QC Shop

Những phát hiện mới về tư liệu cổ ở Trung Quốc và ý nghĩa của chúng đối với việc nghiên cứu tư tưởng Lão tử, tư tưởng Nho gia

GS, TS. Nguyễn Tài Thư

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 2 (153), tháng 2 - 2004

Lão tử (Nguồn: Internet)

Lão tử (Nguồn: Internet)

Mấy thập kỷ gần đây, qua các cuộc khai quật, Trung Quốc đã phát hiện được một số tư liệu cổ mà các tài liệu lưu hành hiện nay không có. Đó là những tư liệu rất có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu tư tưởng Lão Tử, tư tưởng Nho giáo và tư tưởng triết học cổ đại Trung Quốc nói chung. Căn cứ vào các bài tạp chí có liên quan đã được đăng tải trên các tạp chí của Trung Quốc, như "Triết học nghiên cứu", "Triết học động thái", "Trung Quốc triết học", ... tôi xin lược thuật một số vấn đề sau:

Năm 1973, khi khai quật mộ Hán ở đời Mã Vương, Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, các nhà khoa học Trung Quốc đã tìm thấy một loạt tài liệu cổ viết trên lụa (Bạch thư), trong đó có 2 loại tư liệu về "Lão Tử" gọi là giáp và  ất.

Năm 1993, ở thôn Quách Điếm, Kinh Môn, Hồ Bắc, khi khai quật mộ cổ thời Chiến Quốc, các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã phát hiện ra rất nhiều thẻ tre, trong đó có 3 loại bản sao không đầy đủ (trích sao bản) sách "Lão Tử". Những tư liệu này xuất hiện sớm hơn ở đời Mã Vương hơn 100 năm. Và, đến tháng 5 năm 1998, các tài liệu này, qua khảo cứu công phu, đã được biên tập thành sách: "Quách Điếm Sở mộ trúc giản" (gọi tắt là "Trúc giản" - chữ viết trên thẻ tre), do Nhà xuất bản "Văn vật Bắc Kinh" xuất bản.

Giáo sư Bành Hạo đã căn cứ vào các thẻ tre có sự chế tác khác nhau nhưng cùng thể hiện nội dung sách "Lão Tử" để tập hợp lại và phân thành 3 nhóm: giáp, ất, bính. Số chữ của ba nhóm sách sao này chiếm khoảng 1/3 cuốn "Lão Tử" hiện nay. Số thứ tự chương tiết rất khác với bản hiện nay, nhưng về cơ bản thì nội dung tư tưởng giống nhau.

Trong 3 bản trên thì bản Giáp gần với bản gốc "Lão Tử" (do phân tích hệ thống chữ nghĩa). Nó được sao chép vào khoảng 100 năm sau khi Lão Tử qua đời.

Sách "Quách Điếm Sở mộ trúc giản" ra đời đã gây nên sự thảo luận sôi nổi trên các lĩnh vực khảo cổ, văn học, lịch sử, triết học, thu hút rất nhiều học giả trong và ngoài Trung Quốc tham gia thảo luận. Thảo luận kéo dài hơn 2 năm, nay đang đi vào chiều sâu.

Dưới đây là một số vấn đề mà những phát hiện trên cho thấy chúng có liên quan tới lịch sử cổ đại Trung Quốc.

1. Giá trị và ý nghĩa của "Quách Điếm Sở mộ trúc giản" đối với việc nghiên cứu tư tưởng học thuật Trung Quốc.

- Có người cho rằng, cần phải viết lại lịch sử Trung Quốc thời trước Tần; viết lại toàn bộ lịch sử triết học Trung Quốc (Đỗ Duy Minh, Viện trưởng Viện Havớt, Mỹ); Hội trưởng hội Hán học châu Âu - Rudolf G.Wanger cho rằng, phát hiện Quách Điếm tương đương với phát hiện bản cổ "Thánh Kinh" ở Biển Chết (Dead sea: Hồ nước mặn giữa Gioócđani và Palestin) giữa thế kỷ XX.

1.1. Các bản về Đạo gia.

Có 2 loại: 3 tập về "Lão Tử" và 1 tập về "Thái nhất sinh thuỷ".

1.1.1. Về "Lão Tử". Đây là những tư liệu rất được chú ý. "Trúc giản" đưa lại nhiều ý nghĩa: Thời gian thành sách "Lão Tử" được xác định thêm một bước: một số khái niệm quan trọng và những nghi vấn được làm rõ; quan hệ giữa Đạo giáo và Nho giáo cũng được nhận định lại; địa vị, ảnh hưởng và tiến trình phát triển của tư tưởng Đạo giáo trong lịch sử tư tưởng trước Tần được minh xác một bước.

GS. Trần Cổ Ứng cho rằng tài liệu Quách Điếm đã chứng minh cho địa vị cốt cán của Đạo giáo trong lịch sử triết học Trung Quốc.

GS. Hoàng Chiêu cho rằng, vào thời giữa Chiến Quốc có 2 loại sách "Lão Tử" được truyền lại, một do phái Trang Châu, một do phái Đạo gia Tắc học, mà Giản bản này là của Đạo gia Tắc học. Đến cuối đời Chiến Quốc, hai loại sách trên hợp lại thành một.

1.1.2. Về "Thái nhất sinh thuỷ” (   

               ). Sách này trước đây mất.

Tác phẩm "Thái nhất sinh thuỷ" có thể là tác phẩm ở giai đoạn giữa "Lão Tử" và "Hoài Nam Tử", vì 3 tác phẩm ấy đều có phần vũ trụ luận; "Thái nhất sinh thuỷ" nêu nguyên tố "thuỷ" (nước) sinh ra vũ trụ, đối lập với nguyên tố "khí" sinh ra vụ trụ. Vấn đề này còn phải thảo luận thêm.

1.2. Các bản về Nho gia.

Ngoài 2 tác phẩm "Lão Tử" và "Thái nhất sinh thuỷ", các phần tư  liệu còn lại đều là tác phẩm thuộc Nho giáo. Cộng lại có 14 thiên.

- GS. Bành Phác cho rằng, Quách Điếm đã điền vào một chỗ trống quan trọng trong lịch sử học thuyết Nho giáo - đó là Tính người của Khổng Tử vì sao là “Nhân” (     ). Tư tưởng này đã phát triển theo 2 con đường khác nhau: hướng nội và hướng ngoại.

 

Tử Tư - Mạnh Tử - Trung dung (hướng nội)

 

Nhân (       ) Khổng Tử                                         Lễ ký

 

Dịch truyện - Đại học - Tuân Tử (hướng ngoại)

 

à rồi biến mất trong thời kỳ Nho giáo độc tôn.

- GS. Lý Trạch Hậu cho rằng, Quách Điếm cho thấy chủ đề hạt nhân của Cửa Khổng là "Tình" trong quan hệ giữa "Tâm", "Tính" và "Tình".

- GS. Khương Quảng Huy cho rằng, sự tồn tại của đạo thống Nho gia trong lịch sử không phải là "16 chữ tâm truyền"(1) của Chu Hy, mà là lý tưởng xã hội đại đồng kết hợp với tư tưởng chính trị Thiền nhượng và triết học nhân sinh "quý tình". Theo GS., sự truyền thừa tư tưởng đạo thống này không phải thuộc hệ phái Khổng Tử - Tăng Tử - Tử Tư - Mạnh Tử; kế thừa đạo thống cũng không phải là lý học Tống - Minh, mà là Hoàng Tông Hy, Đái Chấn, Khang Hữu Vi. Quan điểm này đã bị một số người phản bác. Chẳng hạn, tác giả Vương Sinh Bình cho rằng, hạt nhân của tư tưởng Khổng Tử là xây dựng trật tự xã hội, dốc sức vào nâng cao trình độ đạo đức toàn dân, chứ không phải là "tính", "tình" như "Trúc giản" nói.

2. "Trúc giản" đã giải quyết hoặc sơ bộ giải quyết được những nghi vấn tồn tại lâu dài trước đây.

Trước khi tìm được "Trúc giản" đã có một số nghi vấn gây tranh luận không sao giải quyết được. Đó là năm thành sách "Lão Tử", các khái niệm "hữu" và "vô" trong sách "Lão Tử", có hay không có "Lục Kinh", có hay không có sự kiện "thiền nhượng" (nhường ngôi vua cho người hiền), nội hàm của "Ngũ hành", mối quan hệ giữa Tử Tư, Mạnh Tử, v.v.. Sau khi tìm được "Trúc giản", những vấn đề trên đã có hy vọng giải quyết.

2.1. Về năm thành sách "Lão Tử".

Có một số quan điểm khác nhau: cuối thời Xuân Thu, giữa Chiến Quốc, cuối Chiến Quốc. Lương Khải Siêu cho rằng, “Lão Tử” thành sách vào cuối Chiến Quốc vì trong sách này có nội dung phê phán gay gắt học thuyết nhân nghĩa, thánh hiền ở chương 18, 19.

Chương 18 có ghi: "Đại đạo phế, hữu nhân nghĩa; trí tuệ xuất, hữu đại nguỵ; lục thân bất hoà, hữu hiếu từ; quốc gia hôn loạn, hữu trung thần"(xem dịch(1)).

Chương 19 có ghi: "Tuyệt thánh khí trí, dân lợi bách bội; Tuyệt nhân khí nghĩa, dân phục hiếu từ; Tuyệt xảo khí lợi, đạo tặc vô hữu" (xem (2)).

Một số người cùng quan điểm với Lương Khải Siêu cũng cho rằng, vì sách Lão Tử xuất hiện ở cuối thời Chiến Quốc, nên mới có việc phê phán tư tưởng nhân nghĩa, thánh trí như vậy.

Những người cho là sách Lão Tử xuất hiện sớm hơn thì lý giải như sau: 2 chương trên trong cuốn "Lão Tử" hiện có là do người sau thêm vào. Bởi vì, ở "Trúc giản" hai câu này ghi khác, mang ý nghĩa khác.

"Trúc giản" ghi là:

Chương 18: "Cố đại đạo phế; an hữu nhân nghĩa; lục thân bất hoà; an hữu hiếu từ; bang gia hôn loạn, an hữu chính thần" (xem (3)).

Chương 19: "Tuyệt trí khí biện; dân lợi bách bội; tuyệt xảo khí lợi; đạo tặc vô (   ) hữu; tuyệt nguỵ khí trá; dân phục hiếu từ"(xem (4)).

Do đó, có thể thấy, sách Lão Tử không thể xuất hiện vào cuối thời Chiến Quốc.

Câu trong bản đang lưu hành chỉ là phê phán tư tưởng của các nhà Nho sau này và Mặc Tử. Từ hai câu trên, một số người đi đến kết luận như sau: GS. Trần Cổ Ưng cho rằng, sách “Lão Tử” được hình thành vào cuối thời Xuân Thu, còn GS.Vương Trung Giang lại cho sách “Lão Tử” xuất hiện vào cuối thời Xuân Thu, sớm hơn "Luận ngữ" và "Mặc Tử" (Đăng trên tạp chí "Trung Quốc triết học").

Đa số cho rằng, sách "Lão Tử" xuất hiện vào giữa thời Chiến Quốc (khoảng thế kỷ IV tr.CN.).

2.2. Về câu "Vô vi nhi vô bất vi" trong sách "Lão Tử".

Chương 48: "Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn, dĩ chí ư vô vi, vô vi nhi vô bất vi" (Cầu học thì ngày càng tăng thêm [tri kiến], cầu đạo thì ngày càng giảm bớt [trí xảo]. Giảm bớt rồi lại giảm bớt cho đến lúc vô vi, vô vi thì không có cái gì là không làm).

Chương 37: "Đạo thường vô vi nhi vô bất vi" (Đạo thường xuyên không làm, nhưng không có cái gì là không làm).

Trong "Bạch thư" năm 1973 không có câu này, nên có người nghĩ là người đời sau thêm vào. Nay "Trúc giản" có, chứng tỏ câu này là có thực.

2.3. Về khái niệm "hữu" và "vô" trong "Lão Tử".

Cuốn hiện đang lưu hành ở chương 40 có câu "Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô".

- Từ câu trên, Vương Bật xác lập "Quý vô luận"; Vương Bật, Hà Yến đề xuất tư tưởng "Dĩ vô vi bản". Từ đó sinh ra thuyết "Sùng hữu luận" của Bùi Cố. Tăng Triệu thời Đông Tấn nêu lên thuyết "Bất chân không luận" và thuyết phi hữu phi vô. "Vô cực nhi thái cực" của Lý học Tống Minh cũng suy ra từ câu "hữu sinh ư vô".

"Lão Tử" ở "Trúc giản" cũng có câu tương đương với câu ở chương 40 sách "Lão Tử" hiện đang lưu hành: "Thiên hạ chi vật sinh ư hữu, sinh ư vô". Ở đây, "vô" và "hữu" ngang bằng nhau, "vô" không căn bản hơn "hữu". Câu này phù hợp với câu "hữu vô tương sinh". Nội dung hợp lý hơn.

2.4. Về "Ngũ hành" của Tử Tư và Mạnh Tử.

Sách "Tuân Tử. Phi thập nhị tử" có câu: "Án vãng cựu đạo thuyết, vị (    ) chi ngũ hành... thị tắc Tử Tư, Mạnh Kha chi tội dã" (Xem thuyết cũ nói tới ngũ hành... đó là tội của Tử Tư, Mạnh Tử), nhưng trong sách "Mạnh Tử" cũng như các sách "Trung dung", "Tri y" (          ) hiện đang lưu hành tương truyền là của Tử Tư đều không có chữ "Ngũ hành". Tạo nên sự khó hiểu.

"Bạch Thư" (1973) và "Trúc giản" đều có Thiên ngũ hạnh (        ) tức là "nhân, nghĩa, lễ, trí, thánh", còn gọi là "ngũ đức", chứ không phải là "ngũ hành" (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ). "Hành" và "Hạnh" đều cùng một chữ viết (     ), do đọc khác nhau mà nghĩa khác nhau.

2.5. Về thiền nhượng (nhường ngôi vua cho người hiền).

Mạnh Tử nói có "thiền nhượng", Tuân Tử lại cho "Phù viết Nghiêu, Thuấn thiền nhượng, thị hư dã" (câu thiền nhượng của Nghiêu, Thuấn, thực ra không có). Nhưng ở "Trúc giản" lại có thiên "Đường Ngu chi đạo", trong đó có ghi: "Đường Ngu chi đạo, thiền nhi bất truyền" (Đạo của Đường Ngu có sự nhường ngôi, nhưng không được truyền lại). Nay có cơ sở để cho là  thiền nhượng có thật.

Qua "Trúc giản", Lý Học Cần nói sách "Trung dung" là của Tử Tư và sách "Đại học" có liên quan với Tăng Tử.

Trước "Trúc giản", có người nghi ngờ cách sắp xếp thứ tự "Lục kinh", nay ở "Trúc giản" ghi trong thiên "Lục đức theo thứ tự "Thi", "Thư", "Lễ", "Nhạc", "Dịch", "Xuân Thu". Rõ ràng là trật tự này đã có từ trước.

3. Hai vấn đề tranh luận quan trọng trong nghiên cứu "Trúc giản".

3.1. Sách "Lão Tử" của "Trúc giản" là bản sao một phần hay cả sách "Lão Tử".

"Lão Tử" của "Trúc giản" có tất cả 2046 chữ, tương đương với 2/5 số chữ của "Lão Tử" đang lưu hành. Vậy, nó là tất cả hay mới là một phần của sách.

- Quách Nghi cho rằng, "Lão Tử" của "Trúc giản" là bản nguyên của Lão Nham ở cuối thời kỳ Xuân Thu, cùng thời điểm với Khổng Tử, còn "Lão Tử" hiện hành là của Thái Sử Đan ở giữa thời kỳ Chiến Quốc, cùng thời với Tần Hiếu Công. Quan điểm này được một số người tán thành.

- Trong số những người phản đối, có Cao Trần Dương. Cao cho rằng, nội dung của "Lão Tử" mà "Luận ngữ", "Hàn Phi Tử", "Văn Tử" nhắc đến thì trong "Lão Tử" hiện hành có, còn trong "Lão Tử" ở "Trúc giản" lại không có, cho nên tác giả không phải là Lão Nham và "Lão Tử" ở "Trúc giản" có sau "Lão Tử" đang hiện hành.

- Số đông các nhà nghiên cứu hiện nay cho rằng, "Lão Tử" ở "Trúc giản" là bản sao một phần của sách "Lão Tử" đang hiện hành. Và, người sao chép có mục đích riêng của họ, nên 3 bản sao có sự khác nhau ít nhiều.

Vấn đề đặt ra ở đây là nếu đó là bản sao thì có phải sao chép từ một bản gốc không? hay là từ nhiều bản gốc khác nhau? Về vấn đề này, cũng có các ý kiến khác nhau. Chẳng hạn, Hứa Kháng Sinh cho là sao từ ba bản trong nhiều bản đang lưu hành; còn Đinh Tứ Tân lại cho rằng sao chép từ bản đang lưu hành vì nội dung và kết cấu của các sách ấy khác nhau không xa.

3.2. Về quan hệ Nho - Đạo.

Trước khi xuất hiện "Trúc giản" đã có hiện tượng Nho - Đạo đối lập nhau ở "Lão Tử", vì có câu "Tuyệt nhân khí nghĩa", "Tuyệt thánh khí trí". Nhưng ở bản "Trúc giản" thì không có hiện tượng đó, vì ở "Trúc giản" không có hai câu trên, mà chỉ nói tới vứt bỏ "biện, vi, tác". Nếu không có sự sao chép sai thì đây là một thông tin đáng lưu ý.

4. Một số vấn đề cần chú ý khi nghiên cứu "Trúc giản".

"Trúc giản" gợi mở nhiều vấn đề mới, nhưng cũng cần phải lưu ý khi thẩm định, đánh giá.

4.1. Phải chú ý đến tiền đề của vấn đề thảo luận, xem đó có phải là vấn đề có cơ sở tư liệu chắc chắn hay không.

 


(1) "Đại học chi đạo, tại minh minh đức, thân dân, tại chỗ ư chí "thiện".

(1) Dịch chương 18: Đạo lớn phế bỏ thì có nhân nghĩa; trí tuệ xuất hiện thì có giả dối lớn; cha con, anh em, chồng vợ bất hoà thì có nhân từ, hiếu thảo; nước nhà hỗn loạn thì có trung thần.

(2) Dịch chương 19: Đoạn tuyệt thánh và vứt bỏ trí thì dân lợi trăm lần; đoạn tuyệt nhân và vứt bỏ nghĩa thì dân trở lại với nhân từ, hiếu thảo; đoạn tuyệt khéo léo và vứt bỏ điều lợi thì trộm cướp không còn.

(3) Dịch chương 18 "Trúc giản": Cho nên đạo lớn phế bỏ thì làm thế nào có nhân nghĩa; cha con, anh em, chồng vợ không hoà thuận thì làm sao có nhân từ, hiếu thảo; nước nhà hỗn loạn thì làm sao có trung thần.

(4) Dịch chương 19 "Trúc giản": Đoạn tuyệt trí tuệ, vứt bỏ biện luận thì dân lợi trăm lần; đoạn tuyệt khéo léo, vứt bỏ điều lợi thì trộm cướp không có; đoạn tuyệt giả dối, vứt bỏ man trá thì dân trở lại với nhân từ hiếu thảo.

Đã xem: 632
Thời gian đăng: Thứ ba - 02/06/2015 23:32
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất