QC Shop

Đôi điều về Việt Nam hóa triết học Mác trong thời đại mới

Nguyễn Tài Đông(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 6 (193), tháng 6 - 2007

Bài viết này không mang tính chất khảo cứu, vì người viết không chuyên nghiên cứu triết học Mác, càng không phải là triết học Mác hiện đại. Người viết không đưa ra các tiền đề cho những luận điểm trong bài và cũng không có đầy đủ các luận cứ, luận chứng cho những luận điểm đó. Lý do là, tuy nội dung bài viết chủ yếu là về triết học Mác, song được tiếp cận từ góc độ, kinh nghiệm của lịch sử triết học phương Đông và văn hoá phương Đông, với một giả định là bất cứ học thuyết nào, hệ tư tưởng nào muốn tồn tại và phát triển trong một không gian và thời gian khác (trên/trong một xã hội khác, ở một thời đại khác) thì bắt buộc phải được bản địa hoá. Tương tự như trước đây, Nho giáo hay Phật giáo, để bám rễ, ăn sâu vào đời sống tinh thần và văn hoá người Việt, thì chúng phải được Việt Nam hoá thành Nho giáo Việt Nam, Phật giáo Việt Nam,v.v.. Việt Nam hoá triết học Mác hay phát triển triết học Mác ở Việt Nam cũng mang ý nghĩa như vậy; nghĩa là triết học Mác hiện nay phải thể hiện được nội dung tinh thần thời đại, phải giải quyết được các vấn đề của Việt Nam đang đặt ra. Với cách hiểu đó, Việt Nam hoá triết học Mác cũng chính là hiện đại hoá triết học Mác cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Bài viết đề cập tới các vấn đề: 1. Bối cảnh lịch sử hiện đại hoá ở Việt Nam; 2. Hiện đại hoá Việt Nam trong thời đại mới - những khó khăn; 3. Việt Nam hoá triết học Mác từ góc độ văn hoá.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

1. Bối cảnh lịch sử hiện đại hoá ở Việt Nam

Sự ra đời triết học Mác đánh dấu một thời đại chuyển từ “thiên quốc” về lại thế giới hiện thực; chuyển từ bản vị thần trở về bản vị người; khẳng định lại một lần nữa tính hiện thực của con người, giá trị con người, lợi ích con người, sự sáng tạo của con người. Cũng có thể nói, C.Mác đã phát hiện ra ý nghĩa của “con người” trong thời đại mới. Đây cũng chính là sự tiếp nối truyền thống triết học phương Tây từ Phục hưng - phát triển tính chủ thể của con người với tinh thần nhân bản mang đặc trưng tự do và sáng tạo.

Nếu như nói thời kỳ Phục hưng mở đầu cho phương Tây bước vào Cận đại và Hiện đại, thì sự kiện thực dân Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng năm 1858 đánh dấu cho bước chuyển sang thời Cận đại của lịch sử Việt Nam. Hai sự mở đầu này không những sai lệch nhau về thời gian vài thế kỷ, mà còn khác hẳn nhau về phương thức và mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Ở phương Tây, đó là sự mở đầu đầy hy vọng, đầy sức sống, mang tính sáng tạo và tư tưởng giải phóng; còn ở Việt Nam, đó lại là sự mở đầu đau thương, là sự thất bại, bị động - sự mở đầu mang tính “bi kịch”. Gạt đi tất cả những “giá như”, “nếu như” trong lịch sử, thì xã hội Việt Nam nói riêng và một số nước phương Đông nói chung cũng không thể phát triển theo con đường tự nhiên như nó “sẽ là”. Súng đại bác của Pháp đã phá vỡ cánh cửa khép chặt của Việt Nam. Lịch sử dân tộc đã đi đến chỗ không thể bước nguyên si như con đường của 4000 năm trước. Điều đó có nghĩa là truyền thống văn hoá rực rỡ 4000 năm bị thách thức toàn diện, xuất hiện sự đòi hỏi và đấu tranh nhằm thay đổi những tiêu chí giá trị truyền thống cứng nhắc và không còn phù hợp. Đây chính là điểm kết thúc của một kết cấu văn hoá cũ, nhưng cũng đồng thời là điểm mở đầu của một kết cấu văn hoá mới, dù là một điểm khởi đầu đầy đau khổ.

Việt Nam không còn lối thoát nào khác, không thể tiếp tục như một số vua quan và Nho sĩ triều Nguyễn tự thủ bàng quan, tự dối trá mình và lừa gạt những người khác bằng cái huy hoàng trong quá khứ, bịt mắt chờ người khác định đoạt số phận mình. Vì vậy, người Việt Nam tất phải nghiêm túc đối diện với một thế giới mới, tìm hiểu xem thế giới ấy đã và đang thực sự xảy ra chuyện gì và buộc phải thừa nhận loài người đang tiến hành một cuộc cách mạng công nghiệp - cuộc cách mạng đã thay đổi một cách triệt để phương thức sản xuất và phương thức sống của con người. Chính vì vậy, người Việt phải đi tìm con đường tồn tại cho dân tộc mình. Độc lập dân tộc và theo kịp thế giới hiện đại là con đường duy nhất, không có sự lựa chọn nào khác, càng không có con đường rút lui cho người Việt Nam.

Câu hỏi của thời Cận hiện đại đặt ra cho Việt Nam rất rõ ràng: làm thế nào để đất nước giàu mạnh? Bởi đất nước phải giàu mạnh mới đảm bảo cho sự tồn tại vững chắc của dân tộc và con đường làm cho đất nước giàu mạnh chính là con đường công nghiệp hoá. Chỉ có công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới tránh cho dân tộc khỏi bước suy vong. Như đã biết, sau khi các nước tư bản phương Tây gom cả thế giới vào hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa, để tồn tại và phát triển, bất cứ một dân tộc nào cũng khó có thể độc lập bên ngoài “thế giới” đó. Các dân tộc trên thế giới cạnh tranh nhau, trong thời Cận đại, đặc biệt là trong thời Hiện đại và Toàn cầu hoá này, là cạnh tranh về trình độ công nghiệp hoá. Như vậy, người Việt Nam đã phải chấp nhận điểm khởi đầu bất bình đẳng, nền tảng bất bình đẳng và quy tắc bất bình đẳng trong tiến trình lịch sử cận hiện đại này.

2. Hiện đại hoá Việt Nam trong thời đại mới - những khó khăn

Sự truyền bá chủ nghĩa Mác vào Việt Nam và cùng với nó là phong trào giải phóng dân tộc đã đưa dân tộc Việt Nam tới một bước ngoặt lịch sử mới, mở ra một chân trời mới từ góc độ văn hoá tư tưởng, giương cao ngọn cờ khoa học và dân chủ, phản đế và phản phong. Một dân tộc bị nô dịch, bị kìm hãm, bị bóc lột, bị cướp đoạt trong gần 100 năm, cuối cùng, thông qua cách mạng, vượt qua muôn trùng khó khăn, đã đứng dậy, xây dựng một Việt Nam mới.

Nếu như nói lịch sử đã lựa chọn chủ nghĩa Mác làm ngọn cờ tinh thần cho lý tưởng xã hội, thì đối tượng chủ yếu mà chủ nghĩa Mác ở Việt Nam đã tác động, khơi dậy, thức tỉnh, bên cạnh giai cấp công nhân thì chính là đại đa số nông dân. Điều này có lẽ C.Mác cũng không ngờ đến, học thuyết và tư tưởng của ông lại có thể ăn sâu, bắt rễ vào làng quê ở một nước phương Đông xa xôi như Việt Nam. Song, đối với nông dân, hiện đại hoá chính là một thách thức vô cùng to lớn. Khoa học - kỹ thuật và tinh thần hiện đại không thể “thức tỉnh” hay “nhóm lên” những nhân tố tư tưởng tiềm năng của người nông dân. Nông dân, về căn bản, là thiếu nền tảng khoa học - kỹ thuật hiện đại. Do vậy, họ cần phải học tập, phải thay đổi phương thức sản xuất truyền thống, thay đổi quan niệm sống để tiếp thu văn minh hiện đại. Chính điều này sẽ dẫn đến xung đột nội tại giữa giá trị văn hoá nông nghiệp và hệ giá trị hiện đại hoá mới. Trong quá trình hiện đại hoá, nhất là từ Đổi mới trở đi, chúng ta có thể thấy rõ sự phát triển kinh tế và chính trị không thuần tuý chỉ là vấn đề kinh tế và chính trị, mà ở tầng sâu, chúng còn chịu sự quy định của văn hoá, trong đó vấn đề căn bản nhất là con người tự hiện đại hoá. Tự hiện đại hoá ở đây có thể hiểu là con người chuyển hình văn hoá từ tư cách chủ thể bị động tự cung, tự cấp trong điều kiện kinh tế tự nhiên và văn minh nông nghiệp truyền thống sang chủ thể mang tính sáng tạo, chủ động, tự do trong điều kiện văn minh công nghiệp hiện đại và kinh tế thị trường. Từ góc độ này, có thể nói, người Việt Nam đi vào hiện đại hoá nhưng vẫn chưa chuẩn bị đầy đủ về mặt tinh thần, dễ dàng tạo ra các câu chuyện thần thoại về hiện đại hoá, sùng bái một cách mù quáng hiện đại hoá mà không tính đến cái giá phải trả cho các câu chuyện đó. Chính vì vậy, yêu cầu về ý thức hiện đại không chỉ là nhận thức được tính tất yếu của hiện đại hoá, mà còn bao gồm việc nhận thức một cách toàn diện hiện đại hoá; trong đó bao gồm cả việc xây dựng lý tưởng, giá trị con người trong quá trình hiện đại hoá. Đây cũng chính là yêu cầu của sự phát triển khoa học - kỹ thuật đặt ra cho lý tính con người, là sự kêu gọi của hiện đại hoá đối với lý tính công cụ và tinh thần nhân bản.

Khó có thể phủ nhận văn minh hiện đại, về bản chất, là một loại văn minh vật chất và văn minh kỹ thuật. Loài người đang bước trên chiếc cầu kỹ thuật và vật chất để đi vào xã hội hiện đại. Một mặt, hiện đại hoá đưa con người đến với một đời sống vật chất mới, song cũng mang đến cho họ nguy cơ mới. Nguy cơ đó là con người có thể tồn tại chủ yếu với tư cách người sản xuất hàng hoá và người tiêu thụ hàng hoá, có thể trở thành “hàng hoá sống” trong hệ thống giá trị vật chất; có nghĩa là, về mặt giá trị, con người dần mất đi tính chủ thể đối với vật, ngày càng xác lập tính quy định của vật đối với người trong quá trình sản xuất và tiêu thụ, đồng nhất hoá con người và vật thành một thể - nhất thể hoá giá trị, tức là “vật hoá”. Con người sống trong hệ thống giá trị của vật, của hàng hoá. Mặt khác, khi bản chất của tính vật chất và tính kỹ thuật của văn minh hiện đại được biểu hiện thành các sản phẩm văn hoá nghệ thuật được thương mại hoá thì lúc đó, chức năng chăm lo giá trị tinh thần và xây dựng tâm linh con người mà bản thân văn hoá nghệ thuật mang trong mình dần bị thay thế bởi chức năng giải trí, đơn thuần thoả mãn các giác quan. Giá trị tinh thần vốn có của văn hoá bị thay thế bởi giá trị hàng hoá.

Khắc phục những nguy cơ mà chúng ta có thể gặp phải trong quá trình hiện đại hoá, một mặt không thể tách rời sự phát triển khoa học - kỹ thuật, mặt khác cũng không thể tách rời bản tính và giá trị của tâm linh con người. Điều này cũng thể hiện giá trị hiện đại của triết học Mác, khi nó cho chúng ta một chỗ dựa về mặt lý luận để khắc phục những khó khăn và nguy cơ đương đại. Triết học Mác, lý luận chủ nghĩa Mác không chỉ dẫn đường cho giai cấp vô sản Việt Nam giành thắng lợi, xây dựng nước Việt Nam mới, mà còn phát huy tác dụng chủ đạo trong việc định hướng tiến trình hiện đại hoá xã hội Việt Nam ngày nay. Đây là quá trình kết hợp giữa triết học Mác, lý luận chủ nghĩa Mác với thực tiễn hiện đại hoá ở Việt Nam, và đây cũng chính là quá trình Việt Nam hoá triết học Mác.

3. Việt Nam hoá triết học Mác từ góc độ văn hoá

Cái gọi là Việt Nam hoá triết học Mác chính là triết học Mác phải phản ánh được thực tiễn Việt Nam và trong quá trình chỉ đạo hoạt động thực tiễn, phải gắn chặt những nguyên lý cơ bản của triết học Mác với tư tưởng truyền thống cơ bản của Việt Nam và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây cũng chính là sự chuyển hoá từ hình thái ý thức sang hình thái thực tiễn của triết học Mác ở Việt Nam. Triết học Mác là một thành quả của văn minh nhân loại. Với tư cách này, sự giao lưu và dung hợp giữa triết học Mác và văn hoá Việt Nam đã mở ra một tầm nhìn rộng lớn, một con đường hữu ích cho quá trình hiện đại hoá Việt Nam. Nhìn từ tầng sâu văn hoá và góc độ tinh thần, Việt Nam hoá triết học Mác là một quá trình từng bước giao lưu, hợp nhất (integration) triết học Mác, văn hoá Việt Nam và tinh thần dân tộc Việt Nam. Vì vậy, lấy văn hoá Việt Nam truyền thống, tinh thần dân tộc Việt Nam truyền thống làm gốc, dựa vào thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng của triết học Mác, kết hợp với thực tiễn hiện đại hoá phong phú của Việt Nam, không ngừng đưa ra những tư tưởng và lý luận mới phù hợp với công cuộc hiện đại hoá Việt Nam là bước đi tất yếu của quá trình Việt Nam hoá triết học Mác.

Có thể thấy, triết học Mác là vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn. Nó được sinh ra từ thực tiễn, phát triển trong thực tiễn, lấy việc cải tạo thế giới hiện thực làm mục đích. Từ góc độ triết học văn hoá, chúng ta có thể thấy triết học thực tiễn của C.Mác là lý luận thể hiện một cách tự giác sự tự do và bản tính siêu việt của con người. Nó cũng là lý luận thể hiện một cách tự giác tinh thần văn hoá mang tính bản chất của tồn tại người. Vì vậy, triết học Mác luôn xuất phát từ bản tính siêu việt và bản tính phê phán trong hoạt động thực tiễn của con người và khi áp dụng vào việc đối thoại với một nền văn hoá khác ở một thời điểm khác, nó sẽ tạo ra một tinh thần mở, một hoạt động phê phán văn hoá mang tính xây dựng. Trong điều kiện lịch sử mới, vạch ra những nguy cơ của văn hoá tinh thần; căn cứ vào sự biến động của thực tế, đưa ra các lý luận mới; thúc đẩy hiện đại hoá bằng các biện pháp thực tiễn không chỉ là một phương diện quan trọng của quá trình Việt Nam hoá triết học Mác, mà còn là điểm then chốt trong quá trình hiện đại hoá.

Vậy, trong tiến trình hiện đại hoá ở Việt Nam, giá trị đương đại của triết học Mác được thể hiện như thế nào? Nói cách khác, làm thế nào để phát triển một cách hợp lý ý nghĩa hiện đại của việc Việt Nam hoá triết học Mác? Là dừng lại ở các kết luận cụ thể hay phải đi sâu vào bản chất, vào tinh thần của triết học Mác? Theo chúng tôi, giá trị đương đại và sức sống của Việt Nam hoá triết học Mác chính là nằm ở sự phát triển một cách sâu sắc nhất bản chất thực tiễn và bản tính siêu việt của con người; là sự thể hiện đầy đủ nhất của việc triết học quay về với thế giới hiện thực; là tinh thần văn hoá phản tỉnh bản thân mình, phản tỉnh nội tại xã hội. Nói cách khác, giá trị và sức sống của Việt Nam hoá triết học Mác chính là tư tưởng chỉ đạo cho sự phát triển kinh tế, chính trị theo định hướng xã hội chủ nghĩa; còn trong tầng sâu, nó chính là một loại tinh thần văn hoá, ý thức văn hoá.

Dưới góc độ văn hoá, trong tiến trình hiện đại hoá, có thể nhìn nhận Việt Nam hoá triết học Mác từ hai phương diện:

Thứ nhất, Việt Nam hoá triết học Mác thể hiện một cách sâu sắc tinh thần văn hoá của tiến trình hiện đại hoá, tức là lấy lý tính công cụ và tinh thần nhân bản làm nội hàm của kết cấu văn hoá hiện đại.

Từ bản chất của con người, bản thể của tồn tại người, nghiên cứu bản tính triết học thực tiễn chính là phát hiện ra phương thức hoạt động đặc biệt của con người, tìm ra những nhân tố khiến cho con người, vận động lịch sử của con người khác với hành vi của động vật và sự vận động của tự nhiên bên ngoài. Nhân tố này chính là văn hoá. Trong phần trước, bài viết đã trình bày về tiến trình hiện đại hoá Việt Nam được bắt nguồn từ bị động, bi kịch và bất bình đẳng. Và, Việt Nam muốn hiện đại hoá, thì trước hết và căn bản nhất, phải dựa vào hiện đại hoá bản thân mỗi người Việt Nam. Hiện đại hoá chính mình tức là quá trình khai sinh và phát triển tinh thần văn hoá mang tính chủ đạo từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp hiện đại. Tinh thần văn hoá mang tính chủ đạo là ý thức chủ thể tự giác của con người, được thể hiện một cách cụ thể thành lý tính công cụ và tinh thần nhân bản. Có thể nói rằng, triết học thực tiễn của C.Mác có khả năng thể hiện một cách sâu sắc tinh thần văn hoá mang tính chủ đạo của tiến trình hiện đại hoá, bởi lý tính công cụ và tinh thần nhân bản là nội hàm lý luận cơ bản trong triết học thực tiễn của C.Mác. Một mặt, triết học thực tiễn nhấn mạnh đến sự thống nhất giữa tự nhiên và con người, nhưng không phải là quan niệm “thiên nhân hợp nhất” nguyên thuỷ, mà là sự thống nhất tự giác giữa con người và tự nhiên được xây dựng trên cơ sở hoạt động mang tính sáng tạo của con người, trong đó lý tính của con người hiểu biết và cải tạo tự nhiên. Mặt khác, toàn bộ lý giải của triết học thực tiễn về con người, thế giới con người, tự nhiên của con người, lịch sử của con người,v.v. đều căn cứ trên đặc trưng bản chất của tính phê phán, tính siêu việt, tính sáng tạo vốn có trong hoạt động thực tiễn. Đây chính là lấy ý thức của chủ thể hoạt động, ý thức phê phán và tinh thần sáng tạo làm cốt lõi cho tinh thần nhân bản.

Thứ hai, Việt Nam hoá triết học Mác đại diện cho tinh thần phê phán sâu sắc những nguy cơ văn hoá hiện đại, cũng như những vấn nạn văn hoá của con người hiện đại.

Bản chất phạm trù “thực tiễn” của triết học Mác được bắt nguồn trong sự thống nhất hữu cơ giữa phát triển nội tại con người với hoạt động thế giới bên ngoài. Dưới góc độ này, thực tiễn không chỉ là khái niệm đối lập với lý luận, mà còn gắn chặt với cách thức đặt vấn đề về tồn tại người, là khái niệm giải thích rõ về sự tồn tại của con người, tức là một phạm trù mang ý nghĩa triết học. Nói cách khác, ở triết học Mác, trong thế giới người, mọi giá trị và ý nghĩa của tồn tại người không phải được mặc định trước hay có thể đoán định, mà được gắn với hoạt động của mỗi con người, tức là chỉ có thể lý giải con người từ góc độ hoạt động thực tiễn của họ chứ không phải từ bên ngoài hay từ góc độ siêu nhân nào đó. Vì vậy, từ hai phương diện lao động vật hoá và lao động tha hoá, C.Mác đã nêu lên phương thức sống cũng như xung đột mâu thuẫn của con người hiện đại, từ đó xây dựng nên triết học thực tiễn. Cũng chính vì vậy, C.Mác đã đặc biệt nhấn mạnh đến tính sáng tạo vốn có của thực tiễn con người, triệt để xuất phát từ việc điều chỉnh phương thức hoạt động của con người để có thể không ngừng loại bỏ những hậu quả, những mặt trái do các hoạt động đó mang đến. Lý luận về lao động tha hoá của triết học Mác đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến triết học thực tiễn thế kỷ XX. Khi mà lý tính công cụ và lý tính giá trị có một số xung đột thì quan hệ giữa người với người sẽ bị phá vỡ, dẫn đến sự thống trị của vật đối với con người, sự tha hoá về bản chất của con người, v.v.. Do đó, luận giải về văn hoá tinh thần của văn minh công nghiệp hiện đại của triết học Mác không chỉ dựa trên việc nêu bật lên lý tính công cụ và tinh thần nhân bản, mà còn biểu hiện ở việc phê phán các nguy cơ văn hoá hiện đại và các vấn nạn của con người.

Có thể thấy, trong những năm đầu thiên niên kỷ thứ ba, tiến trình lịch sử hiện đại hoá và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam là một quá trình chuyển biến hết sức sâu rộng. Nếu như khoa học - kỹ thuật là động lực then chốt, là lực lượng sản xuất quan trọng nhất thì tinh thần nhân bản lại là định hướng nhân tính không thể thiếu trong tiến trình lịch sử này. Không có gì phải nghi ngờ, tiến trình lịch sử hiện đại hoá không thể chỉ là quá trình theo đuổi kỹ thuật và của cải vật chất, không chỉ là quá trình kinh tế và tìm kiếm các phương thức kinh tế, mà còn phải là một quá trình truy cầu tinh thần nhân văn, là quá trình hoàn thiện và tiến bộ tự thân của con người. Đây cũng chính là gợi ý cho quá trình Việt Nam hoá triết học Mác trong thời đại mới.

 

 

(*) Thạc sĩ triết học, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam. 

Đã xem: 506
Thời gian đăng: Chủ nhật - 22/11/2015 01:21
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất