhất mọi phương thức tổ chức và hoạt động của các thiết chế xã hội. Đặc biệt, với thiết chế xã hội - nhà nước, tập trung bao giờ cũng dẫn đến thống nhất quyền lực và là cơ sở cho quá trình thống nhất quyền lực, thường là theo hệ thống "dọc", cấp dưới phải phục tùng cấp trên, đồng thời cấp trên phải có trách nhiệm đầy đủ với cấp dưới. Dân chủ biểu thị xu thế mở rộng cơ sở xã hội của từng hệ thống thiết chế xã hội, và đối với thiết chế xã hội - nhà nước, nó tạo ra cơ sở xã hội cho sự phân công quyền lực, đồng thời là con đường tất yếu dẫn đến quá trình phân công quyền lực theo hệ thống "ngang". Mối liên hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ cũng được biểu hiện rất sống động trong đời sống xã hội. Ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, như chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội..., nếu không có sự thống nhất về tổ chức và hoạt động tất sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ. Song, nếu quá nhấn mạnh sự thống nhất, tập trung mà không chú ý thiết lập và thực hiện dân chủ thì sẽ đẩy tập trung đến tình trạng độc tài, quan liêu. Trong trường hợp như vậy, cho dù có thực hiện và đảm bảo được nguyên tắc thống nhất, tập trung, các tổ chức xã hội cũng không thể phát huy được sức mạnh thực sự của mình.

Giải quyết mối liên hệ giữa tập trung và dân chủ là nguyên tắc cơ bản hàng đầu trong phương thức tổ chức và hoạt động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Điều đó được quy định một cách khách quan, bởi sứ mệnh lịch sử của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tự giác tổ chức xây dựng một xã hội hoàn toàn mới về chất. Hơn nữa, do bản chất giai cấp công nhân luôn gắn liền với tính chất nhân dân, tính dân tộc và tính quốc tế nên Nhà nước xã hội chủ nghĩa càng phải thực hiện thống nhất các chức năng của mình trên cơ sở giải quyết thoả đáng mối liên hệ hữu cơ giữa tập trung và dân chủ. Thực tiễn lịch sử phát triển của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã cho thấy, phương thức tổ chức và hoạt động của hình thái nhà nước này chỉ đạt hiệu quả tối ưu khi nó thực hiện được tập trung đi liền với dân chủ. Quản lý tập trung là yêu cầu có tính nguyên tắc để nhà nước thực hiện hiệu quả chức năng xã hội - chính trị, nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ sự nghiệp tổ chức xây dựng xã hội mới. Còn phát huy dân chủ là yêu cầu có tính nguyên tắc để nhà nước thực hiện hiệu quả chức năng xã hội - dân sự, hướng mọi hoạt động vào việc giải quyết các vấn đề xã hội - dân sự nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động.

Phương thức giải quyết mối liên hệ biện chứng giữa chính trị và nhân văn cũng là một khía cạnh biểu hiện đa dạng sự thống nhất trong việc thực hiện các chức năng xã hội - chính trị và xã hội - dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Thực chất của mối liên hệ biện chứng giữa chính trị và nhân văn trong đời sống xã hội là mối liên hệ giữa việc giữ vững định hướng phát triển của toàn bộ xã hội theo lập trường và lợi ích của giai cấp thống trị với yêu cầu tổ chức mọi hoạt động của xã hội theo tiêu chí tất cả từ con người, do con người và cho con người. Về phương diện nhà nước, cách thức giải quyết mối liên hệ giữa chính trị và nhân văn là một trong những tiêu chí căn bản để phân định nhà nước tiến bộ với nhà nước phản động. Giai cấp thống trị, trong khi thực hiện quyền lực thống trị về chính trị, phải đồng thời giải quyết mọi vấn đề xã hội theo những tiêu chí nhân văn, xét đến cùng là giải quyết các vấn đề liên quan đến con người và quyền con người. Tuy nhiên, chỉ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất giữa chính trị và nhân văn mới đạt tới mức độ triệt để. Bởi vì, xét về mặt bản chất, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một thiết chế xã hội đặc biệt, nhằm mục đích cuối cùng là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Chỉ có dưới chủ nghĩa xã hội thì mọi vấn đề xã hội, kể cả những vấn đề chính trị - giai cấp cơ bản nhất, mới thực sự xuất phát từ con người, hướng tới lợi ích tối cao là con người và được thực hiện trên cơ sở phát huy vai trò của con người. Mặt khác, chỉ có Nhà nước xã hội chủ nghĩa mới là kiểu thiết chế xã hội có đủ điều kiện và khả năng giải phóng triệt để con người, khôi phục vị trí xứng đáng của con người trên các phương diện: làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình.

Từ cơ sở phương pháp ấy, có thể thấy, mọi vấn đề của đời sống xã hội đều được đặt trong sự quan tâm của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, cũng như mọi vấn đề trong phạm vi giải quyết của nhà nước đều phải được "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Điều đó đòi hỏi Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải luôn giải quyết các vấn đề chính trị gắn liền với đáp ứng được các nhu cầu nhân văn trong đời sống xã hội. Hơn nữa, điều đó còn làm cho phương thức tiến hành chính trị của Nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn thấm đậm tinh thần nhân văn, và ngược lại. Đồng thời, do tính nhân văn là phạm trù thuộc bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, cho nên việc giải quyết các vấn đề chính trị trong xã hội đều phải đặt trên cơ sở hướng tới thúc đẩy việc giải quyết tích cực, hoặc ít nhất không ảnh hưởng xấu đến các vấn đề dân sự. Mặt khác, chính sự thống nhất giữa chính trị và nhân văn làm cho quá trình giải quyết các vấn đề dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn bám  chắc định hướng chính trị - giai cấp, "quán triệt" được tinh thần chính trị tiến bộ nhất trong lịch sử của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xét đến cùng, phải hiện thực hoá theo hướng thống nhất giữa chính trị và nhân văn đối với tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, cũng như các quan hệ xã hội - dân sự và đời sống xã hội dân sự. Mặt khác, chỉ khi thấm nhuần sâu sắc sự thống nhất không thể tách rời giữa chính trị và nhân văn trong toàn bộ mọi tổ chức và hoạt động của mình, Nhà nước xã hội chủ nghĩa mới có thể thực hiện các chức năng xã hội của mình trong sự thống nhất biện chứng.

Mối liên hệ giữa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế nhiều thành phần và phát huy đại đoàn kết dân tộc là mối liên hệ thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, đó cũng chính là một nội dung cơ bản thể hiện sự thống nhất các chức năng xã hội - chính trị và xã hội - dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là không ngừng củng cố bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, làm cho mọi tổ chức và hoạt động của Nhà nước hướng vào thực hiện sứ mệnh lịch sử cao cả của giai cấp công nhân. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần phản ánh một trong những bước đi tất yếu của thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực. Phát huy đại đoàn kết dân tộc là phương thức cơ bản, tạo nên nền tảng xã hội rộng lớn để Nhà nước xã hội chủ nghĩa hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Các khía cạnh đó có mối liên hệ hữu cơ hết sức chặt chẽ, đồng thời hợp thành một nội dung chỉnh thể có sự tương tác biện chứng với nhau. Chúng vừa là điều kiện, tiền đề, vừa là kết quả của nhau. Trong đó, vấn đề giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa tập trung phản ánh khía cạnh xã hội - chính trị, còn phát triển nền kinh tế nhiều thành phần phản ánh khía cạnh xã hội - kinh tế và phát huy đại đoàn kết dân tộc thể hiện tập trung khía cạnh xã hội - dân sự của nội dung ấy. Hơn nữa, việc giải quyết thoả đáng mối liên hệ giữa vấn đề giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa với vấn đề phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và phát huy đại đoàn kết dân tộc vừa là một trong những tiêu chí không thể thiếu để đánh giá sự thực hiện thống nhất giữa các chức năng xã hội - chính trị và xã hội - dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, vừa là đòi hỏi tất yếu đối với sự thống nhất đó.

Quá trình phát triển các phương diện của đời sống xã hội đều chịu sự tác động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa thông qua chức năng xã hội - chính trị và xã hội - dân sự. Tác động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa làm cho phương diện chính trị phát triển theo hướng không ngừng hoàn thiện những nguyên tắc chính trị cơ bản do chính đảng của giai cấp công nhân đề ra; phương diện kinh tế phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện chế độ công hữu từ thấp đến cao, đồng thời thúc đẩy sự phát triển liên tục của lực lượng sản xuất; phương diện văn hoá của đời sống xã hội phát triển theo hướng khuyến khích sự sáng tạo những giá trị văn hoá tiên tiến, khơi thông sức sống từ chiều sâu lịch sử và tăng khả năng tích hợp tinh hoa văn hoá nhân loại của nền văn hoá dân tộc; phương diện xã hội phát triển theo hướng "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh"; phương diện quốc phòng và an ninh phát triển theo hướng gia tăng năng lực, tính hiệu quả của việc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong sự gắn kết chặt chẽ với toàn bộ tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tập hợp được tiềm lực quốc phòng từ mọi lực lượng của xã hội... Các phương diện khác của đời sống xã hội cũng chỉ phát triển lành mạnh dưới tác động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa thông qua việc thực hiện một cách thống nhất những chức năng xã hội của mình.

Quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với đời sống xã hội dân sự, một mặt, được thực hiện trực tiếp thông qua quan hệ giữa các cơ quan chính quyền nhà nước với các công dân; mặt khác, là quan hệ giữa Nhà nước với các định chế xã hội. Các định chế xã hội đó là tổng hoà của hệ thống tổ chức thiết chế xã hội với hệ thống quy định về phương thức tổ chức, hoạt động của cá nhân và cộng đồng theo những dạng thái quan hệ tương ứng, như các đảng phái, tổ chức chính trị, tổ chức cộng đồng dân cư, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng, tổ chức kinh tế... Quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các định chế xã hội chính trị và định chế xã hội dân sự tuân theo hệ thống các cơ chế quan hệ không đồng nhất với nhau, nhưng có mối liên hệ hữu cơ hết sức chặt chẽ.

Tuy nhiên, dù là quan hệ trực tiếp giữa Nhà nước với công dân hay quan hệ thông qua các định chế xã hội thì những tiêu chí (của dân, do dân, vì dân) của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng luôn đòi hỏi quan hệ giữa Nhà nước với đời sống xã hội dân sự phải được đặt trên nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lý giữa Nhà nước với các định chế xã hội và từng công dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa, một mặt, đòi hỏi mọi công dân và tổ chức xã hội phải tuân thủ đúng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; mặt khác, tạo mọi điều kiện thuận lợi và bảo đảm về mặt pháp luật cho quyền và nghĩa vụ đó một cách phù hợp với từng lĩnh vực tương ứng của đời sống xã hội. Đồng thời, Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng chính là người tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của mọi công dân, mọi tổ chức xã hội trong từng lĩnh vực xã hội, trên cơ sở giữ nghiêm pháp chế và mở rộng dân chủ. Do có sự thống nhất chặt chẽ giữa các chức năng, việc điều tiết của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với từng phương diện của đời sống xã hội luôn thống nhất, nhất quán, quyền đi đôi với nghĩa vụ và ngược lại. Mặt khác, sự thực hiện thống nhất giữa các chức năng của nhà nước đã khiến cho các quyền chính trị và quyền dân sự, quyền công dân và quyền con người được thể hiện một cách toàn diện ngay trong từng phương diện của đời sống xã hội. Điều đó còn cho phép Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện sự điều tiết hợp lý giữa lợi ích hợp pháp của công dân với lợi ích cộng đồng, lợi ích nhà nước và lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích xã hội - chính trị với lợi ích xã hội - dân sự...

Trong quá trình củng cố nhà nước và hệ thống pháp luật, sự thống nhất các chức năng xã hội - chính trị và xã hội - dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa biểu hiện tập trung ở chỗ: xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trong mọi phương diện của đời sống xã hội, đặc biệt là dân chủ trực tiếp. Đặc trưng cơ bản của sự điều tiết xã hội bằng pháp luật là tính cưỡng chế cao, đó là phương thức rất quan trọng để giữ vững định hướng chính trị, bảo đảm môi trường chính trị ổn định cho các quan hệ dân sự. Tuy nhiên, pháp luật chỉ có hiệu lực thực tế khi gắn liền với phát huy dân chủ, đưa pháp luật vào đời sống dân sự, trở thành sự tự điều tiết của nhân dân. Bởi lẽ, xét đến cùng, quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với xã hội dân sự thực chất là quan hệ giữa giữ vững kỷ cương pháp luật với phát huy cao nhất quyền dân chủ của quần chúng nhân dân. Và, “phát huy  dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”(1) là cái tạo nên nét mới trong mối quan hệ giữa Nhà nước xã hội chủ nghĩa và đời sống xã hội dân sự. 

 


(*) Đại tá,  Giáo sư, tiến sĩ  triết học, Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự .

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  IX. Nxb Chính trị Quốc gia,  Hà Nội,  2001, tr.135.


 

 

 

Đã xem: 999
Thời gian đăng: Thứ tư - 03/06/2015 22:42
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất