QC Shop
Ảnh minh họa

Ba sai lầm trong nghiên cứu triết học mácxít ở Trung Quốc hiện nay(*)

Những năm gần đây, trong phong trào đổi mới triết học mácxít ở Trung Quốc, giới nghiên cứu triết học Trung Quốc đã phạm phải ba sai lầm cơ bản trong nghiên cứu triết học mácxít. Đó là, "Tâm thế phê phán sách giáo khoa" với một thái độ phi lịch sử; "Đòi hỏi tính học thuật" kiểu hình thức chủ nghĩa mà về thực chất là biến triết học mácxít thành lối học vấn mang tính hình thức suy diễn lôgíc thuần tuý, thành thứ "trò chơi trí tuệ" không có liên quan gì đến đời sống hiện thực; và "Mê tín giáo điều phương Tây" mà về thực chất là sử dụng các khái niệm hoặc lý luận triết học phương Tây để hoặc là lý giải, biện minh cho triết học mácxít, hoặc phê phán nó, hoặc là lấy những điểm giống nhau giữa triết học mácxít và triết học phương Tây để nói về tính hiện đại của triết học mácxít.

Thời gian đăng:: 17-09-2018 02:47:00 PM | Đã xem: 1285 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Về xu thế chính trị hóa tôn giáo trong quá trình toàn cầu hóa tại Ấn Độ

Chính trị hoá tôn giáo gồm rất nhiều vấn đề và là một quá trình phức tạp. Ở Ấn Độ, xu thế này nổi trội ở hai vấn đề: Thứ nhất, Ấn Độ hiện đang bước vào giai đoạn hậu thế tục hoá về chính trị và quyền lực các bang. Sức mạnh hùng hậu của BJP là một nhân tố lớn trong sự phát triển của Ấn Độ. Bên cạnh đó, trường phái thế tục của những người theo bước chân của J.Nehru cũng đang lớn mạnh và chính họ đã tạo ra cảm hứng và hy vọng không chỉ cho cộng đồng Hinđu giáo chiếm đa số mà cả những cộng đồng thiểu số như Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Thứ hai, đó là quá trình toàn cầu hoá với sự mở cửa và ảnh hưởng của nó tới Ấn Độ. Trong bài viết này, chúng tôi cũng đề cập tới một số nguyên nhân cơ bản khiến cho hiện tượng chính trị hoá tôn giáo tại Ấn Độ là không thể tránh khỏi và ngày càng phát triển mạnh mẽ với những thách thức không dễ gì có thể giải quyết.

Thời gian đăng:: 28-07-2018 05:22:00 PM | Đã xem: 3207 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Hàn Phi (khoảng 280 – 233 TCN)

Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi

Hàn Phi (khoảng 280 – 233 TCN) là người tập đại thành tư tưởng Pháp gia. Ông đã tiếp thu điểm ưu trội của ba trường pháp “pháp”, “thuật”, “thế” để xây dựng và phát triển một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời. Coi pháp luật là công cụ hữu hiệu để đem lại hoà bình, ổn định và công bằng, Hàn Phi đã đề xuất tư tưởng dùng luật pháp để trị nước. Ông đưa ra một số nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và thực thi pháp luật, như pháp luật phải nghiêm minh, không phân biệt sang hèn, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật... Với những tư tưởng đó, học thuyết của Hàn Phi được người xưa gọi là “học thuyết của đế vương”.

Thời gian đăng:: 28-07-2018 02:20:00 PM | Đã xem: 24242 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Khổng Tử (Ảnh minh họa)

Mấy ý kiến trao đổi về bài "Mẫu người quân tử - Con người toàn thiện trong "Luận ngữ" của Khổng Tử"

Mẫu người quân tử là vấn đề đã được nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên, sau khi đọc kỹ bài viết “Mẫu người quân tử – con người toàn thiện trong “Luận ngữ” của Khổng Tử” của tác giả Nguyễn Thị Kim Chung đăng trên Tạp chí Triết học, số 9, năm 2003, chúng tôi thấy cần thiết phải trao đổi với tác giả về một số vấn đề. Đó là, thứ nhất, về khái niệm mẫu người quân tử; thứ hai, về bản tính con người và đạo của người quân tử; thứ ba, nhận định của tác giả về tư tưởng Khổng Tử.

 

Thời gian đăng:: 03-07-2018 04:21:00 PM | Đã xem: 2000 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Bàn thêm về "Vô" và mối quan hệ giữa "Hữu" và "Vô" trong "Đạo đức kinh"

Từ trước tới nay, Vô trong Đạo đức kinh của Lão Tử thường được hiểu theo hai cách khác nhau. Có quan niệm coi Vô là “hư vô”, là hoàn toàn không có gì và do đó, Vô, Hữu là hai yếu tố đối lập tuyệt đối với nhau; quan niệm khác, ngược lại, cho rằng, Vô không phải là hư vô như nhiều người hiểu. Trong bài viết này, tôi đồng ý với quan niệm của tác giả Hoàng Ngọc Hiến khi coi Vô là thực tại. Cái Vô - thực tại đó cũng là Đạo tự nhiên, là cội nguồn của vạn vật. Tuy nhiên, theo tôi, Vô còn có thể được hiểu theo nghĩa là một trong hai mặt đối lập của Đạo, là bộ phận cấu thành vạn vật, là cái làm cho sự là nó.

Thời gian đăng:: 09-05-2018 03:04:00 PM | Đã xem: 3681 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Tư tưởng biện chứng trong Chu dịch

Chu Dịch là cuốn sách của người Trung Quốc ra đời cách đây 2500 năm, có ý nghĩa triết học sâu sắc. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập tới tư tưởng biện chứng của tác phẩm, thông qua quan niệm của người xưa về sự vận động và phát triển; về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng; về mâu thuẫn; về sự phủ định… Những quan niệm này đã thể hiện trình độ tư duy biện chứng của người Trung Quốc cổ đại. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử – xã hội và cả phương thức tư duy nên tư tưởng biện chứng được thể hiện trong Chu dịch vẫn còn có những hạn chế nhất định.

Thời gian đăng:: 24-04-2018 02:21:00 PM | Đã xem: 1960 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Khổng Tử (Ảnh minh họa)

Về việc nghiên cứu và ứng dụng Nho giáo, Đạo giáo ở Trung Quốc hiện nay

Trong quan niệm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện nay, việc kế thừa văn hoá truyền thống, đặc biệt là văn hoá Nho - Đạo có một giá trị xã hội vô cùng quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước và xây dựng nền văn minh tinh thần đương đại. Với quan niệm đó, họ đã khai thác các giá trị của Nho - Đạo ở nhiều lĩnh vực mà trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến một số lĩnh vực, như Trí tuệ sinh thái của Đạo gia và bảo vệ môi trường, văn hoá Đạo gia và sự phát triển khoa học hiện đại; Ý nghĩa hiện đại của Triết học nhân sinh của Đạo gia; trí tuệ Nho gia và công tác đào tạo “Nho thương hiện đại”; tính hai mặt của chữ “Hiếu” và giá trị xã hội của nó. Những nghiên cứu này đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội và trở thành xu thế phát triển của học thuật Trung Quốc thời nay.

Thời gian đăng:: 04-04-2018 02:29:00 PM | Đã xem: 2930 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Về khái niệm Niết bàn trong Phật giáo

Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn). Phật giáo Tiểu thừa hướng tới Vô dư Niết bàn - một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn - một Niết bàn nhân bản, nhập thế và hoạt động cùng những buồn vui nhân thế. Quan niệm này đã mang lại một sức hấp dẫn, sức sống mới cho Phật giáo, đặc biệt là trong xã hội hiện đại. 

Thời gian đăng:: 23-03-2018 02:08:00 PM | Đã xem: 5742 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Mạnh Tử (371 - 289 TCN)

Tư tưởng dân bản trong học thuyết nhân chính của Mạnh Tử

Nội dung xuyên suốt học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử là tư tưởng Dân bản - tư tưởng lấy dân làm gốc. Đối với Mạnh Tử, nhân nghĩa là cơ sở để trị nước, bình thiên hạ và điều chỉnh quan hệ xã hội; đồng thời, là điểm xuất phát để xây dựng tư tưởng Dân bản. Ông luôn nhấn mạnh, đề cao vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định của dân đối với sự thịnh suy của đất nước; đòi hỏi nhà cầm quyền phải thi hành nền chính trị nhân nghĩa nhằm thu phục nhân tâm. Bên cạnh đó, ông còn đưa ra những tư tưởng có giá trị nhân văn sâu sắc về khoan dân, bảo dân,…; đồng thời, nhấn mạnh sự cần thiết phải tu thân, dưỡng tính của con người. Có thể nói, cho đến nay, tư tưởng dân bản của Mạnh Tử vẫn còn ý nghĩa và giá trị thiết thực.

Thời gian đăng:: 02-02-2018 03:39:00 PM | Đã xem: 8407 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Khổng Tử (Ảnh minh họa)

Quan niệm về tính người của Nho giáo nhìn từ góc độ triết học

Vấn đề tính người thiện hay ác trong Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo thời Tiên Tần, được xem xét, bàn luận rất khác nhau. Luận điểm “tính tương cận dã, tập tương viễn dã” của Khổng Tử gây nhiều tranh luận hơn cả. Song, có thể thấy rằng, mệnh đề này mang tính mở, làm tiền đề cho các quan điểm khác về cùng vấn đề. Mạnh Tử và Tuân Tử lại có những thuyết cơ hồ trái ngược nhau về tính người nhưng nhìn chung, tư tưởng của các ông cũng có ảnh hưởng nhất định tới các Nho gia sau này.

Thời gian đăng:: 22-01-2018 02:44:00 PM | Đã xem: 6492 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Lê Quý Đôn (1726 – 1783)

Vấn đề bản thể luận trong Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn (1726 - 1783) là nhà tư tưởng lớn của nước ta ở thế kỷ XVIII. Trong sự nghiệp nghiên cứu và sáng tạo của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm quý giá, trong đó có Vân đài loại ngữ. Vấn đề bản thể luận trong tác phẩm này được ông trình bày qua phạm trù Lý - Khí, những phạm trù chủ yếu của Tống Nho. Song, do ảnh hưởng của tín ngưỡng bản địa, lại được thôi thúc bởi khuynh hướng “tam giáo đồng nguyên” đương thời, nên tư tưởng của ông cũng có nhiều điểm khác biệt so với Tống Nho.

Thời gian đăng:: 16-01-2018 01:01:00 PM | Đã xem: 2609 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Về con đường hội nhập và phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản

Phật giáo khi du nhập vào Nhật Bản đã trở thành một trong những yếu tố tạo nên nét đẹp trong văn hoá Nhật Bản. Tư tưởng cơ bản nhất của nó là nguyên tắc siêu nghiệm và phủ nhận thế giới hiện thực khách quan, mục tiêu chủ đạo là “cứu nhân độ thế”. Cùng với thời gian, Phật giáo Nhật Bản có những thay đổi lớn lao. Nhờ sự mở rộng phạm vi hoạt động của các tín đồ, Phật giáo có điều kiện thuận lợi để thẩm thấu, hoà trộn vào đời sống của nhân dân và có khả năng thích ứng với những biến đổi của thời đại. Trong quá trình hội nhập và phát triển, Phật giáo ở Nhật Bản đã thiết lập được mối quan hệ thân thiện với các tôn giáo khác, và do vậy, nó dễ được người dân nơi đây chấp nhận.

Thời gian đăng:: 10-01-2018 03:13:00 PM | Đã xem: 2168 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Về phạm trù "đức" trong học thuyết của Đạo gia

Về phạm trù “Đức”, Đạo gia có quan niệm hoàn toàn khác so với Nho gia. “Đức” của Đạo gia gần gũi với vũ trụ và là sự thể hiện của “Đạo”. Nhờ “Đức”, vạn vật được sinh sôi, nảy nở và phát triển. Với quan niệm như vậy, Lão Tử chủ trương con người phải tu thân để đạt được “Đức”, bởi chính nó làm cho con người trở thành chân nhân, trở về với căn nguyên, bản tính của mình.

 

Thời gian đăng:: 08-01-2018 02:18:00 PM | Đã xem: 2557 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Một số nội dung cơ bản của phạm trù “Hiếu” trong Nho giáo sơ kỳ

Bài viết trình bày bốn nội dung cơ bản của phạm trù hiếu trong Nho giáo sơ kỳ. Thứ nhất, về nuôi dưỡng, kính trọng cha mẹ, Khổng Tử và các học trò của ông đều cho rằng, trong sự báo hiếu của người con đối với cha mẹ, nuôi dưỡng phải đi liền với kính trọng. Thứ hai, giữ gìn thân thể mình để nuôi chí hướng của ông cha cũng là sự báo hiếu các bậc sinh thành. Thứ ba, làm con thì phải vâng lời cha mẹ, nhưng khi cha mẹ sai lầm thì con cũng phải biết can ngăn. Thứ tư, hiếu không chỉ thể hiện ở lòng kính yêu khi cha mẹ còn sống, mà còn thể hiện ở lòng tiếc thương và việc hành lễ không cẩu thả, không thái quá của người con khi cha mẹ qua đời. 

Thời gian đăng:: 23-12-2016 02:34:39 PM | Đã xem: 3196 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Đặng Tiểu Bình (1904 - 1997)

Những suy tư triết học của Đặng Tiểu Bình trong việc xác lập lại đường lối tư tưởng chủ nghĩa Mác

Trong bài viết này, tác giả đã tập trung phân tích nhằm làm sáng tỏ những suy tư triết học của Đặng Tiểu Bình trong việc xác lập lại đường lối tư tưởng chủ nghĩa Mác ở Trung Quốc. Theo tác giả, những cống hiến lý luận quan trọng của Đặng Tiểu Bình thể hiện chủ yếu ở: 1/ Phân tích tư tưởng Mao Trạch Đông trên cơ sở mối quan hệ giữa toàn thể và bộ phận, giữa lý luận và thực tiễn; 2/ Xuất phát từ mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và cái đặc thù để giải quyết vấn đề kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác với thực tiễn cụ thể của Trung Quốc; 3/ Dựa vào mối quan hệ giữa tính gián đoạn và tính liên tục để giải quyết vấn đề kế thừa và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác.

Thời gian đăng:: 11-10-2016 02:38:05 PM | Đã xem: 3429 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Khổng Tử (551 TCN - 479 TCN)

Quân tử và tiểu nhân trong Luận ngữ

Bài viết trình bày và phân tích sự phân loại con người theo tiêu chuẩn đạo đức thành quân tử và tiểu nhân của Nho giáo, chủ yếu là trên cơ sở quan niệm của Khổng Tử về quân tử và tiểu nhân trong Luận ngữ. Tác giả chỉ ra ba điểm khác nhau cơ bản giữa hai loại người này: một là, trên phương diện làm theo đạo “Trung dung”; hai là, trên phương diện nhận thức về nghĩa và lợi; và ba là, trên phương diện thực hành đạo đức. Từ đó, bài viết chỉ ra ý nghĩa sâu xa của việc Nho giáo so sánh hai loại người này và mục đích giáo dục của Nho giáo.

Thời gian đăng:: 11-10-2016 02:30:09 PM | Đã xem: 3388 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Dasan Jeong Yak Young (1762 - 1836)

Những nét đặc sắc trong khái niệm “Thiên” của Dasan Jeong Yak Young

Dasan Jeong Yak Young là một học giả nổi tiếng của Hàn Quốc cuối thời Joseon. Trước tình hình loạn lạc đương thời, Dasan đã tìm kiếm những cách thức tái lập thế giới nhân luân, ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Ông đã hướng sự phê phán của mình vào toàn bộ hệ thống học vấn đương thời, trong đó có cả tính lý học vốn đang là quan học, và tìm cách xây dựng hệ học vấn mới - vẫn dựa trên nền tảng Nho học nhưng đã có những cải biến căn bản, nhất là quan niệm mới mẻ của Dasan về “Thiên”. Dasan phê phán quan niệm “Thiên” của Chu Tử học, đồng thời bổ sung ý nghĩa “Thượng đế” vào “Thiên” và hình thành khái niệm “Thượng đế thiên”. Trong đó, Thượng đế là lực lượng siêu nhiên sinh thành và cai quản vạn vật, là bản thể tuyệt đối và đầu tiên, vượt ra ngoài tư duy “thiên nhân hợp nhất” truyền thống của phương Đông. Thượng đế và con người tương tác theo phương thức Thượng đế ra lệnh cho con người, con người tuân theo mệnh lệnh của Thượng đế. Nội dung và mục đích của sự tương tác này chính là thực hiện nhân luân. Con người, trong quá trình phục tùng mệnh lệnh của Thượng đế, có thể kiến lập thế giới nhân luân và đưa xã hội trở lại vòng trật tự.

Thời gian đăng:: 10-10-2016 03:20:33 PM | Đã xem: 1353 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Chu Hy (1130 - 1200)

Nội dung cơ bản trong “Xã thương pháp” của Chu Hy và vai trò đảm bảo xã hội của nó

Chế độ lấy vật chất hiện thực để đảm bảo xã hội có lịch sử lâu đời ở Trung Quốc cổ đại, trong số đó được tôn sùng là “Xã thương pháp” của Chu Tử. Nội dung cơ bản của nó là: thứ nhất, xã thương thiết lập ở hương lý, quan đốc dân làm; thứ hai, cho vay mượn để thu lợi tức, tự hành tích luỹ của cải, tài sản; thứ ba, tác dụng của xã thương pháp đối với những năm mất mùa là cứu tế, những năm không mất mùa là giúp đỡ người nghèo, đảm bảo sức sản xuất, tái sản xuất. Thực thi xã thương pháp không chỉ giảm gánh nặng kinh tế cho triều đình, mà còn làm thay đổi quan điểm của triều đình đối với người dân gặp thiên tai. Ngoài ra, xã thương pháp còn có tác dụng giáo dục nông dân về ý thức tự đảm bảo cuộc sống và duy trì sự ổn định của xã hội. 

Thời gian đăng:: 10-10-2016 02:57:41 PM | Đã xem: 1241 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969)

Khổng Tử và Hồ Chí Minh: Những tương đồng và khác biệt trong tư tưởng đạo đức

Bài viết so sánh một cách trực diện quan điểm đạo đức của Khổng Tử và Hồ Chí Minh ở một số vấn đề cụ thể. Theo tác giả, tư tưởng đạo đức Nho giáo do Khổng Tử sáng lập là một trong những nguồn gốc của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và do đó, những tương đồng trong tư tưởng đạo đức giữa Khổng Tử và Hồ Chí Minh là tất yếu. Song, do thời đại lịch sử và vai trò lịch sử khác nhau, việc tồn tại những khác biệt trong tư tưởng đạo đức giữa Khổng Tử và Hồ Chí Minh cũng là tất yếu.

Thời gian đăng:: 06-10-2016 03:03:03 PM | Đã xem: 9147 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Cải cách mở cửa - sự lựa chọn then chốt quyết định vận mệnh Trung Quốc đương đại

Bài viết đưa ra những luận giải để làm rõ rằng, xét từ tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời kỳ mới, việc kiên trì chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc đồng nghĩa với việc cải cách mở cửa. Cải cách mở cửa mà thoát ly chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội mà không có cải cách mở cửa đều dẫn đến đường cụt. Theo tác giả, cải cách mở cửa là sự lựa chọn mang tính lịch sử liên quan đến việc Trung Quốc giương lá cờ gì và đi con đường nào, là sự lựa chọn duy nhất nhằm vượt qua thách thức, tiếp thêm sức sống cho xã hội. Đồng thời, đó là sự lựa chọn đúng đắn trong quá trình không ngừng loại bỏ những sai lầm nhằm thích ứng với những biến động lớn về cục diện lợi ích thế giới trong bối cảnh mới và luôn đại diện trung thành cho lợi ích của nhân dân v.v.. 

Thời gian đăng:: 21-09-2016 03:11:26 PM | Đã xem: 1444 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông

Các tin khác

1 2 3 4  Trang sau
 

Bài mới nhất