QC Shop

Bước đầu tìm hiểu một số vấn đề nhận thức luận trong "Chu dịch"

Ths. Nguyễn Tài Đông

Nguồn: Triết học, số 2 (129), tháng 2 - 2002

Nhận thức luận không phải là vấn đề nổi bật nhất của triết học Trung Quốc cổ đại. Trong ba vấn đề lớn của triết học là vũ trụ luận, nhân sinh luận và tri thức luận, các triết gia Trung Quốc thời Tiên Tần chủ yếu tập trung vào hai vấn đề là vũ trụ luận và nhân sinh luận.

Ảnh chỉ có tính chất minh họa

Ảnh chỉ có tính chất minh họa

Các câu hỏi liên quan đến nguồn gốc của thế giới, sự sinh thành, biến đổi của vạn vật, bản thể của con người cũng như con người phải làm những gì được giải đáp một cách khá đầy đủ và sâu sắc. Còn các câu hỏi liên quan đến khả năng nhận thức, tính chất của tri thức cũng như các quy phạm của tri thức ít được các học phái bàn đến. Nhận xét về nguyên nhân của tình hình trên, Phùng Hữu Lan có viết: "Trong lịch sử cận đại của Tây Dương, có một việc rất trọng yếu ấy là tự giác về cái ta. Sau khi đã tự giác thì thế giới "ta" liền chia ra làm hai: "ta" và "không phải ta". "Ta" là chủ quan, ngoài "ta" là thế giới khách quan, đều là "không phải ta". Đã chia ra ta và không phải ta rồi giữa khách quan và chủ quan liền có cái hố phân ly không thể vượt qua, và vấn đề "ta" làm sao biết được "không phải ta" bèn nảy sinh ra, và Tri thức luận liền biến thành một bộ phận trọng yếu trong triết học Tây Dương. Trong tư tưởng của người Trung Quốc chưa có tự giác một cách rõ ràng về cái ta, cho nên cũng chưa biết chia ra ta và không phải ta. Vì vậy mà vấn đề tri thức chưa trở thành một vấn đề trọng yếu trong triết học Trung Quốc" ([1]).

Song, không phải vì vậy mà triết học Trung Quốc cổ đại không có tri thức luận. Bởi vì muốn biết về bản thể, về con người thì trước hết phải biết cái "biết" đã. Tuy các triết gia thời đó không đặt hẳn ra thành vấn đề tri thức luận để nghiên cứu, song dù nói ra hay không nói ra, nhà tư tưởng nào cũng phải giải quyết được vấn đề nhận thức để làm cơ sở cho hệ thống lý luận của mình. Chính vì vậy mà việc tìm hiểu vấn đề nhận thức luận của “Kinh Dịch” sẽ là chìa khoá để tiếp cận đầu mối thâu tóm của các trường phái triết học thời Bách gia chư tử.

Chu Dịch là một bộ sách có tầm quan trọng đặc biệt trong triết học Trung Quốc. Các tiên nho xếp kinh này vào vị trí hàng đầu trong số các kinh -  "Dịch quán quần kinh chi thủ" ([2]) (Kinh Dịch đứng đầu trong tất cả các bộ kinh). Các học giả phương Tây coi trọng “Kinh Dịch” ([3]) vì nó là một trong số ít những quyển sách Trung Quốc thời Tiên Tần mang đậm tính chất triết học. Uylơ Đurăng (Will Durant) viết: "Trong văn học Trung Hoa chỉ có mỗi một tác phẩm khá quan trọng về siêu hình học, một tác phẩm kỳ dị mở đầu cho lịch sử, tư tưởng Trung Hoa, tức bộ Kinh Dịch" (4). Do được hình thành, bổ sung và phát triển trong một thời gian dài, kéo suốt qua cả thời kỳ Xuân Thu và Chiến Quốc nên “Chu Dịch” mang trong mình tầm vóc của đủ các học thuyết thời kỳ này. Chính vì vậy mà từ xưa đến nay đã có không biết bao nhiêu cuốn sách khảo luận, chú giải “Kinh Dịch” của cả Trung Quốc, các nước Hán hoá và các nước phương Tây. Song, vấn đề đáng lưu ý là những nội dung liên quan đến phần tri thức luận của “Kinh Dịch” dường như rất ít được nhắc tới.

Đành rằng, so với các trường phái triết học Ấn Độ và triết học phương Tây, vấn đề tri thức, nhận thức ở phái Dịch học Trung Quốc có phần tương đối mờ nhạt, song cũng không thể nói là nó hoàn toàn bị lãng quên. Có khác chăng là việc gắn "tri" với "hành" đã trở thành truyền thống của triết học Trung Quốc. Nói đến tri là nói đến hành, và ở thời kỳ hoàn thành “Kinh Dịch”, thường là hành được chú trọng hơn tri (5). Các nhà làm Dịch ít đề cập trực tiếp tới vấn đề tri (khả năng của tri, đối tượng của tri, phương pháp tri, ...) mà thường lồng ghép những nội dung đó trong các vấn đề khác.

Mặc dù các vấn đề nhận thức luận nằm rải rác trong cả phần Kinh lẫn phần Truyện, song nó không phải là không có tính hệ thống. Tuy không có thứ tự về mặt hình thức, song các nội dung của nó vẫn có sự nhất trí trước sau. Trong bài viết này, các vấn đề nhận thức luận trong “Chu Dịch” chỉ giới hạn trong việc có thể dùng hệ thống khái niệm triết học phương Tây để chỉ ra. Trong “Chu Dịch”, vấn đề nhận thức luận có thể khảo sát ở ba vấn đề sau: nguyên lai của tri thức; đối tượng và công cụ nhận thức; phương pháp nhận thức.

NGUYÊN LAI CỦA TRI THỨC

Tri thức do đâu mà có ? Đây là câu hỏi lớn mà không một nhà triết học nào, không một trường phái triết học nào không đặt ra để giải quyết. Trong lịch sử triết học Trung Quốc đã từng có ba cách trả lời về vấn đề này. Một là, thuyết chủ ngoại thừa nhận tính độc lập tương đối của thế giới khách quan, cho rằng biết là do bên ngoài mà có. Hai là, thuyết kiêm trọng nội ngoại, cho rằng sở dĩ biết là do nó vừa nằm ở trong ta, vừa nằm ở ngoài ta. Ba là, thuyết chủ nội khẳng định biết là do ở trong ra, chứ không phải do ở ngoài vào và phủ nhận tính độc lập của ngoại giới ([4]). Về vấn đề này, chúng ta có thể xếp các nhà làm Dịch vào trường phái thứ nhất - thuyết chủ ngoại.

Các tác giả của “Kinh Dịch” cho rằng nguyên lai của tri thức đến từ thế giới bên ngoài, chứ không phải từ việc phản tỉnh nội tâm. Cái gọi là thế giới bên ngoài ở đây bao gồm cả chiều không gian và thời gian, cả vật hữu hình lẫn vô hình. Trong Hệ từ hạ truyện, chương IV có đoạn: "Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thi cố tri u minh chi cố. Nguyên thuỷ phản chung, cố tri sinh tử chi thuyết. Tinh khí vi vật, du hồn vi biến, thị cố tri quỷ thần chi tình trạng"(7)(“Ngẩng lên xem thiên trước, trở lại về sau, nên biết cái thuyết sống chết. Tinh và khí là vật chất hoạt động, hồn tan mà biến, nên biết được tình trạng quỷ thần”).

Các khái niệm thiên văn - địa lý; thuỷ - chung; tinh, khí - hồn cùng với sự sắp xếp mang tính cặp đôi đó đã thể hiện rõ tính rộng lớn khôn cùng của thế giới khách quan. Gốc của nhận thức là phải bắt đầu từ đó. Trong Hệ từ hạ truyện, chương II có đoạn viết: "Cổ giả Bào Hy thị chi vương thiên hạ dã, ngưỡng tắc quan tượng ư thiên, phủ tắc quan pháp ư địa, quan điểu thú chi văn dữ thiên địa chi nghi, cận thủ chư thân, viễn thủ chư vật, ư thị thuỷ tác bát quái dĩ thông thần minh chi đức, dĩ loại vạn vật chi tình" (“Ngày xưa họ Bào Hy cai trị thiên hạ, ngẩng lên thì xem các hình tượng trên trời, cúi xuống thì xem các phép tắc ở dưới đất, xem các văn vẻ của chim muông cùng những thích nghi với trời đất. Gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy ở vật, rồi làm ra bát quái để thông suốt cái đức thần minh ở điều hoà cái tình của vạn vật”). Đoạn văn đó nói về việc làm Dịch, song ý tưởng về việc nhận thức những quy luật của thế giới khách quan rất rõ nét. Trong một đoạn khác, các nhà làm Dịch khẳng định sự cần thiết của việc nhận thức thế giới khách quan: "Thị cố thiên sinh thần vật, thánh nhân tắc chi; thiên địa biến hoá, thánh nhân hiệu chi; thiên thuỳ tượng, hiện cát hung, thánh nhân tượng chi; Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi" (“Cho nên trời sinh ra thần vật thì thánh nhân áp dụng theo; trời đất biến hoá thì thánh nhân bắt chước; trời bày ra hình tượng, hiện ra tốt xấu thì thánh nhân phỏng theo mà nảy ra ý tượng; ở sông Hoàng Hà hiện ra bức đồ, ở sông Lạc hiện ra hình chữ thì thánh nhân áp dụng theo”. - Hệ từ thượng truyện, chương XI). Như vậy, chúng ta có thể khẳng định, theo các nhà làm Dịch, nguyên lai của tri thức đến từ bên ngoài con người.

ĐỐI TƯỢNG VÀ CÔNG CỤ NHẬN THỨC

Như trên đã trình bày, các nhà làm Dịch tuy không khẳng định một cách rõ ràng về đối tượng của nhận thức, song qua những sự thể hiện trong Hệ từ truyện (một trong những phần quan trọng nhất trong Dịch truyện), chúng ta có thể hiểu đối tượng của nhận thức là thế giới khách quan. Muốn hiểu rõ hơn về đối tượng của nhận thức, chúng ta phải tìm hiểu các công cụ nhận thức được trình bày trong Kinh Dịch. Bởi vì ở bất cứ hệ thống triết học nào cũng có một mối quan hệ biện chứng giữa đối tượng và công cụ; đối tượng nào thì công cụ ấy, công cụ nào thì đối tượng ấy.

Qua khảo sát “Chu Dịch”, chúng tôi nhận thấy có hai khái niệm - hai công cụ nhận thức, được trình bày khá rõ nét. Đó là TriQuan. Tuy trong Kinh Dịch, tri và quan không được định nghĩa, song qua việc khảo cứu đối tượng mà nó xem xét, ta có thể biết được nó như thế nào.

1. TRI

Các nhà làm Dịch rất nhấn mạnh đến vai trò của tri thức. Họ cho rằng nó có tác dụng lớn lao: "Tri biến hoá chi đạo giả, kỳ tri thần chi sở vi hồ"(8) (“Ai biết được đạo biến hoá thì biết được việc làm của thần chăng ?” -  Hệ từ thượng truyện, chương IX). Mặc dù câu này có màu sắc huyền bí, song không thể không thấy Dịch coi trọng tác dụng của hiểu biết, của tri thức như thế nào.

Tri có nghĩa là biết. Vậy khả năng của tri như thế nào ? Tri có thể hướng đến những đối tượng nào ?

Trước hết, mục tiêu của tri phải là mục đích của hành động. Văn ngôn truyện quẻ Càn viết: "Tri chí chí chi, khả dữ ngôn cơ" (nghĩa là biết mục tiêu tiến thủ mà nỗ lực thực hiện nó, người như vậy thì có thể cùng bàn về xu thế phát triển của sự vật). Cần lưu ý, chữ "ngôn" ở đây có nghĩa là bàn bạc. Dịch không nói là "nhận thức về cơ" hay tương tự như thế, mà nói là "bàn bạc về cơ". "Ngôn cơ" là một từ rất quan trọng. Người tầm thường không thể "ngôn cơ" được, mà cái đó chỉ dành cho bậc quân tử, thánh nhân. "Thức cơ tri lý", rồi sau đó mới hành động. Phải chăng đây là quan niệm "tiên tri hậu hành" sớm nhất trong sự phát triển quan niệm tri - hành của triết học Trung Quốc ?

Nhận thức được mục đích của hành động rồi, phải nhận thức được giới hạn của hành động. Cũng trong Văn ngôn truyện quẻ Càn có đoạn viết: "Tri chung chung chi, khả dữ tồn nghĩa” (nghĩa là biết được lúc chấm dứt mà chấm dứt kịp thời, thì có thể (cùng người ấy) bảo toàn trạng thái thích nghi cho sự vật phát triển). Muốn biết được giới hạn của hành động thì phải nhận thức được chiều hướng phát triển nào, đặc biệt là phải tránh tình trạng "tri tiến nhi bất tri thoái" (biết tiến mà không biết lui), "tri tồn nhi bất tri vong" (chỉ biết sinh tồn chứ không biết suy vong), "tri tiến thoái tồn vong nhi bất thất kỳ chính" (biết một cách sâu sắc cái đạo lý tiến, thoái, tồn, vong mà hành động không sai trái với đường lối đúng đắn. - Văn ngôn truyện quẻ Càn). Giải thích ý này, trong Chu Dịch Trình thị truyện, Trình Di viết: "Cực kỳ cực đoan thì gọi là "kháng". Kẻ đi đến chỗ "kháng" thì không biết cái lẽ tiến thoái, tồn vong, đắc táng. Thánh nhân thì biết rõ mà xử trí, không bao giờ sai trái, cho nên không đến nỗi "kháng" vậy"(9).

2. QUAN

Quan có nghĩa là xem xét, khảo sát; nó ở cấp độ cao hơn tri. Đối tượng và mục đích của quan trước hết là xem xét bản thân các nghĩa lý trong “Chu Dịch”, với các nội dung về những quy luật biến đổi của Dịch, lời chiêm đoán, tượng quẻ cũng như lời quẻ. Hiểu một cách tương đối, so với tri, nó mang tính hướng nội. Hệ từ thượng truyện viết: "Thị cố quân tử cư tắc quan kỳ tượng nhi ngoạn kỳ từ; động tắc quan kỳ biến nhi ngoạn kỳ chiêm; thị dĩ tự thiên hựu chi, cát vô bất lợi" (“Người quân tử khi ở yên thì xem tượng mà ngẫm nghĩ lời kinh; khi hữu sự thì xem sự biến hoá mà ngẫm nghĩ đời đoán quẻ; nhờ vậy mà được trời giúp cho gặp điều tốt, không có gì chẳng lợi”). Theo đó, trong nhận thức, nếu chỉ có "quan" không thì không đủ, không đáp ứng được nhu cầu hiểu biết với những tri thức mang tính phổ quát hơn. Đã "quan" (xem xét) thì phải "ngoạn" (nghiền ngẫm), từ đó mới thông suốt các lẽ nhân sự và thiên đạo, bất kể thời trị cũng như thời loạn.

Song, "quan" không chỉ dùng để xem xét các nghĩa lý của “Kinh Dịch”, mà nó còn có chức năng rộng lớn hơn nhiều. Nhiều đoạn trong Dịch kinh nêu lên đối tượng nhận thức cũng như tác dụng của quan là văn thái của toàn vũ trụ: trời đất cũng như con người. Thoán truyện quẻ Bí viết: "Quan hồ nhân văn(10) dĩ hoá thành thiên hạ" ("Quan sát vẻ đẹp (văn thái) của nhân loại, thì có thể thúc đẩy việc giáo hoá, giúp thiên hạ trở thành thịnh vượng, văn minh"). Dịch quan niệm rằng chỉ có bậc thánh nhân mới có thể quan sát được nhân văn để giáo hoá thiên hạ. Sở dĩ như vậy là vì nhận thức (từ tri đến quan, rồi đến ngoạn) là việc hoàn toàn không đơn giản, chỉ có những người kiến văn rộng rãi, khổ công suy tư, đào sâu tìm chân lý thì mới đạt đến điều đó. Ở đây, chúng tôi muốn nói thêm rằng tri và quan không phải hoàn toàn là nhận thức cảm tính, giản đơn; nhận thức dựa trên tri và quan không còn là nhận thức thuần tuý kinh nghiệm, cảm giác. Với Dịch, trong một số đoạn, chúng ta có thể hiểu tri và quan vừa là nhận thức cảm tính, vừa là nhận thức hợp với lý tính. Về mặt dụng, nó không chỉ là rao giảng mà còn là tư biện.

Đối tượng của quan không chỉ là con người, mà còn là toàn bộ thế giới khách quan. Thoán truyện quẻ Bí viết: "Quan hồ thiên văn dĩ sát thời biến" (“Quan sát văn thái của trời thì có thể biết được quy luật chuyển biến của bốn mùa”). Thoán truyện quẻ Quán cũng viết: "Quan thiên chi thần đạo nhi tứ thời bất thắc" (“Quan sát quy luật vận hành thần diệu của đại tự nhiên thì sẽ hiểu đúng quy luật thay đổi của bốn mùa mà không chút sai lẫn”). Như vậy, khả năng nhận thức của quan là vô cùng rộng lớn: cả trời đất, vũ trụ, vạn vật và con người. Ít nhất, chúng ta có thể khẳng định được điều này: Về cơ bản, Dịch lý hoàn toàn không phải là một thuyết bất khả tri. Ngược lại, các nhà làm Dịch cho rằng con người có thể nhận thức được thế giới bên ngoài, không chỉ những hiện tượng mà cả những quy luật vận động cơ bản nhất của nó, đồng thời con người còn có thể dựa vào những quy luật đó để phục vụ cho đời sống của mình(11).

PHƯƠNG PHÁP NHẬN THỨC

Phương pháp nhận thức luôn là vấn đề lớn nhất trong nghiên cứu nhận thức luận, đặc biệt là ở triết học Trung Quốc cổ đại, nơi mà vấn đề này thường bị coi nhẹ. Trong phần này, chúng tôi chỉ xin trình bày ba điểm gần với vấn đề cách nhận thức được trình bày trong “Chu Dịch”.

Một là, nhận thức luôn nằm trong quá trình. Hào sơ cửu quẻ Tuỳ viết: "Quan hữu du" ("Tư tưởng, quan niệm luôn luôn cải thiện"). Có một nhận thức luận động như thế là bởi “Chu Dịch” có một vũ trụ luận động. Muôn vật, muôn việc đều nằm trong quá trình sinh hoá không cùng và vì vậy, nhận thức, của con người cũng không thể chết cứng, không thể đứng yên.

Hai là, nhận thức luận trong “Chu Dịch” chú trọng đặc biệt tới nhận thức "thể" và "cơ" - nhận thức cái mầm mống quyết định chiều hướng phát triển của sự vật. Trong “Kinh Dịch” có nhiều đoạn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc nhận thức "cơ". Hệ từ truyện viết: "Duy cơ dã cố năng thành thiên hạ chi vụ" (“Chỉ nhờ xét cái tinh vi [cơ] nên mới hoàn thành được mọi việc trong thiên hạ”. - Thiên thượng, chương X); "Tử viết: Tri cơ kỳ thần hồ !... Cơ giả động chi vi, cát chi tiên kiến giả dã. Quân tử kiến cơ nhi tác, bất sĩ chung nhật" (“Thầy Khổng nói: Biết trước được cái triệu chứng (từ khi mới có dấu hiệu) thì quả là thần diệu!... Triệu chứng là cái dấu hiệu đầu tiên rất nhỏ của sự biến động, cát (hay hung) chưa hiện mà đã biết được”. - Thiên hạ, chương V). Ở đây, chúng ta cũng có thể thấy “Chu Dịch” chú trọng vào việc nhận thức quy luật vận động của sự vật, ít chú trọng tới nhận thức bản thân một sự vật chết cứng. Câu sau đây trong Hệ từ hạ truyện có lẽ phần nào diễn tả ý đó: "Tử viết: Thiên hạ hà tư hà lự, thiên hạ đồng quy nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự, thiên hạ hà tư hà lự ?" (“Thầy Khổng giảng: Đạo lý trong thiên hạ cần gì phải ngẫm nghĩ bằng ý riêng, tính toán bằng mẹo vặt, vì thiên hạ đường đi tuy khác nhau mà quy kết thì y như nhau: tính toán trăm lối mà cuối cùng chỉ tóm vào một lẽ, cần gì phải ngẫm nghĩ bằng ý riêng, tính toán bằng mẹo vặt”. -  Chương V).

Ba là, một lối tư duy được sử dụng rải rác trong “Chu Dịch” là tư duy liên tưởng. Tư duy liên tưởng khác với suy lý. Nếu suy lý là hình thức suy nghĩ dựa trên những tiền đề đúng, được thực tế kiểm nghiệm để rút ra một phán đoán mới, thì liên tưởng là suy nghĩ để rút ra một phán đoán mới dựa trên những mối liên hệ tương tự nhiều khi không đồng đẳng giữa các tiền đề. Tư duy liên tưởng là tư duy kiểu vận vào, thiên về ấn tượng trực giác. Hệ từ truyện viết: "Trí sùng lễ ti; sùng hiệu thiên, ti pháp địa" (“Trí thì cao mà xử sự thì khiêm hạ; về phần cao là bắt chước trời, về phần khiêm hạ là bắt chước đất”. - Thiên thượng, chương VII); “Dịch giả tượng dã; tượng giả tượng dã" (12). (“Dịch là hình tượng, hình tượng là phỏng theo, là tương tự”. - Thiên hạ, chương III), v.v.. Theo đó, nhìn đạo trời để liên tưởng ra đạo người. Trong Chu Dịch tập chú, Lai Trí Đức cũng viết: "Đạo của Dịch một âm một dương, tức là đạo trời. Cứ như thế mà suy thì những điều làm đều lành, những điều tránh đều dữ"(13). Về sau, lối suy nghĩ kiểu này được phát triển bởi thuyết "thiên nhân cảm ứng" của Đổng Trọng Thư. Ông cho rằng trời với người cùng loại, tương ứng với nhau: Số của trời là 360 (số ngày trong năm) thì người cũng có 360 đốt xương, trời có bốn mùa thì người có tứ chi, trời có ngũ hành thì người có ngũ tạng, v.v.. Sau này, lối tư duy liên tưởng như vậy rất thịnh hành trong thời kỳ phong kiến của cả Trung Quốc và Việt Nam.

Trên đây là một số suy nghĩ ban đầu của chúng tôi về vấn đề nhận thức luận trong “Chu Dịch”. Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi chưa  tìm được một tài liệu nào, của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, đề cập trực tiếp về vấn đề đó, nên bài viết này khó có thể tránh khỏi nhiều thiếu sót. Song, nhận thức luôn là một quá trình, hoặc nói như Dịch, luôn là Vị Tế (chưa xong, chưa hoàn thành) chứ không bao giờ Ký Tế (đã xong, đã hoàn thành), vì vậy, chúng tôi hy vọng vấn đề này sẽ tiếp tục được làm sáng tỏ thêm trong thời gian tới.

 

 


(1) Phùng Hữu Lan. Trung Quốc triết học sử. Dịch giả: Nguyễn Hữu Ái. Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1966, tr.11.

(2) Dẫn theo: Nguyễn Hữu Lương. Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông phương. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr.14.

(3) Trong bài viết này, “Kinh Dịch” đồng nhất với “Chu Dịch”.

(4) Uylơ Đurăng. Lịch sử  văn minh Trung Quốc. Nguyễn Hiến Lê dịch. Trung tâm Thông tin Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, 1990, tr.41.

(5) Xem: Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê. Đại cương triết học Trung Quốc, quyển I. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr.480.

(6) Xem Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê. Sđd., tr.478-481.

 (8) Mặc dù ở đầu câu này có hai chữ "Tử viết", nghĩa là "Thày Khổng nói", song sự thực các câu có chữ "Tử viết" trong Dịch truyện có phải do Khổng Tử nói hay không đang là một nghi vấn và bị phần nhiều các học giả hiện đại bác bỏ.

(9) Dẫn theo: Trương Thiện Văn. Từ điển Chu Dịch. Sđd., tr.1467.

(10) Chữ "văn" ở đây có nghĩa là văn thái, vẻ đẹp, sự kỳ ảo. Ở đây, "nhân văn" không mang nghĩa "nhân đạo" (humanism) như hiện nay.

(11) Trong “Chu Dịch” cũng có một số khái niệm dùng để chỉ các công cụ nhận thức khác, như "thị" ("thị lý khảo tường, kỳ toàn nguyên cát". Quẻ Lý) hay "sát" ("ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý". Hệ từ truyện), v.v.,  song do mức độ khái quát hoá, trừu tượng hoá và tần số xuất hiện của chúng còn thấp nên chúng tôi chưa có điều kiện đề cập đến trong bài viết ngắn này.

(12) Trong đoạn "tượng giả tượng dã", chữ tượng đầu tiên có nghĩa là hình tượng, chữ tượng thứ hai có nghĩa là mô phỏng theo.

(13) Dẫn theo: Trương Thiện Văn. Từ điển Chu Dịch. Sđd., tr.1180.

Đã xem: 479
Thời gian đăng: Thứ hai - 02/02/2015 22:28
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất