QC Shop

Lý luận nhận thức trong triết học Hàn Phi Tử

Ths. Đỗ Kim Dung

Nguồn: Triết học, số 2 (129), tháng 2 - 2002

Theo Hàn Phi Tử, trị nước chỉ cần pháp luật nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu với mọi người, không cần lễ nghĩa. Ông cho rằng, trị nước cần nhất 3 điều: Pháp, Thế và Thuật

Ảnh chỉ có tính chất minh họa

Ảnh chỉ có tính chất minh họa

Hàn Phi Tử là người học rộng biết nhiều, có tinh thần độc lập trong suy nghĩ. Ông cho rằng hành động của con người, nhất là hành động chính trị, là dựa trên cơ sở nhận thức. Đường lối, chủ trương của Hàn Phi Tử là những vấn đề mới; đó không phải là sự ngẫu nhiên, mà là cả một quá trình nghiên cứu, quan sát ,đối chiếu, thể nghiệm. Lý luận nhận thức của ông cũng được hình thành từ đó; nó không chỉ là chỗ dựa trong hoạt động chính trị của ông, mà còn là cơ sở để ông thuyết phục tầng lớp thống trị và những người đương thời. Vì thế, lý luận nhận thức trở thành một bộ phận quan trọng trong tư tưởng triết học của ông.

Trong lĩnh vực nhận thức luận, Hàn Phi Tử đứng trên lập trường duy vật. Ông cho rằng “Đạo” là cái mà con người có thể nhận thức được. Mặc dù “Đạo” là cái không thể nhìn thấy được, nhưng thánh nhân nắm lấy chỗ công hiệu của nó mà thấy được hình dạng của nó(1). Đồng thời, ông phản đối lối đoán mò vô căn cứ và thuyết duy tâm tiên nghiệm cho rằng “hành trước vật, động trước lý” (Hàn Phi Tử. Thiên Dụ lão). Trên cơ sở đó, ông phê phán chủ nghĩa phục cổ trong phép trị nước của Nho gia và Mặc gia.

Hàn Phi Tử cho rằng, con người muốn nhận thức được sự vật, trước tiên phải dựa vào giác quan và sự phán xét trong đầu. Ông viết: “Con người dựa vào mắt để nhìn, dựa vào tai để nghe, dựa vào đầu óc để suy nghĩ”. Nhưng chỉ dựa vào công cụ nhận thức thì chưa đủ, bởi vậy, ông còn nêu ra một số yêu cầu khác, đó là phải có đích, phải tạo được công dụng. Ông viết: “Kẻ nói và làm lấy công dụng để xem xét, thế là đủ”. Ông còn cho rằng, “Nghe lời nói, xét việc làm, không dựa trên công dụng thì dù lời nói có được soát xét, việc làm tuy vững vàng cũng chỉ là thuyết vô ích mà thôi”. Hơn nữa, trong quá trình nhận thức, phải tránh bị tình cảm chi phối, phải bình tĩnh, khách quan: “Bỏ điều mừng, bỏ điều ghét, giữ tâm hư không đó là nghĩa của đạo” (Hàn Phi Tử. Thiên Dương quyền ).

Vậy làm thế nào để biết nhận thức của mình có phù hợp với thế giới khách quan hay không, có đúng với bản chất của sự vật hay không, và có đảm bảo cho hành động đi đến kết quả hay không? Đó là vấn đề đặt ra cho Hàn Phi Tử. Với ông, để nhận thức được bản chất của sự vật, chủ thể nhận thức không được phép đề cao quá mức quan niệm chủ quan, cũng không phải chỉ dựa vào kinh nghiệm đơn thuần, mà phải có sự kiểm nghiệm. Ông nêu ra một loạt biện pháp để kiểm nghiệm tính đúng đắn của nhận thức.

Theo ông, trước hết cần xét hình danh, xem danh có phù hợp với hình không. Trong mối quan hệ đó, hình là vật còn danh là tên gọi. Hình nào thì danh ấy; mỗi vật, mỗi việc đều có danh tương xứng, không thể mâu thuẫn. Bằng nhiều cách nói khác nhau, ông đã thể hiện được tư tưởng trên. Chẳng hạn, ông nói: “Xét sự phù hợp giữa danh và hình tức là xét lời nói và sự việc (Hàn Phi Tử. Thiên Nhị bính). “Hình danh cũng như nhau thì vua sẽ vô sự” (Hàn Phi Tử. Thiên Chủ đạo). Như vậy, trong mối quan hệ đó, hình là cái quyết định, chi phối danh.

Hàn Phi Tử cho rằng, để biết danh có phù hợp với hình không, thì nhất thiết phải tiến hành tham nghiệm, nghĩa là phải tham khảo, đối chiếu, xem xét để nghiệm chứnhứng tỏ là đúng hay sai, bởi ông cho rằng “không tham nghiệm mà cứ cho nhất thiết phải như thế là ngu! Không có thể là như thế mà dựa vào đó là oan uổng” (Hàn Phi Tử –Thiên Hiển học). Từ đó, ông vạch ra cách thức của tham nghiệm: 1. dùng tham nghiệm để xét thực chất của ngôn từ; 2. dùng  “Đạo” tam ngũ so sánh nhiều lần để đạt được nhiều công hiệu, suy xét nhiều phương diện để truy cứu sự mất mát; 3. nghe lời nói tốt phải truy cứu ở việc dùng, xem việc làm tốt phải đòi hỏi ở công hiệu.

Để làm rõ ý trên, Hàn Phi Tử còn đưa ra những ví dụ sau: Muốn biết kiếm sắc phải xem nó chặt chém có sắc ngọt không, chứ không phải xem màu sắc của kim loại. Muốn biết ngựa có tốt hay không phải xem nó kéo xe, chứ không phải xem hình thể của nó. Người ngủ thì không biết họ có điếc hay không, chỉ khi bảo họ nhìn, đòi hỏi họ trả lời thì mới biết được. Ông nói: “Nếu chỉ xem thiếc đúc và chỉ nhìn tia lửa xanh, vàng thì Âu Dã cũng không thể quyết định thanh kiếm sắc hay cùn. Nhưng nếu trên không chém được chim nhạn, chim hộc, dưới đất không chém được ngựa câu thì dù là kẻ nô tỳ cũng thấy rõ kiếm sắc hay cùn”(2). Ông còn nói: “Nếu chỉ xem răng và hình dáng thì Bá Nhạc cũng không thể dám chắc về con ngựa hay hay kém. Buộc nó vào cỗ xe, cho ách vào mà xem nó đi thì chưa hết đoạn đường, hạng nô tỳ cũng không nghi ngờ về chỗ ngựa hay hay dở”(3).

Trước Hàn Phi Tử, khi xét tính đúng đắn của nhận thức, các nhà Nho chỉ biết xem lời nói, việc làm của mình, của người đương thời có phù hợp với lời nói, việc làm của thánh hiền, của cổ nhân hay không. Phái Mặc gia đưa ra tư tưởng “Tam biểu” (ba điều kiện để biết đúng sai). Trong đó, ngoài hai biểu là cho rằng xem điều đúng sai có phù hợp với tai mắt của trăm họ hay không và với thực tiễn hay không, vẫn có một biểu cho rằng cần xem điều đó có phù hợp với lời nói và việc làm của cổ nhân hay không. Vì vậy, lời nói và việc làm của cổ nhân vẫn còn là cái chuẩn để họ suy nghĩ và hành động. Rõ ràng, quan điểm tham nghiệm của Hàn Phi thực tế hơn, khoa học hơn, có lợi cho nhận thức và hành động hơn.

Tất nhiên, khái niệm “Tham ngũ chi nghiệm” (so sánh nhiều lần để được kiểm chứng) cũng đã có trước Hàn Phi Tử. Sách Trang tử (thiên Hạ) đã nêu lên tư tưởng “Dĩ tham vi nghiệm” (lấy việc so sánh, xem xét để nghiệm chứng). Sách Kinh dịch (thiên Hệ từ thượng) nêu: “Tham ngũ dĩ biến, thác tổng kì số” (nhiều lần thay đổi để biết được độ số). Hàn Phi Tử đã kế thừa và phát triển những tư tưởng đó, làm cho tư tưởng tham nghiệm trở nên rõ ràng hơn, sâu sắc hơn, có hệ thống hơn.

Đối với Hàn Phi Tử, khi đã nhận thức được sự vật rồi, không phải cứ để đấy, mà nó phải trở thành điều kiện của hành động, phải quay về với thực tiễn, thông qua thực tiễn để biến đổi thế giới bên ngoài theo yêu cầu của mình. Hàn Phi Tử cho rằng sự vật, sự việc ở bên ngoài, sở dĩ nó là nó là do nó có “đạo”  và “ lý” của nó. Nhận thức sự vật, sự việc là nhận thức “đạo” và “lý” của nó; qua đó, giúp con người cải tạo nó, khiến nó đáp ứng được nhu cầu của mình. Ông nói: “Chỉ dựa vào mũi tên thẳng sẵn có thì trăm đời không có mũi tên, dựa vào cây gỗ tự nó tròn trĩnh thì ngàn đời sẽ không có bánh xe. Nhưng người đời  đều có xe để đi, đều có mũi tên để bắn là tại sao? Đó là dựa vào  “đạo” để uốn nắn vậy”(4). Ông còn khái quát: “Ông vua có thuật trị nước không theo cái thiện hiển nhiên sẵn có mà làm theo cái đạo tất nhiên”(5). Với những lời lẽ trên, Hàn Phi Tử đã tiến gần tới quan điểm coi trọng sự tự do, sáng tạo của con người trong hoạt động.

Hàn Phi Tử còn nhắc nhở con người khi hành động phải xuất phát từ thực tế, phải tự tin ở mình. Những cái thực tế mà mình đã trải qua sẽ thay đổi, mỗi lúc một khác, do vậy, không thể lấy kết quả của ngày hôm qua để buộc ngày hôm nay phải thế. Ông chế giễu người nước Tống nọ một lần nhặt được con thỏ chạy vào gốc cây, mà từ đó ngày nào cũng ngồi gốc cây đợi thỏ đến nỗi ruộng vườn bỏ hoang hoá. Theo ông, lĩnh vực chính trị mà cố chấp cũng sẽ như thế. Trên thực tế, ông đã đề xuất một nguyên tắc của hành động, đó là đầu óc phải luôn tỉnh táo, linh hoạt và năng động.

Hàn Phi Tử luôn nhìn nhận sự vật trong tính mâu thuẫn. Theo ông, mâu thuẫn là cái xuất phát từ bên trong sự vật. Ông đơn cử một thí dụ để thấy rõ: Trong đánh nhau, người thì dùng mâu (ngọn giáo) để đâm người, người thì dùng thuẫn (cái khiên) để che chắn, tránh bị đâm. Ông cho rằng, cách rao hàng của người nước Sở nọ là vô lý, vì mâu của anh ta có thể đâm thủng bất kỳ vật nào,  nhưng thuẫn của anh ta lại có thể chống đỡ được bất cứ vật sắc nhọn nào. Lập luận theo kiểu nhị nguyên như vậy không có trong tư tưởng của ông. Nhưng điều đó không ảnh hướng tới nhận thức của ông về mâu thuẫn của sự vật. Vấn đề là trước mâu thuẫn đó, con người phải có thái độ như thế nào. Với ông, không có sự vật nào, việc nào chỉ có lợi đối với con người. Lợi và hại đều đi kèm nhau, ở lẫn trong nhau, vì “thời có đầy hư, việc có lợi hại, vật có sinh  tử”. Cách xử lý đúng đắn của con người là chọn cái lợi nhiều, hại ít. Đó là một quan điểm thực tế có lợi cho hành động.

Triết học của Hàn Phi Tử là triết học của hành động. Những luận điểm trên của ông không phải được rút ra từ các tác phẩm chuyên bàn về vấn đề nhận thức, hay về vấn đề chủ thể - khách thể nhận thức, mà là những lời lẽ được trình bày trước một thực tế, một hành động cụ thể, hay một chủ trương chính trị. Trong những luận điểm đó hàm chứa một quan niệm khá đầy đủ và tương đối chặt chẽ về lý luận nhận thức. Mặc dù còn có những yếu tố trực quan, kinh nghiệm, đôi khi mang tính chất thực dụng, nhưng về cơ bản, đó là một lý luận chứa đựng nhiều yếu tố có giá trị. Nó phản ánh được tính phong phú, đa dạng và tính biện chứng của thế giới khách quan. Đồng thời, nó cũng nêu lên được những điều kiện cần thiết  của con người khi nhận thức thế giới hiện thực, như sự linh hoạt, năng động của đầu óc. Lý luận đó có lợi cho nhận thức và hành động của con người. Nó đạt tới đỉnh cao của lý luận nhận thức Trung Quốc đương thời.

 

(1) Xem: Hàn Phi Tử, t.1. Phan Ngọc dịch. Nxb Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh, 1990, tr.155.

(2) Hàn Phi Tử, t.2. Sđd., tr.214.

(3) Hàn Phi Tử.  Sđd., tr.215.

(4) Hàn Phi Tử. Sđd., tr.216.

(5) Hàn Phi Tử. Sđd., tr.217.

 

 

 

Đã xem: 649
Thời gian đăng: Thứ hai - 02/02/2015 22:19
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất