QC Shop

Quan niệm biện chứng của Lão Tử về thế giới

Ths. Nguyễn Thị Hồng

Nguồn: Triết học, số 3 (130), tháng 3 - 2002

Lão Tử là người sáng lập phái Đạo gia và được coi là nhà tư tưởng “nửa huyền thoại” của thế giới, nhà biện chứng số một của toàn bộ nền triết học phương Đông. Tư tưởng của ông được thể hiện chỉ trong khoảng 5000 từ của Đạo đức kinh, nhưng đã gây biết bao ấn tượng sâu sắc cho nhiều thế hệ từ trước tới nay.

Ảnh chỉ có tính chất minh họa

Ảnh chỉ có tính chất minh họa

Lão Tử, tương truyền là người sống cùng thời với Khổng Tử, là hiện tượng đặc biệt trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại. Ông là người sáng lập phái Đạo gia và được coi là nhà tư tưởng “nửa huyền thoại” của thế giới, nhà biện chứng số một của toàn bộ nền triết học phương Đông. Tư tưởng của ông được thể hiện chỉ trong khoảng 5000 từ của Đạo đức kinh, nhưng đã gây biết bao ấn tượng sâu sắc cho nhiều thế hệ từ trước tới nay. Không phải ngẫu nhiên mà Hêgen đã khẳng định  "... Lão Tử mới thật là đại biểu tinh thần của thế giới cổ đại Đông phương"(1). Nội dung của Đạo đức kinh hàm chứa ý nghĩa sâu rộng cả về triết học, văn hoá, chính trị, xã hội, đạo đức, v.v.. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến tính chất biện chứng trong tư tưởng triết học của ông qua các quan niệm chủ yếu về Đạo, Đức, vận động, mâu thuẫn và nhận thức.

Trong Đạo đức kinh có tới gần 40 thiên (chương) nhắc đến Đạo, nhưng không phải theo nghĩa thông thường, mà có tính trừu tượng, khái quát rất cao. Trước hết, Lão Tử dùng Đạo để chỉ bản nguyên của vũ trụ, tổ tông của muôn loài. Đó là cái mà ông gọi là "Đạo thường", "Đạo vô danh”. "Đạo thường" là đạo bản thể vĩnh cửu, bất biến, không giống cái gì cả, do đó khó có thể nói rõ được về nó, mà chỉ có thể dùng trực giác để lĩnh hội được phần nào mà thôi. Đạo ấy là vô thuỷ, vô chung nên  "... đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi". Có ý kiến cho rằng Đạo của Lão Tử là một thứ rất huyền  bí, thoát trần, không thể dùng ngôn ngữ, khái niệm để nói và nhận thức về nó, là một thứ siêu tự nhiên, thần bí, khó hiểu, một thực thể tinh thần tuyệt đối... (2).         

Thực ra, theo Lão Tử, Đạo - cái bản nguyên của vũ trụ, vẫn có tính vật chất, vẫn có thực chứ không phải là cái siêu nhiên. Ông viết: "Đạo là cái gì... thâm viễn, tối tăm mà bên trong có cái tinh tuý, tính tuý đó rất xác thực và rất đáng tin"(3);  "... có thể coi nó là  mẹ của vạn vật trong  thiên hạ... (4). Tác giả  Phan Ngọc nhận xét: "Cái Vô ở đây, theo cách giải thích của tác giả, đồng thời là cái đạo tự nhiên...cũng không có gì là huyền bí"(5).

Vậy "Đạo thường" chính là cái danh dùng để chỉ nguồn gốc sâu xa của thế giới vật chất, cũng như triết học Mác-Lênin gọi vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan vậy. Theo Lão Tử, Đạo là cái không có tên, là cái "vô danh". Những cái có tên, tức đã là cái cụ thể rồi, thì không còn là nguồn gốc của vũ trụ nữa, mà là biểu hiện, là hình thức của Đạo - bản thể của vũ trụ. Ông gọi đó là "Đạo khả đạo", là cái đã có tên. Chúng ta gọi đó là những dạng khác nhau của vật chất. Có thể nói, bằng trực giác thiên tài của mình, Lão Tử đã phỏng đoán đúng rằng không thể quy nguồn gốc của vũ trụ về một cái gì cụ thể ("cơ hồ không có gì giống nó cả"), cũng như chúng ta cho rằng không thể đồng nhất vật chất với vật một cụ thể nào, vì "... điện tử  cũng vô cùng vô tận như nguyên tử, giới tự nhiên là vô tận" (6).

Đó là một số nghĩa cơ bản trong quan niệm về Đạo của Lão Tử. Theo đó, đạo bản thể là cái vĩnh cửu, bất biến, còn đạo cụ thể là cái biến đổi không ngừng.

Ngoài ra, xét về mặt công dụng, Đạo còn là quy luật phổ biến chi phối mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực. Cho nên, Đạo là chỗ ẩn náu của vạn vật (vì đạo dung nạp vạn vật), là vật quí của người tốt, chỗ nhờ cậy của người không tốt, và "tuy ẩn vi mà không ai coi thường nó được". Ở đây, theo một nghĩa nào đó, cũng giống như chúng ta cho rằng không thể coi thường các quy luật khách quan. Chủ trương hành động, trị nước theo "Đạo tự nhiên" của Lão Tử càng chứng tỏ Đạo là quy luật khách quan.

Tóm lại, Đạo trong triết học Lão Tử không phải là cái gì đó "huyền bí", không hiện thực, mà là nguồn gốc có tính vật chất như bản thể nguyên thuỷ của vũ trụ. Nó biểu hiện ra thành giới tự nhiên với vô vàn các sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau; chúng tác động lẫn nhau, tạo nên những quy luật khách quan mà con người phải tuân theo mới tồn tại lâu dài. Cho nên, sự trừu tượng hoá nguồn gốc của vũ trụ thành Đạo ở đây là sự trừu tượng hoá từ bản thân tự nhiên chứ không phải từ tư duy thuần tuý như ở Hêgen.

Còn về chữ Đức, ở Trung Quốc cổ đại, nó được sử dụng rộng rãi và chủ yếu dùng để chỉ những đức tính cần có ở con người như đức nhân, đức tín, đức trung, đức hiếu... Khổng Tử cho rằng vua phải có năm đức cơ bản là cung, khoan, tín, mẫu, huệ. Sau này, nhà Nho nói đến ngũ đức - nhân, nghĩa, lễ, trí, tín - cũng theo nghĩa đó.

Trong Kinh Dịch, chữ Đức có một nghĩa khác hơn: Đức là tính  chất vốn có, tự nhiên của Ngũ hành như nước thì lạnh, chảy xuống thấp..., lửa thì nóng, bốc lên cao...

Trong Đạo đức kinh, chữ Đức được hiểu theo nghĩa khái quát nhất như tính chất căn bản, tự nhiên cần có ở vạn vật để cho vạn vật là nó chứ không phải là cái khác. Tuỳ theo đối tượng là sự vật hay con người mà Đức được hiểu là đặc tính vốn có (của sự vật) hay đạo đức (của con người).

Trước hết, Đức như là chất của sự vật mà nhờ đó, ta biết được sự tồn tại của sự vật. Mà sự vật là biểu hiện của Đạo trong vũ trụ, là "Đạo khả đạo", cho nên Đức không tách rời Đạo. Vì thế, Đức mới là cái nuôi dưỡng vạn vật sau khi chúng được Đạo sinh ra. Ví như con cá vốn sống ở nước mà nay không còn bơi lội được (do bị thương hay bị mắc cạn) thì sớm muộn sẽ chết.

Ở con người, Đức là đạo đức (giống như chữ Đức trong tứ đức của đạo Nho), là biểu hiện của Đạo ở mỗi người. Đức là cái bản chất, cái quí nhất của con người. Ông gọi những đức cơ bản của con người là những vật báu, đó là từ, kiệm, không dám đứng trước thiên hạ (khiêm tốn). Mặt khác, Lão Tử chú trọng hơn cả đến cái đức của thánh nhân - đức của người đạt đạo "vô vi", vô tư hết mực, làm mà không cậy công. Ông viết: "... Đạo sinh ra vạn vật, đức bao bọc, bồi dưỡng, nuôi lớn tới thành thục, che chở vạn vật... mà không chiếm cho mình, làm mà không cậy công, để cho vạn vật tự lớn lên mà không làm chủ, như vậy gọi là đức huyền diệu"(7). Ở Lão Tử, người có huyền đức gọi là thánh nhân vô vi, không làm gì cố ý mà chỉ thuận theo tự nhiên.

Như vậy, cả hai quan niệm về Đạo và Đức của Lão Tử đều thể hiện rõ tính chất biện chứng, đó là sự thống nhất giữa các mặt đối lập trong một thực thể. Đạo vừa rất trừu tượng vì là vô hình, vô thuỷ, vô chung, lại vừa cụ thể vì là mẹ của muôn vật. Mặt khác, Đạo là cái bất biến vì là bản thể của vũ trụ, là cái "không", nhưng cũng khả biến vì là tự nhiên, là cái "có". Đạo vừa "không làm gì", tưởng như vô dụng, nhưng lại "không gì không làm", hữu dụng vô cùng. Ở Lão Tử, Đức là sự thống nhất của hai mặt cụ thể và trừu tượng của nó. Khi Đức là đức tính của vạn vật và con người thì nó là cụ thể. Nhưng khi Đức là Thượng đức, Huyền đức thì nó lại rất trừu tượng vì khó mà cảm nhận được; phải hiểu và làm được theo đạo "vô vi" thì mới có thể biết thế nào là Đức huyền diệu.

Hơn nữa, bản thân Đạo và Đức là hai mặt của một thể thống nhất của vũ trụ, vạn vật. Đó là biểu hiện khác của tư tưởng biện chứng của Lão Tử. Thật vậy, theo  những phân tích trên, có thể hiểu Đạo và Đức là hai phạm trù không tách rời nhau, mà luôn gắn bó với nhau ("Đức là từ Đạo mà ra"), cũng như chúng ta hiểu quy luật đặc thù là biểu hiện cụ thể của quy luật chung nhất vậy. Mặt khác, vì Đạo biểu hiện thành muôn vật đa dạng, mà mỗi vật đều có đức của nó như năng lực vốn có để tồn tại, cho nên quan hệ giữa Đạo và Đức giống như quan hệ giữa cái chung và cái riêng vậy.   

Đối với con người, sự thống nhất đó càng thể hiện rõ, vì người có Đức chính là người có Đạo và ngược lại. Đó là Đạo vô vi với những yêu cầu: thuần phác, giản dị, trung thực, không giả tạo, vô tư như tự nhiên. Cái đức của con người thể hiện ở việc thực hành đạo tự nhiên trong cuộc sống. Càng thực hành đạo tốt bao nhiêu, con người càng có đức cao bấy nhiêu, vì "vô vi" là phương pháp có lợi nhất cho con người và mọi vật. Căn cứ vào bản chất của Đạo, Lão Tử khuyên người trị dân phải nắm được Đạo mà làm theo mới là có Đức.

Có thể nói, sự thống nhất giữa Đạo và Đức là cơ sở lý luận cho sự thống nhất giữa đạo tự nhiên và đạo người trong triết học của Lão Tử. Đây cũng là nội dung cốt lõi xuyên suốt tác phẩm Đạo đức kinh và là điều cơ bản nhất mà ông muốn để lại cho hậu thế. Học thuyết về Đạo và Đức của ông  thực sự chứa đựng những tư tưởng biện chứng, phản ánh sự gắn bó khăng khít giữa các mặt, các bộ phận cấu thành của sự vật cũng như của vũ trụ nói chung. Nó thể hiện trình độ tư duy trừu tượng rất cao của người Trung Quốc cổ đại.

Tư tưởng biện chứng của Lão Tử còn thể hiện ở quan niệm của ông về vận động, mâu thuẫn và nhận thức. Cụ thể, khi đọc Đạo đức kinh, ta luôn gặp hình ảnh Đạo dưới hình thức những sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên; chúng không phải là những cái bất biến, mà luôn vận động, biến đổi và chuyển hoá lẫn nhau. Ông viết: "Vạn vật trong thiên hạ từ có mà sinh ra, có lại từ không mà sinh ra"(8).

Sự biến đổi ở đây là sự "trở về gốc" của sự vật và là quy luật vốn có của vạn vật. Đó chỉ là những quá trình lặp đi lặp lại một cách tuần hoàn trong vũ trụ - lên rồi xuống, trăng tròn rồi khuyết, xuân hạ thu đông, v.v.. Trở về gốc, theo ông, là trở về mệnh và là luật tự nhiên của vạn vật. Biết luật tự nhiên thì sáng suốt, không biết thì sẽ làm sai mà gây hoạ.

Chính sự biến đổi không ngừng của vạn vật dẫn đến sự tồn tại tất yếu của các mặt đối lập trong mỗi sự vật, vì sự vật không nhất nhất chỉ là cái này hay cái khác, mà đồng thời,  nó là nókhông là nó theo kiểu "trong dương có âm, trong âm có dương" chứ không phải theo tương đối  luận. Cho nên ông viết: "... có và không sinh lẫn nhau; dễ và khó tạo nên lẫn nhau; ngắn và dài làm rõ lẫn nhau; cao thấp dựa vào nhau; âm và thanh hoà lẫn nhau; trước và sau theo nhau"(9). Đó là quan niệm về sự tương phản vốn có trong sự vật mà nguyên lý chung nhất là sự đối lập và thống nhất giữa "có và không" (hữu và vô). Theo ông, không có cái gì tồn tại một cách thuần tuý, tách rời cái đối lập với nó; trong mặt đối lập này đã chứa đựng mầm mống của mặt đối lập kia và ngược lại. Vì thế, "có" và "không"là cùng một gốc (Đạo). Cho nên, họa mới là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ nấp của hoạ... Hoạ phúc không có gì nhất định...

Chính trên cơ sở hiểu quy luật “hữu vô tương sinh", hữu - vô là "cùng một gốc", Lão Tử đã chứng minh rằng không chỉ cái "có" là hữu dụng, mà cái "không" cũng có chỗ dùng vậy. Ông quả thật là người có tư duy biện chứng, vì thấy cả hai mặt "có" và "không" của sự vật, cùng sự thống nhất hữu cơ giữa chúng. Cho nên, Lão Tử đã đúng khi khuyên người ta giải quyết việc khó từ khi còn dễ, thực hành việc lớn từ khi còn nhỏ, cũng như ngăn ngừa sự tình từ khi chưa manh nha, trị loạn từ khi chưa thành hình.

Như vậy, theo quan niệm của ông, mọi sự vật đều chứa đựng mâu thuẫn nội tại và sự phát triển là quá trình chuyển hoá lẫn nhau của các mặt đối lập trong sự vật. Tuy nhiên, ở đây chỉ có thể hiểu là mặt nọ chuyển hoá thành mặt kia, chứ chưa phải là hai mặt cùng chuyển lên trình độ cao hơn để làm thành mâu thuẫn mới trong quá trình phát triển. Điều đó làm cho quan niệm biện chứng của ông chưa được triệt để.

Trên cơ sở những quan niệm đó, Lão Tử đã bàn về khả năng và quá trình nhận thức của con người. Tin tưởng rằng con người có thể nhận thức được Đạo nên ông mới viết Đạo đức kinh để lại. Theo ông, nhận thức là một quá trình chứ không phải một lần là xong; mọi nhận thức chỉ là tương đối. Đạo tự nhiên luôn biến đổi theo quy luật nên sự hiểu biết của con người về nó cũng không thể là cố định. Vì vậy, ông cho rằng Đạo gọi được bằng một tên thì không còn là Đạo vĩnh cửu, tên gọi được bằng một tên thì không còn là tên vĩnh cửu nữa.

Quan niệm về nhận thức của Lão Tử tuy còn sơ sài nhưng có yếu tố đúng và phù hợp với quan niệm biện chứng về nhận thức hiện nay, trước hết là quan niệm về chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Song, cũng có chỗ ông tỏ ra quá đề cao tư duy trong quá trình nhận thức, thậm chí tuyệt đối hoá khả năng trực giác của trí tuệ, phủ nhận quá trình tiếp xúc của các giác quan với thế giới bên ngoài. Ông viết: "Không ra khỏi cửa mà biết được sự lý trong thiên hạ; không dòm ra ngoài cửa mà biết được đạo trời ... cho nên thánh nhân không đi mà biết, không nhìn mà thấy rõ, không làm mà nên"(10). Có thể nói, đó là một trong những hạn chế rất cơ bản của tư tưởng Lão Tử.

Tóm lại, tư tưởng của Lão Tử dường như không có những lập luận lôgíc, mà thường mang tính trực quan kinh nghiệm rõ rệt, song không phải vì thế mà nó không có giá trị khoa học. Trái lại, tuy còn sơ khai nhưng tư tưởng của ông đã phản ánh rất đúng bản chất của thế giới khách quan. Thế giới đó tồn tại tự nhiên, không phụ thuộc vào một lực lượng siêu nhiên nào. Nó không đứng yên, mà luôn vận động, biến đổi theo những quy luật vốn có và do nguyên nhân ở chính bản thân nó, do sự vận động, chuyển hoá của các mặt đối lập bên trong vạn vật. Ông luôn nhìn thế giới ở cả hai mặt chứ không phiến diện, cứng nhắc. Đó thực sự là nền tảng khoa học cho những phương pháp hành động cũng rất hợp lý của con người trong mọi quan hệ xã hội mà ông đã chỉ ra trong đường lối vô vi của mình. Mặc dù vậy, do hạn chế về lịch sử xã hội, ông đã không tránh khỏi những lối nói thái quá hoặc diễn đạt quá ngắn gọn khiến cho người ta khó hiểu đúng bản ý của ông. Từ đó đã gây không ít tranh cãi trong lịch sử triết học từ trước tới nay. Song, dù tranh luận như thế nào đi nữa thì tư tưởng của ông vẫn rất đặc sắc và có ý nghĩa to lớn, xứng đáng là "đại biểu tinh thần của thế giới cổ đại Đông phương".   

 


(1) Dẫn theo: Cao Xuân Huy. Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu. Nxb Văn hoá, 1995, tr. 419.

(2)  Tập bài giảng lịch sử triết học, t.1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 109 - 110.

(3)  Nguyễn Hiến Lê. Lão Tử. Đạo đức kinh. Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1994, tr.195.

(4) Nguyễn Hiến Lê. Sđd., tr. 202.

 (5)   Lão Tử. Đạo đức kinh (Phan Ngọc dịch). Nxb Văn học, Hà Nội, 2001, tr.7.

(6) V.I.Lênin. Toàn tập, t.18. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva,1980, tr. 323.

 (7)  Nguyễn Hiến Lê. Sđd., tr. 239.

(8)   Nguyễn Hiến Lê. Sđd., tr. 225.

(9)   Nguyễn Hiến Lê. Sđd., tr. 165.

(10) Nguyễn Hiến Lê. Sđd., tr. 234.

Đã xem: 3992
Thời gian đăng: Thứ hai - 02/02/2015 22:01
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất