QC Shop

Những lý do văn hóa - chính trị và tôn giáo trong chính sách cấm đạo của Minh Mạng

Nguyễn Quang Hưng(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 7 (158), tháng 7 - 2004

Chính sách cấm đạo của triều Nguyễn đã để lại những hậu quả nặng nề đối với xã hội Việt Nam thế kỷ XIX. Nguyên nhân chủ yếu của nó, xét về mặt văn hoá - chính trị và tôn giáo là do: 1) Sự khác biệt giữa Công giáo và Nho giáo; 2) Những bất đồng của Nguyễn Ánh với Công giáo trong “vấn đề  nghi lễ”; 3) Sự xung khắc của Minh Mạng với tôn giáo này cũng ở “vấn đề nghi lễ”.

Có thể nói, chính sách cấm đạo của triều Nguyễn là một sai lầm khó tránh khỏi, bởi nó khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa các tín đồ Công giáo với những người ngoài đạo.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Chính sách cấm đạo của triều Nguyễn đã để lại hậu quả nặng nề đối với xã hội Việt Nam thế kỷ XIX, làm cho quan hệ giữa ng­ười công giáo và cộng đồng Việt Nam còn lại thêm xa cách và là một trong những nguyên cớ để Pháp xâm lược nước ta. Nguyên nhân của chính sách này rất đa dạng, trong đó phải kể tới những căn nguyên chính trị-xã hội, tức mối quan hệ giữa sự truyền giáo với chủ nghĩa thực dân, cũng như sự can dự của các thừa sai và giáo dân với các biến cố chính trị chống lại triều đình. Quan hệ của các thừa sai với Lê Văn Duyệt, vị quan có xung khắc với Minh Mạng hay sự liên hệ của Marchand (Cố Du) với cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi là những ví dụ. Ngoài ra ta cũng cần phải kể tới những nguyên nhân từ phía Giáo hội Công giáo khi đó không hoà nhập với văn hoá bản địa, coi Nho, Phật và Lão giáo như những tà thuyết.

Sự chế ước của những lý do chính trị-xã hội trên đối với chính sách cấm đạo của Minh Mạng là điều hiển nhiên. Cấm đạo được coi là một biện pháp đảm bảo an ninh và chủ quyền đất nước. Nhưng thật phiến diện nếu ta không tính đến những lý do văn hoá-chính trị và văn hoá-tôn giáo trong chính sách cấm đạo của các vua triều Nguyễn, điều mà tới nay giới nghiên cứu còn ít quan tâm. Tuy nhiên, vạch ra những lý do văn hoá-chính trị và tôn giáo trong chính sách cấm đạo của các vua triều Nguyễn nói riêng, xung đột văn hoá-tư tưởng Đông-Tây do việc truyền bá Công giáo nói chung, là một vấn đề lớn, đòi hỏi nhiều nghiên cứu công phu. Bài viết này là khảo cứu bước đầu lý do văn hoá-chính trị và văn hoá-tôn giáo trong chính sách cấm đạo của Minh Mạng.

1. Sự khác biệt giữa Công giáo và Nho giáo

Tác động của những lý do văn hoá-tôn giáo và văn hoá-chính trị đối với chính sách cấm đạo của các vua triều Nguyễn hiện chưa được giới nghiên cứu đánh giá đúng mức, vì các nhà nghiên cứu chỉ đề cập đến tính chất văn hoá-tôn giáo của "vấn đề nghi lễ". Nói một cách giản lược, thì đây là vấn đề khác biệt giữa Nho giáo và Công giáo trong các quan niệm về lễ nghi, tập tục và giá trị xã hội. Từ khi du nhập, Công giáo làm đảo lộn nhiều chuẩn mực giá trị các quan hệ xã hội cơ bản của xã hội Khổng giáo. Xã hội Khổng giáo dựa trên nền tảng của ba mối quan hệ xã hội chính, đó là vua-tôi, vợ-chồng và cha mẹ-con cái. Các vua dưới triều Nguyễn tự xưng là "Thiên tử", là biểu tượng của quốc gia, nên trung với vua đồng thời cũng là trung với nước. Ngược lại, bất trung với vua sẽ bị khép vào tội phản quốc. Chính sự gắn kết giữa trung quân với ái quốc khiến một số nhà Nho không phân biệt được rằng trong lịch sử dân tộc từng có những vị vua phản quốc, nên đã trung quân một cách mù quáng.

Trong mối quan hệ vợ chồng, Nho giáo đề cao những phẩm tiết công, dung, ngôn và hạnh của người phụ nữ. Nam giới được ưu tiên trong việc thừa kế tài sản trong gia đình và giữ trọng trách chính trong việc thờ cúng tổ tiên.[1] Vị thế của người phụ nữ, người vợ không thể đặt ngang bằng với người chồng. Một người phụ nữ mẫu mực phải "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử".

Trong quan hệ giữa bố mẹ và con cái, Nho giáo đề cao chữ hiếu. Khổng Tử từng nói: "nếu như đối với cha mẹ mà không kính thì sự săn sóc đối với cha mẹ có khác gì đối với việc săn sóc nuôi nấng chó ngựa?". Hiếu với tổ tiên, với ông bà đã khuất, hiếu với bố mẹ thể hiện sự thảo kính đối với bề trên, được coi là phẩm cách thứ hai, sau trung với vua. Nếu như bất trung với vua bị coi là tội phản quốc thì việc bất hiếu với tổ tiên bị coi là vô đạo, một trọng tội nặng theo quan niệm của Nho giáo.

Những giá trị, chuẩn mực đạo đức-chính trị căn bản trên đây của Nho giáo bất đồng với hệ giá trị Công giáo. Người Công giáo tin vào Đức Chúa trời, một sức mạnh vạn năng, siêu trần thế, trong khi quan niệm tôn giáo tín ngưỡng truyền thống người Việt không hoàn toàn tách biệt giữa các lực lượng siêu nhiên và trần thế.[2] Trong khi trung quân là khí tiết quan trọng nhất của một nhà Nho, thì người công giáo lại coi Jesus Christ là đối tượng duy nhất của đức tin. Tuy chủ trương sống tốt đời đẹp đạo, kính Chúa, nhưng vẫn phục tùng hoàng đế, nhưng rõ ràng trong đời sống tinh thần, tình cảm của người công giáo, vị trí của hoàng đế bị đặt xuống hàng thứ hai so với Đấng cứu thế. Đây là một trong những lý do mà các chúa Trịnh, Nguyễn và Tây Sơn không thiện cảm với công giáo. Năm 1663 chúa Nguyễn Hiền Vương từng nói: "Ta là chúa Đàng Trong. Các thần dân chịu sự cai trị của ta chứ không phải của Chúa Trời" và ra lệnh chém đầu một người công giáo tên là Phaolô sau khi người này nói với chúa rằng trước hết ông ta là tín đồ của Chúa trời, sau đó mới là thần dân của chúa.[3]

Bên cạnh đó, việc người công giáo trước Công Đồng Vatican II (1962-1965) không được Toà thánh cho phép thờ cúng tổ tiên, đã gây ra nhiều bất bình từ phía người không công giáo.[4] Kinh thánh cũng từng dạy người công giáo lòng thảo kính cha mẹ, nhưng người công giáo thể hiện tình cảm này dưới một hình thức khác với quan niệm truyền thống của người Việt. Công giáo còn chủ trương chế độ một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng. Nhìn chung, địa vị của người phụ nữ trong quan niệm Công giáo vốn chịu ảnh hưởng của văn hoá châu Âu được giải phóng hơn so với trong quan niệm Nho giáo, vv... Xét theo nhiều góc độ thì sự khác biệt, thậm chí xung khắc giữa Công giáo và Nho giáo là điều dễ hiểu. Vào thế kỷ XIX, đó là sự khác biệt giữa một văn hoá trên đà mang tính quốc tế với một nền văn hoá mang tính khu vực, giữa nền văn hoá-tư tưởng Tây phương với một nền văn hoá-tư tưởng tiêu biểu Đông phương. Đó còn là sự khác biệt giữa một tôn giáo có tham vọng mở rộng nước trời ra toàn thế giới với một tư tưởng hệ chính thống của một quốc gia có chủ quyền.

2. Bất đồng của Nguyễn Ánh-Gia Long với Công giáo trong "vấn đề nghi lễ" - tiền đề của chính sách cấm đạo ở Minh Mạng

"Vấn đề nghi lễ" xuất hiện ngay từ khi Công giáo được truyền bá vào Việt Nam và là một trong những nguyên nhân cho các cuộc cấm đạo dưới thời Trịnh-Nguyễn và Tây Sơn thế kỷ XVII-XVIII. Alexandre de Rhodes kể lại một chỉ dụ của Trịnh Tráng (1623-1657) cấm các thừa sai châu Âu truyền đạo. "Đạo nào (hở các ngươi) các ngươi giảng trong nước ta? Các ngươi truyền cho thần dân ta chỉ được lấy một vợ mà ta thì muốn có nhiều để sinh nhiều con trung thành với ta. Từ nay các ngươi hãy gạt đi đừng giảng đạo đó nữa."[5] Năm 1785, anh em Tây Sơn cũng đã ban hành một chỉ dụ cấm đạo như sau: "Nay ta muốn loại khỏi đất nước ta một tôn giáo của châu Âu (...) Một tôn giáo không nhìn nhận cha, không nhìn nhận vua; không thờ kính thần linh; suốt đêm, đọc kinh đọc sách (...) vô công nhàn rỗi, không làm gì cả để sản xuất và tích luỹ."[6] 

Vì quá sùng Nho nên các vua triều Nguyễn xung khắc với Công giáo trong "vấn đề nghi lễ" hơn các chúa Trịnh, Nguyễn và anh em nhà Tây Sơn.[7] Nguyễn Ánh từ trước khi lên ngôi vua năm 1802 đã tỏ ra không chấp nhận Công giáo về "vấn đề nghi lễ". Ông thư­ờng nói: "Đạo này hay lắm nh­ưng không theo đ­ược" mỗi khi Giám mục Pigneau de Behaine đề nghị ông rửa tội. Trong câu trả lời đầy vẻ lịch sự kiểu Á châu đó chứa đựng sự bất đồng lớn của vị chúa Nguyễn đối với Công giáo. Các thừa sai châu Âu không hài lòng việc ông tuy tỏ ra hàm ơn ng­ười công giáo, nhưng trong thâm tâm vẫn không thiện cảm với tôn giáo này. Có lần Nguyễn Ánh nói với các thừa sai: "Đạo của các Cha hay lắm, như­ng khắt khe quá nên chả ai theo được. Tôi không thể chỉ lấy mỗi một vợ." Thừa sai Pháp Louvet cho rằng Nguyễn Ánh cả đời có mặc cảm với Công giáo.[8] Một thừa sai Pháp khác Le Labousse ngay từ năm 1792 đã tin rằng "không bao giờ nhà vua sẽ theo Kitô giáo, một tôn giáo mà ông biết khá rõ. Ông thích châm chọc và diễu cợt nhiều điểm trong giáo lý Công giáo, như­ng không bao giờ nói tr­ước mặt Giám mục Pigneau."[9] Buttinger cũng nhận xét: "giữa thái độ thù ghét một cách thụ động đối với Công giáo của Gia Long với những biện pháp đặt Công giáo ra ngoài vòng pháp luật của Minh Mạng không có sự khác nhau nhiều."[10]

Vì hàm ơn Pigneau và ng­ười Pháp nên Nguyễn Ánh không thể hiện quan điểm chống Công giáo một cách công khai. Có nhiều câu chuyện về sự từ chối "lịch sự" của Nguyễn Ánh đối với ng­ười công giáo. Chẳng hạn, ở một số vùng Nam Bộ có lệ đầu năm dân chúng quyên góp để tu sửa đền chùa và lễ hội cầu Trời ban cho dân làng năm mới đ­ược may mắn. Dân công giáo không chịu quyên góp vì cho những lễ hội đó là dị đoan. Các quan không chịu, tâu lên Nguyễn Ánh. Dân công giáo cũng mong sự  che chở của Giám mục nên Pigneau bèn cho tổ chức lễ cầu nguyện riêng, coi đó như­ một hình thức tham gia của ng­ười công giáo. Như­ng các quan vẫn không chịu và đề nghị Nguyễn Ánh phân xử. Nguyễn Ánh bèn "đá quả bóng" cho cho các quan trong triều. Cuộc họp của các quan mà phần đông là ngư­ời không công giáo giải quyết một cách chóng vánh, buộc ng­ười công giáo cũng phải đóng góp không có ngoại lệ, bởi đây là truyền thống của quốc gia.[11] Không phải là c­ường điệu khi Buttinger cho rằng "nhà lãnh đạo Quang Trung của Tây Sơn còn khoan dung với Công giáo hơn cả Nguyễn Ánh."[12]

Xung khắc của Nguyễn Ánh với Công giáo không dừng lại bởi quan niệm chế độ một vợ một chồng mà Công giáo chủ trương,[13] mà còn ở nhiều nghi lễ khác của Công giáo khác biệt với những quan niệm Khổng giáo, đặc biệt trong việc người Công giáo không thờ cúng tổ tiên. Ông tranh luận với Pigneau về đề tài này. Pigneau cho rằng tổ tiên trên thực tế không tồn tại, do vậy không cần thờ cúng. Theo Nguyễn Ánh, thờ cúng tổ tiên biểu thị sự tôn kính, hiếu thảo của con cháu đối với ông bà, sự thành kính của ng­ười đang sống đối với những ng­ười đã khuất trong gia đình nhà Nguyễn, do vậy cần được coi trọng. Nguyễn Ánh đồng ý với Pigneau rằng ở Việt Nam còn nhiều mê tín dị đoan cần phê phán, nhưng dứt khoát không chấp nhận việc ng­ười công giáo không thờ cúng tổ tiên. Ngay cả khi còn cần đến sự giúp đỡ của Pigneau, vị vua sáng lập triều Nguyễn đã dứt khoát, không thỏa hiệp với người công giáo trong "vấn đề nghi lễ".[14]

Xung khắc của Nguyễn Ánh với Công giáo trở nên trầm trọng từ khi Hoàng tử Cảnh từ Pháp về. Trong lễ sinh nhật năm 1797, hoàng tử Cảnh đã không chịu quỳ lạy tr­ước bàn thờ tổ tiên nhà Nguyễn. Tr­ước mặt vua cha và các quan, hoàng tử nói rằng thà chịu chém đầu hơn là vâng lời vua cha quỳ lạy trư­ớc bàn thờ tổ tiên. Điều này làm cho Nguyễn Ánh bị tổn th­ương nghiêm trọng. Nó cho thấy, quan niệm Nho giáo về tinh thần trung quân với vua và lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ (chí ít là theo quan niệm Nho giáo) bị đe doạ tr­ước sự truyền bá của Công giáo. Nguyễn Ánh không quên sự kiện này và nhận ra rằng con trai cả của ông do ảnh hưởng của Công giáo và văn hoá Âu châu mà giữ khoảng cách với gia tộc nhà Nguyễn. Nhà vua "đau khổ, tủi nhục và tức giận, vứt bỏ phẩm phục, mũ miện, nói rằng ông là một ngư­ời cha bất hạnh."[15] Chúng ta không dám chắc, nếu giả sử không chết sớm thì liệu vị hoàng tử này có đ­ược nối ngôi hay không.

Điều Nguyễn Ánh-Gia Long lo ngại chính là sự cách ly của dân công giáo với cộng đồng người Việt. Ông thực tâm muốn ng­ười công giáo, những người từng giúp ông nhiều trong cuộc chiến chống Tây Sơn, hoà nhập với cộng đồng Việt Nam. Ông lo rằng, cộng đồng ngư­ời công giáo đư­ợc tổ chức theo kiểu giáo xứ, giáo phận, quy tụ với nhau, tồn tại chả khác gì một "quốc gia riêng" trong lòng đất nước Việt Nam. Đây có thể là một mầm mống gây bất ổn chính trị. Như vậy, "vấn đề nghi lễ" cùng với việc triều Nguyễn xây dựng Nho giáo trở thành quốc giáo, đã không chỉ mang tính văn hoá-tín ngư­ỡng, mà còn bao hàm cả khía cạnh chính trị-xã hội. Có thể vì lẽ này nên trong Hiệp ư­ớc Vécxây năm 1787 không có điều khoản nào đề cập tới sự truyền giáo.[16]

Sự phản kháng của Gia Long đối với Công giáo trong "vấn đề nghi lễ" được thể hiện khá rõ trong "Điều lệ hư­ơng đảng" ban hành năm Giáp Tý 1804: "Lại như­ đạo Gia Tô là tôn giáo n­ước khác truyền vào n­ước ta, bịa đặt ra thuyết thiên đ­ường địa ngục khiến kẻ ngu phu ngu phụ chạy vạy nh­ư điên, tiêm nhiễm thành quen, mê mà không biết. Từ nay về sau, dân các tổng xã nào có nhà thờ Gia Tô đổ nát thì phải đ­ưa đơn trình quan trấn mới đ­ược tu bổ, dựng nhà thờ mới thì đều cấm. Những điều trên này đều là nên cố đổi tệ cũ, kính giữ giáo điều. Nếu cứ quen theo thói làng, can phạm phép n­ước, có ng­ười phát giác thì xã tr­ưởng phải đồ l­ưu đi viễn châu, dân hạng, nặng thì sung dịch phu, nhẹ thì xử roi hay tr­ượng, để bớt tổn phí cho dân, mà giữ phong tục thuần hậu)."[17]

Mặc dù có những bất đồng, nhưng nhìn chung Công giáo được hưởng thanh bình dưới thời Gia Long.

3. "Vấn đề nghi lễ" và chính sách cấm đạo của Minh Mạng

Sự xung khắc của Minh Mạng đối với Công giáo trong "vấn đề nghi lễ" còn quyết liệt hơn so với Gia Long bởi hai lý do sau. Thứ nhất, là người am hiểu và sùng Nho, Minh Mạng đặc biệt quan tâm tới Nho học và hệ thống thi cử, mở thêm thi đình là hình thức thi cao nhất của triều đình mà vua trực tiếp ra đề bài. Nho giáo vốn được coi là quốc giáo dư­ới thời Gia Long, giờ đây lại càng đ­ược coi trọng và củng cố. Về phương diện này, nếu Gia Long là người có công thống nhất đất nước cả về phương diện lãnh thổ, chính trị và hành chính sau mấy trăm năm chia cắt, ổn định tình hình chính trị đất nước sau mấy chục năm nội chiến, đặt nền móng cho sự xây dựng một nhà nước phong kiến quân chủ chuyên chế, phỏng theo mô hình Trung Hoa, thì Minh Mạng là người củng cố, đưa nhà nước ấy phát triển đến đỉnh cao. Thứ hai, bản thân Minh Mạng không trực tiếp chịu hàm ơn của Pigneau và người công giáo như cha mình, nên không bị ràng buộc bởi quan hệ nào cả, có thể rảnh tay trong việc ban hành chính sách của mình.

Là ng­ười có tính cách mạnh mẽ và quyết đoán, từ khi chưa lên ngôi, hoàng tử Đảm (tức Minh Mạng sau này) đã không thiện tình với Công giáo. Ông ca ngợi sự cấm đạo ở Nhật Bản. Phương châm của ông là một nước có hai tôn giáo là không tốt.[18] Việc Lê Văn Duyệt và người công giáo hữu hảo với nhau tựa như một thách đố đối với vị vua trẻ tuổi này. Tuy nhiên, phần vì chưa có nguyên cớ, phần vì nể trọng Lê Văn Duyệt, cùng với những căn dặn trong di chúc của Gia Long là giữ hoà khí với các tôn giáo lớn như Phật giáo, Nho giáo và Công giáo, nên Minh Mạng chưa thể cấm đạo công khai trong những năm 1820.

Tuy nhiên, Minh Mạng đã không giấu diếm những bất đồng của mình đối với tôn giáo này. Vua đọc đoạn kể về tháp Babel trong Kinh Cựu ước và mỉa mai những tín điều của Kitô giáo.[19] Dịp Tết năm 1824 khi các thừa sai tới chúc Tết, vua trả lại quà của họ, một cử chỉ thường chỉ gặp khi quan hệ hai bên có vấn đề. Cũng Tết năm đó vua truyền lệnh cho một ông quan ng­ười công giáo trồng cây nêu tr­ước nhà đón năm mới. Vị quan này đáp lại: Tâu Hoàng thượng, Đức tiên đế không bao giờ bắt ép hạ thần làm một điều nh­ư thế. Hạ thần sẵn lòng chịu phạt, nh­ưng sẽ không bao giờ trồng cây nêu. Điều đó thực như một gáo nước lạnh đối với Minh Mạng, nhưng ông vẫn kiềm chế được và nói: "Ta mến khanh nên không trừng phạt khanh. Như­ng khanh nên biết rằng từ nay về sau các linh mục châu Âu sẽ không được vào n­ước của ta. Những ông đang ở trong nước thì không sao, nhưng ta không muốn các ông khác đến nữa. Hình nh­ư nư­ớc ta không phải là một n­ước lớn, một nước có văn hoá sao? Khanh làm ta hổ thẹn lúc khanh đi tìm những đạo trưởng Âu Tây."[20] Trư­ớc đó, vua làm ngơ trước việc một ng­ười em của mình đã cải biến một nhà thờ thành một sân khấu.

Chưa muốn công khai làm mếch lòng các thừa sai, Minh Mạng phong quan tước cho họ với hy vọng họ ngừng việc giảng đạo. Năm 1825, với lý do triều đình cần người phiên dịch, ông cho tập trung hết các thừa sai châu Âu lại, thực chất là để kiểm soát hoạt động của họ. Nội dung của chỉ thị này như sau: "Tà đạo Tây dương làm hại lòng người. Từ bấy lâu nay các tàu buôn Âu tây tới Việt Nam rồi để các thừa sai ở lại. Những kẻ này làm phù phép dân chúng, phá hoại phong tục. Đó không phải là mối nguy lớn cho nước ta sao? Vậy, ta truyền cấm những điều bậy bạ ấy để cho dân ta quay về chính đạo."[21] Với sự can thiệp của Lê Văn Duyệt, năm 1827 các thừa sai lại được tự do, nhưng những bất đồng của vị vua này với Công giáo không vì thế mà giảm đi.[22]

Sau cái chết của Lê Văn Duyệt, Minh Mạng có thể rảnh tay ban hành chính sách theo ý mình. Chúng ta thấy rõ sự xung khắc của triều Nguyễn với Công giáo trong "vấn đề nghi lễ" thể hiện ở chỉ dụ cấm đạo đầu tiên được ban hành năm 1833. "Đạo Gia tô nguyên từ người Tây dương đem vào truyền bá đã lâu, dân ngu phần nhiều bị mê hoặc mà không biết hối. Thử nghĩ: cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ đều là chuyện hoang đường, không có bằng chứng. Hơn nữa, không kính thần minh, chẳng thờ tiên tổ, rất trái với chính đạo. Thậm chí lập riêng nhà giảng, tụ tập nhiều người (...) Những việc trái luân lý, hại phong hoá, điều ấy kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật. Đạo ấy quy là tà thuật hơn đạo nào hết. Trong luật đã có điều cấm rõ ràng rồi."[23]

Những căn nguyên văn hoá-chính trị này của việc cấm đạo đã được Trần Trọng Kim nhấn mạnh. Vì Minh Mạng "tinh thâm Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, cho nên không ưa đạo mới, cho là một tả đạo lấy trời thánh ra mà làm mê hoặc lòng dân. Bởi vậy, ngài mới nghiêm cấm và trừng trị những người theo đạo Gia tô."[24] Song song với những biện pháp cưỡng chế, năm 1835, Minh Mạng ban hành "Mười huấn điều" để ngăn chặn dân chúng theo tà đạo. Nội dung của chúng tập trung vào việc tăng cường giáo dục dân chúng theo những chuẩn mực Nho giáo, bảo vệ thuần phong mỹ tục nước nhà trước nguy cơ lan rộng của tả đạo. Cả trong chỉ dụ cấm đạo được coi là nghiêm khắc nhất của Minh Mạng được ban hành năm đó, gắn liền với việc triều đình bắt được thừa sai Marchand (Cố Du) trong thành Phiên An sau khi dẹp xong cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi, thì "vấn đề nghi lễ" cũng vẫn được đề cập đến. "Định rõ điều lệ cấm chỉ tà giáo Tây dương. Tả phó đô ngự sử viện Đô sát Phan Bá Đạt tâu nói: "Tà giáo Tây dương làm say đắm lòng người, thực là một đạo kiệt liệt hơn hết trong các đạo dị đoan (...) Những địa phương mà bọn chúng (các đạo trưởng Tây dương-NQH) ở đều bị truyền bá tả đạo để mê hoặc lòng người, có quan hệ đến phong hoá không nhỏ. Kính xét trong thiên "Vương chế", Kinh Lễ có nói: "Theo tả đạo làm loạn, chính sự thì phải giết". Điều luật nước ta có nói: "Những thuật tả đạo, dị đoan, xui giục, mê hoặc nhân dân, kẻ đứng đầu thì bị giảo giam hậu". Thế thì tà giáo thực là theo đạo mà "Vương chế" không bao dong, mà xưa nay phải trừ bỏ hẳn. Nay xin tham bác châm chước theo Lễ và Luật, định rõ điều cấm, khiến cho người ta biết sự răn chừa, ngõ hầu mới dập tắt được dị đoan, giúp cho chính đạo lưu hành, mà thiên hạ cùng theo thói tốt."[25]

Hầu như trong mọi chỉ dụ cấm đạo quan trọng của Minh Mạng, vấn đề xung khắc giữa chính đạo (Nho giáo) và tà đạo (Công giáo) được đề cập, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp.[26] Rõ ràng sự bất đồng của triều Nguyễn với Công giáo trong "vấn đề nghi lễ" luôn là nguyên nhân tiềm ẩn dẫn tới chính sách cấm đạo. Càng về sau, trước nguy cơ xâm lược của Pháp thì những nguyên nhân chính trị càng nổi trội rõ, nhưng sự chế ước của những căn nguyên văn hoá-chính trị không hề giảm. Cả trong những chỉ dụ cấm đạo cuối cùng của Tự Đức khi Nam Kỳ trở thành chiến trường nước sôi lửa bỏng thì "vấn đề nghi lễ" vẫn được đề cập. Vấn đề tà đạo luôn là điểm khó nhất trong các cuộc thương lượng giữa triều đình Huế và Pháp, tuy rằng với sức mạnh quân sự, người Pháp đã buộc Tự Đức phải nhượng bộ vấn đề này trong các Hiệp ước 1862 và 1874.

Vì những căn nguyên trên đây, tuy chính sách cấm đạo của triều Nguyễn là một sai lầm bởi nó đào sâu thêm mâu thuẫn giữa người công giáo và người không công giáo, nhưng khó tránh khỏi. Nói cách khác, riêng những lý do văn hoá-chính trị và văn hoá-tôn giáo này cũng có thể dẫn Minh Mạng (kể cả các vị vua sau đó) đến chỗ cấm đạo. Trần Trọng Kim cũng nhận thấy điều đó. "Phải biết rằng nước ta từ xưa đến nay, điều gì cũng theo Nho giáo, lấy tam cương ngũ thường làm căn bản cho sự ăn ở (...) Vậy con phải theo cha, tôi phải theo vua, ai trái với cái đạo ấy ra phải tội nặng, đáng chém giết (...) Vẫn biết rằng sự giết đạo là sự không lành, nhưng phải hiểu cái trí não người Việt Nam ta lúc bấy giờ, không rõ cái tông chỉ đạo Thiên chúa ra thế nào, cho nên dẫu không phải là vua Thánh Tổ (tức Minh Mạng-NQH) nữa, thì ông vua khác cũng không chắc đã tránh khỏi cái lỗi giết đạo ấy."[27]

Như vậy, chính sách cấm đạo của Minh Mạng là một sai lầm khó tránh khỏi. Xét về giáo lý, Nho giáo có thể chấp nhận hỗn dung với một tôn giáo khác, chẳng hạn với Phật giáo hay Lão giáo, nhưng nó không thể chấp nhận bị một tôn giáo khác đồng hoá, lấn át, trong khi đó thì Công giáo khi đó lại không chấp nhận bất cứ một sự hỗn dung nào với văn hoá-tôn giáo bản địa. Xét theo cách nhìn của Minh Mạng, người công giáo với việc coi Đức cứu thế Jesu Christ là đối tượng duy nhất của Đức tin, đã vi phạm, hay chí ít là không phải tuyệt đối trung quân. Họ đồng thời cũng vi phạm đạo hiếu, phẩm hạnh quan trọng nhất đối với một thành viên trong gia đình truyền thống người Việt.

Nhưng sự xung khắc trên đây giữa Nho giáo và Công giáo trong các quan niệm về chuẩn mực giá trị, cũng như sự ít hiểu biết của vua chúa Việt Nam khi đó về Công giáo mới chỉ là phần nổi của tảng băng. Điều chính yếu ở đây là: uy quyền, sự hợp thức (legitimation) của nhà vua, của một triều đình cai trị quốc gia dựa trên nền tảng đạo đức-chính trị Nho giáo bị đe dọa trước sự lan rộng của tôn giáo mới này. Đây chính là khía cạnh chính trị của "vấn đề nghi lễ". Một triều đình được xây dựng trên nền tảng Nho giáo sẽ không còn tính hợp hiến nếu Việt Nam trở thành một quốc gia Kitô giáo, vì người Kitô hữu "hướng đức tin tới Chúa Trời và Jesu Christ, chứ không phải là vị Thiên tử ngồi trong cung điện và đòi hỏi bầy tôi phải tuyệt đối phục tùng. Đức tin mới này không tôn thờ Hoàng đế như một vị thần linh như trong Khổng giáo. Cả gia đình và tổ tiên với tư cách như là tế bào của quốc gia cũng mất đi ý nghĩa. Một quan niệm hoàn toàn mới xuất hiện, quan niệm hạ thấp trần thế, đề cao cuộc đời mới sau khi tạ thế. Điều này không hợp với suy nghĩ của giới quan lại Trung Hoa và Việt Nam."[28]

Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể rút ra hai kết luận sau:

Thứ nhất, "vấn đề nghi lễ" nảy sinh ngay từ khi Công giáo du nhập vào Việt Nam, và thực tế đã là một trong những nguyên nhân của các cuộc cấm đạo dưới thời Trịnh-Nguyễn và Tây Sơn thế kỷ XVII-XVIII. Sang thế kỷ XIX, với việc Gia Long, Minh Mạng coi Nho giáo là quốc giáo, xây dựng vương triều phỏng theo mô hình Trung Hoa, thì sự bất đồng giữa Nho giáo và Công giáo còn bao hàm cả khía cạnh chính trị. Đằng sau sự bất đồng giữa chính đạo và tà đạo còn là vấn đề sự hợp thức (legitimation) của nhà vua và cả một triều đình cai trị dựa trên các chuẩn mực Nho giáo bị đe dọa bởi sự truyền bá Công giáo. Riêng những lý do văn hoá-chính trị và tôn giáo này có thể dẫn Minh Mạng tới chỗ cấm đạo.

Thứ hai, chúng ta, mặt khác, cũng cần nhận thấy rằng người Việt Nam vốn có truyền thống khoan dung văn hoá và tôn giáo. Nho giáo không chấp nhận bị một tôn giáo khác đồng hoá, lấn át nó, nhưng có thể chấp nhận sự hỗn dung, chẳng hạn với Phật giáo và Lão giáo. Thêm vào đó, phần đông người công giáo Việt Nam có nguyện vọng kính Chúa và yêu nước. Nếu khi đó, cả triều Nguyễn và giáo hội Công giáo bớt cực đoan, mềm dẻo hơn trong ý thức hệ của mình, thì có thể mối quan hệ giữa Công giáo và dân tộc ở Việt Nam thế kỷ XIX đã diễn ra theo một triều hướng khác.

 


* Tiến sĩ triết học, Khoa triết học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

[1] Người phụ nữ Việt Nam không đứng ngoài việc thờ cúng tổ tiên.  Xem: Cadière, Về văn hoá tín ngưỡng truyền thống của người Việt. Tập I, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1997, tr. 83.  Bộ luật Hồng Đức cũng cho phép người phụ nữ được kế thừa một phần tài sản.  Tuy nhiên, nam giới giữ trọng trách chủ đạo trong việc thờ cúng tổ tiên cũng như được ưu tiên trong việc thừa kế tài sản.

[2] Cadière đã nhận thấy sự khác biệt giữa tín ngưỡng truyền thống của người Việt với đức tin Kitô giáo của người châu Âu. "Người châu Âu, dẫu sùng đạo, thường vẫn không sống với Thượng đế của mình. Dân Annam, ngược lại, cho dẫu thuộc giai cấp nào đi nữa (...), đều cảm thấy mình tiếp xúc thường xuyên với các thần thánh trong thiên nhiên, những thần thánh luôn hoạt động cùng với loài người và đảm bảo sự thành công cho các nỗ lực của họ. Người Annam thấy mọi biến cố xảy đến, biến cố may và nhất là biến cố rủi, đều biểu hiện sự can thiệp của Thần thánh hay tổ tiên." L. Cadìere, sđd, tr. 90.

[3] Mạc Đường, Người Việt Nam thiên chúa giáo ở miền Nam nước ta từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Trong: Một số vần đề lịch sử đạo thiên chúa trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr. 69. Anh em Tây Sơn cũng từng ban hành chỉ dụ cấm đạo với nội dung sau. "Từ khi các nước phương Tây lén lút đưa đạo của họ vào trong vương quốc này, ta tiếc rằng sự tôn thờ Đức Khổng Tử mỗi ngày mỗi giảm và hầu như đã hoàn toàn bị bỏ rơi, bởi tác hại bởi những lời lẽ lừa đảo và dụ dỗ của những người ngoại quốc đang thu hút lòng người và làm mê hoặc dân chúng bằng đủ mọi phương tiện bí hiểm, làm cho con người không còn sức kháng cự nữa. Thấy lòng dân bị say mê bởi một tôn giáo lừa đảo và khuynh loát, ta quyết hỗ trợ cho đạo lý tốt lành và chân thực của tiền nhân và các tiên đế, và triệt tiêu hoàn toàn tôn giáo xấu xa này." Louvet E.L., La Cochinchine religieuse, tome I, tr. 517. Trích theo: Trương Bá Cần, Công giáo Đàng Trong thời Giám mục Pigneau (1771-1799), TP Hồ Chí Minh, 1992, tr. 103-104. Chưa rõ sắc chỉ này được ban hành ở thời điểm nào.

[4] Bản thân Pigneau de Béhaine sau nhiều lần tranh luận với Nguyễn Ánh, cũng đã từng đề xuất xin Tòa thánh cho phép giáo dân Việt Nam được thờ cúng ông bà. Đáng tiếc là những đề xuất của Pigneau đã không được Tòa thánh chấp thuận. Tòa thánh giữ nguyên phán quyết của các sắc chỉ Orden Ex illa năm 1715 của Giáo hoàng Clement XI. và sắc chỉ Ex quo năm 1742 cùng sắc chỉ Omnium sollicitudo năm 1744 của Giáo hoàng Benedicto XIV. về vấn đề này. Xem thêm: Trương Bá Cần, Sđd, 1992, tr. 132-133.

[5] Alexandre de Rhodes, Lịch sử vương quóc Đàng Ngoài, bản dịch từ tiếng Pháp của Hồng Nhuệ, TP Hồ Chí Minh, 1994, tr. 74. 

[6] Launay A., Histoire de la mission de Cochinchine, Documents historique, Tome III, Paris, 1925, tr. 119. Trích theo: Trương Bá Cần, Sđd, tr. 104.

[7] Thêm vào đó trong "vấn đề nghi lễ" thì các thừa sai của Hội truyên giáo hải ngoại (MEP) và dòng Đa Minh cũng cực đoan hơn các thừa sai Dòng Tên nửa đầu thế kỷ XVII.

[8] Louvet L.E., Mrg. Adran, Paris, 1900, tr. 263. Trích theo: Phan Phát Huồn, Việt Nam giáo sử, Quyển I, Sài Gòn, 1958, tr. 168.

[9] Launay A., Histoire de la mission de la Cochinchine (1658-1823). Documents historiques, vol. III, Paris, 1925, tr. 222-223, và 283. Trích theo: Tr­ương Bá Cần, Sđd, tr. 135.

[10] Buttinger Joseph, The smaller dragon. A political history of Vietnam, New York, Washington, third printing, 1969, tr. 274.

[11] Về những bất đồng của Nguyễn Ánh đối với Công giáo trong "vấn đề nghi lễ", xem thêm: Trương Bá Cần, Sđd, tr. 130-137.

[12] Buttinger Joseph, Sđd, tr. 265. 

[13] Xã hội Việt Nam khi đó khá phổ biến một ng­ười đàn ông có hai thậm chí ba vợ.  

[14] Trong một bức thư­ tháng 8/1789 GM Pigneau trích dẫn đề nghị của Nguyễn Ánh về vấn đề này. "Nếu nh­ư một ngày nào đó nhiều vị quan trong triều trở thành ng­ười công giáo và không theo các nghi lễ truyền thống thì ông trở thành ngư­ời đơn độc. Như­ vậy, uy thể của v­ương triều suy giảm. Do đó, ông muốn tất cả các quan, ngư­ời công giáo cũng như không công giáo đều phải thờ cúng tổ tiên." Trư­ơng Bá Cần, Sđd, tr. 133.

[15] Th­ư của thừa sai La Labousse tháng 6/1792. Trong: Launay A., Histoire de la mission de la Cochinchine. Documents historiques, Vol. III, Paris, 1925, tr.  284. Trích theo: Tr­ương Bá Cần, Sđd, tr. 132. 

[16] Đầu năm 1781 GM Pigneau bị đám sư­ sãi và quan lại trong trièu chỉ trích nhiều bởi mối quan hệ của ông với chúa Nguyễn. Biên bản cuộc họp của các quan ngày 2/8/1782 không chấp nhận tự do truyền đạo. Xem: Trư­ơng Bá Cần, Sđd, tr. 81-82.

[17] Đại nam thực lục chính biên. Đệ nhất kỷ. Tập III. NXB Sử học, Hà Nội, 1963, tr. 168-169. Đoạn trích này theo bản của thừa sai Louvet ghi lại có nội dung hơi khác. Xem: Louvet L.E., La Cochinchine Religiuese, vol. II, Paris, 1885, tr. 18-19. Trong sách này chúng tôi trích các chỉ dụ cấm đạo của triều Nguyễn phần lớn từ trong Đại nam thực lục chính biên.

[18] Tường trình của thừa sai Labartette lên Bộ trưởng Ngoại giao Pháp ngày 17-5-1819. Lưu trữ Hội truyền giáo hải ngoại (MEP). Tập 747. Dẫn theo Buttinger Joseph, Sđd, tr. 269.

[19] Xem Woodside Alexandre, Vietnam and the Chinese model, a Comparative Study of Vietnamese and Chinese government in the First Half of the Nineteenth Century, Harward University, Cambridge, Massachusetts and London, 1988, tr. 288.  Đoạn kinh kể rằng ban đầu loài người trên thế gian đều sống ở một nơi, xuất phát từ cùng một dân tộc và giao tiếp với nhau bằng một ngôn ngữ thống nhất. Loài người đã chung sức xây một thành phố cao ngất trời xanh, gọi là tháp Babel, chạm cả với trời. Điều đó làm Chúa Trời nổi giận. Chúa Trời đã phá tháp, đồng thời đưa loài người rải khắp thế gian, làm cho họ đa dạng về dân tộc và ngôn ngữ. (Sat, 11,1-9).

[20] Phan Phát Huồn, Việt Nam giáo sử, tập I, Cứu thế tùng thư­,  Sài Gòn, 1958, tr. 200-201.

[21] Louvet, L.E., La Conchinchine religieuse, tome II, Libraire de la Sociéte Asiatique, Paris, 1885,  tr. 41.. Văn bản của chỉ dụ này không thấy đề cập trong Đại nam thực lục chính biên.

[22] Giữa thế kỷ XIX khó có chuyện thoả hiệp giữa Công giáo và triều Nguyễn trong "vấn đề nghi lễ". Minh Mạng, một vị vua có nhiều tì thiếp và hàng trăm người con, khó có thể dung hợp được với quan niệm một vợ một chồng mà Công giáo chủ trương. Thêm vào đó, về phía Công giáo, Hội nghị tôn giáo của các thừa sai ở Trung, Nam Kỳ và Nam Vang năm 1841 ở Gò Thị ra quyết nghị cấm người công giáo trong hôn lễ không được thắp hương trước bàn thờ tổ tiên. Người công giáo cũng không được phép chọn "ngày lành tháng tốt" cho hôn lễ của mình, một thói lệ khá phổ biến trong dân chúng Việt Nam. Tất cả những điều trên bị coi là dị đoan.  Metzler Josef, Die Synode in Indochina 1625-1934, Paderborn/ Muenchen/Zuerich, 1984, tr. 147.

[23] Đại nam thực lục chính biên. Đệ nhị kỷ VII. Minh Mệnh năm thứ mười ba. Tập 9. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1964, tr. 235-236.

[24] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2003, tr. 417.

[25] Đại nam thực lục chính biên. Đệ nhị kỷ XIII. Tập 17. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1966, tr.  243-244.

[26] Xem thêm các chỉ dụ cấm đạo tiếp theo của Minh Mạng trong Đại nam thực lục chính biên. Đệ nhị kỷ, XVII. Tập 21, NXB KHXH, tr. 125-126.

[27] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2003, tr. 418.

[28] Dahm Bernhard, Kulturelle Traditionen und politische Entwicklung in Vietnam bis zum Ende der Kolonialzeit, Doc Lap Zentrum, Stuttgart, 1987, tr. 13.

Đã xem: 1149
Thời gian đăng: Thứ bảy - 29/08/2015 00:51
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất