QC Shop

Tình hình nghiên cứu và hoạt động của giới Nho học Trung Quốc mấy năm nay (Kỳ 1)

Nguyễn Tài Thư(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 7 (194), tháng 7 - 2007

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Từ cuối năm 2004 đến nay, ở Trung Quốc, xuất hiện một hiện tượng học thuật chưa từng có, đó là nghiên cứu, phục hưng và truyền bá Nho học. Tháng 10 năm 2004, ở Bắc Kinh đã diễn ra lễ kỷ niệm 2555 năm năm sinh Khổng Tử và tổ chức một cuộc hội thảo quốc tế lớn về Nho học. Dự hội thảo có khoảng 300 học giả Trung Quốc và thế giới với hơn 200 bản luận văn khoa học về Nho học được trình bày. Sau hội thảo này, Trung Quốc còn liên tiếp tổ chức nhiều hội thảo chuyên đề về Nho học với thế giới hiện đại và các hoạt động Nho học khác. Nhiều phương diện tư tưởng và vấn đề của Nho học đã được đề cập. Dưới đây, tôi chỉ giới thiệu một số nội dung cơ bản và có ý nghĩa thiết thực đối với hiện nay của các hoạt động trên.

1. Vai trò của Nho giáo trong nền văn minh đương đại ở thế kỷ XXI

Trên cơ sở nhận định của Huntington về những yếu tố cấu thành của các nền văn minh thế giới hiện đại là văn minh Âu - Mỹ với trụ cột là Kitô giáo, văn minh Á Đông với trụ cột là Nho giáo, văn minh Trung Cận Đông với trụ cột là Islam giáo (Hồi giáo) xung đột với nhau và tạo nên cục diện của thế giới đương đại, các học giả đã bàn tới đặc điểm chung của thế giới hiện nay và sự cần thiết phải xây dựng tư tưởng làm cơ sở cho việc giải quyết những mâu thuẫn của nó.

Mọi người đều có nhận định chung là thế giới ngày nay đang đi theo xu hướng toàn cầu hoá, tạo nên cục diện văn minh thế giới đương đại khác với các thế kỷ trước. Nhưng, nội dung và tính chất của văn minh đương đại là gì thì có nhiều quan điểm khác nhau. Có người cho rằng, đặc điểm của văn minh đương đại là kinh tế nhất thể hoá, chính trị nhất thể hoá, xã hội nhất thể hoá. Có người  lại cho rằng, đó là kinh tế toàn cầu hoá, văn minh vật chất toàn cầu hoá, nhưng văn minh tinh thần thì đa nguyên hoá, dân tộc hoá, nên phải thực hiện phương châm “cầu đồng tồn dị” (coi trọng cái giống nhau, bảo tồn những cái khác nhau).

Còn về tính chất của nền văn minh đương đại, văn minh của thế kỷ XXI là gì, thì theo các học giả, đây là vấn đề khó; vì nền văn minh này mới bắt đầu, còn đang trong quá trình hình thành, chưa có cơ sở đầy đủ để quyết đoán. Luận điểm của Huntington đã được một số học giả lấy đó làm căn cứ để phân tích. Năm 1993, Huntington có bài viết với nhan đề Sự xung đột của các nền văn minh. Đến năm 1999, ông lại có chuyên khảo Sự xung đột của các nền văn minh và việc xây dựng lại trật tự thế giới, trong đó có dự đoán rằng, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của xung đột văn minh. Có người cho rằng, ý kiến của Huntington như một loại thần chú đã trở thành hiện thực sau sự kiện 11/9/2001 (nước Mỹ bị bọn khủng bố quốc tế dội bom xuống thành phố Niuoóc và Oasinhtơn) và tiếp theo đó là “chiến tranh Ápganítxtan”, “chiến tranh Irắc”, làm cho cả thế giới phải lo ngại (Trương Tiễn, Đại học Nhân dân Trung Quốc). Từ đây, có người nêu lên rằng, nếu sự xung đột giữa các nền văn minh cứ tiếp diễn và người ta dùng bom hạt nhân để giải quyết thì nhân loại sẽ đi đến chỗ bị huỷ diệt. Và, vấn đề đặt ra là, thế giới phải chấp nhận tư tưởng gì và hành xử ra sao để mới có thể tránh được thảm hoạ có thể xảy ra như dự báo trên.

Có người nhắc lại ý tưởng đã từng xuất hiện ở Mỹ vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Đó là ý tưởng của một giáo sư người Mỹ gốc Hoa - Khổng Hán Tư đề xuất ý đồ xây dựng “Luân lý phổ biến” cho thế giới. Ý tưởng này được giới học thuật và thế giới toàn cầu lúc đó hưởng ứng nhiệt liệt và trên cơ sở này, vào năm 1997, Tổ chức Văn hoá Khoa học giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO), trong hội nghị Tôn giáo thế giới họp ở Chicagô (Mỹ) đã đề xuất Tuyên ngôn luân lý thế giới. Trong Tuyên ngôn này, có đoạn văn như sau: “Cái gọi là luân lý thế giới không phải là chỉ một hình thái ý thức mang tính thế giới, hoặc là một tôn giáo thống nhất đơn nhất, vượt khỏi mọi tôn giáo hiện có, càng không phải là một tôn giáo trong đó giữ vai trò khống chế hết thảy các tôn giáo khác. Luân lý thế giới, trong con mắt của chúng tôi, là ý thức chung làm cơ sở mang giá trị có sức ràng buộc, mang tiêu chuẩn không thể thủ tiêu, cùng với tôn trọng thái độ cá nhân. Không có ý thức chung cơ sở đó đối với luân lý thế giới thì chóng hay chầy mỗi một tập đoàn xã hội sẽ bị hỗn loạn hoặc bị chuyên chế uy hiếp và cá nhân cũng sẽ bị tuyệt vọng”. Một số học giả tham dự hội thảo, hoặc là công khai, hoặc là gián tiếp trong bài viết của mình, tán thành quan điểm này và đề xuất chủ trương để đáp ứng.

Phát biểu xoay quanh quan điểm trên, trước hết là các học giả người Hoa ở hải ngoại. Giáo sư Đỗ Duy Minh (Đại học Harvard, Mỹ) cho rằng, giữa các nền văn minh cần phải đối thoại, chứ không phải đối đầu và xung đột. Và, muốn đối thoại được thì chỉ có thể dùng tư tưởng “nhân” của Khổng Tử, vì đó là “giá trị hạt nhân của văn minh Nho gia”, vì “Thông qua nhân, các loại giá trị đều có thể được nuôi dưỡng và phát triển”, “Nhân cũng là giá trị tổng hợp, mỗi một giá trị đặc thù đều có thể làm phong phú và sâu sắc nội hàm của Nhân”. Giáo sư Thành Trung Anh (Đại học Honolulu, Mỹ) thì cho rằng, với văn minh nhân loại của thế kỷ XXI, không thể dùng chủ nghĩa lý tính phương Tây. Bởi tuy chủ nghĩa này đã tạo ra sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, của kinh tế và của dân chủ, pháp chế, nhưng nó cũng đưa lại sự khủng bố, bá quyền và chủ nghĩa thực dân mới. Ngược lại, nếu thực hiện phương châm tu dưỡng của nhà Nho mà Khổng Tử đã nêu ra là “chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ” (mục tiêu ở đạo, căn cứ ở đức, chỗ dựa ở nhân và vui chơi ở trong lục nghệ) và noi theo cách xử thế “vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã” (không cố ý, không tuyệt đối khẳng định, không cố chấp, không cho mình là duy nhất đúng) đã có trong Luận ngữ thì thế giới tuy có bất đồng, nhưng vẫn giữ được cục diện hoà hợp, vẫn bảo đảm được bộ mặt “hoà nhi bất đồng” mà thời xưa Khổng Tử đã nói. Giáo sư Lý Thuỵ Trí (Úc) cho rằng, sự sản xuất của các xí nghiệp phương Tây khiến người ta chỉ chú ý đến lợi ích vật chất, mà không từ bất cứ một thủ đoạn nào, đã phá hoại văn minh, phá hoại tinh thần nhân văn thì Nho giáo, với tính chất đạo đức và văn minh của mình, rất cần thiết phát huy tác dụng để ngăn chặn xu hướng công lợi của văn minh phương Tây. Ý kiến của các giáo sư trên nhận được sự hưởng ứng của nhiều người, do họ sống và công tác ở Mỹ, Úc, được trực tiếp tiếp xúc với nền văn hoá phương Tây và suy nghĩ nhiều về nền văn hoá đó.

Trung Quốc ngày càng có quan hệ rộng mở, lượng thông tin từ ngoài truyền vào nhiều, giới học thuật trong nước cũng có điều kiện xem xét và so sánh văn minh Nho giáo và văn minh phương Tây. Giáo sư Trương Tiễn (Đại học Nhân dân Trung Quốc) cho rằng, tư tưởng “trung thứ” của Nho giáo có thể dùng làm cơ sở cho việc giải quyết các bất đồng của thế giới hiện đại, vì nguyên tắc của “trung thứ” là “cái mình muốn thì làm cho người” (“Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”), “cái mình không muốn thì đừng làm cho người” (“Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”) sẽ hoá giải được các bất đồng và xung đột. Hơn nữa, theo ông, tư tưởng trên cũng có trong Kinh Thánh của Kitô giáo, như “cần yêu người như mình” và cũng có trong “thuyết lương tri” của đạo Islam, nên các bên dễ thừa nhận nhau. Giáo sư Trịnh Gia Đống thì đề xuất khái niệm “hoà” của nhà Nho; cho rằng, “hoà” dễ đi tới chấp nhận sự khác biệt và vượt qua sự khác biệt. Ông dựa vào câu nói của Trương Tải đời Tống: “Thù hận tất phải lấy hoà để giải quyết” (“hận tất hoà nhi giải”) và nói: Không phải là lấy oán trả oán, anh chết tôi sống, cũng không phải là một mực thoái nhượng, nhẫn nại, mà là dốc sức để tìm lấy một con đường hợp lý bao hàm tính khác biệt và vượt qua khác biệt. Giáo sư Ngô Quang (Viện Khoa học xã hội tỉnh Triết Giang) cho rằng, các tư tưởng: nhân ái, hài hoà, thành tín, trung dung của Nho giáo có thể trở thành cơ sở để giải quyết các xung đột hiện nay trên thế giới. Ông nói: quan niệm giá trị hạt nhân của Nho gia là bốn phạm trù lớn: nhân ái, hài hoà, thành tín, trung dung. Những quan niệm giá trị hạt nhân này có tính phổ quát, đang phát huy tác dụng thực tế trong tiến trình toàn cầu hoá, hiện đại hoá và trở thành quan niệm giá trị cơ bản mà toàn nhân loại có thể thừa nhận. Ý kiến của các học giả trên, tuy khác nhau về nội dung cơ bản của Nho gia, song đều cho thấy sự thống nhất là có thể dùng tư tưởng Nho gia để giải quyết các xung đột, các mâu thuẫn của thế giới ngày nay.

Nhưng, có một thực tế là, Nho giáo đã tồn tại hơn 2000 năm lịch sử, có lúc nó tạo được xã hội hài hoà, thống nhất; nhưng cũng có lúc nó bất lực trước những xung đột và mâu thuẫn của xã hội. Chính quyền xây dựng trên cơ sở tư tưởng Nho giáo phải dùng đến biện pháp bạo lực để giải quyết hoặc phải dùng tư tưởng Phật giáo và Lão – Trang để hỗ trợ. Do đó, trong thế giới ngày nay, với phạm vi rộng lớn hơn và phức tạp hơn bất cứ một xã hội nào trước đó, thì việc sử dụng Nho giáo làm công cụ tinh thần duy nhất của thế giới liệu có hiệu lực thực tế không? Đó là vấn đề còn phải tiếp tục đi sâu tìm hiểu và biện minh.

2. Nho học và luân lý môi trường hiện đại

Trong xã hội hiện đại, luân lý môi trường ngày càng trở nên quan trọng. Theo các học giả Nho gia, để xây dựng được luân lý môi trường, cần thiết phải mở rộng nội hàm của khái niệm luân lý từ môi trường xã hội sang môi trường tự nhiên, phải khắc phục sự cách biệt và đối lập giữa con người và tự nhiên, giữa chủ thể và khách thể và phải trở về với triết học phương Đông cổ đại, trong đó có triết học Đạo gia và đặc biệt là triết học Nho gia. Dưới đây là một số quan điểm tiêu biểu.

Trương Lập Văn (Đại học Nhân dân Trung Quốc), trong bài Nho học và luân lý mạng, sinh mệnh, hoàn cảnh, cho rằng, xã hội hiện đại đang bị chi phối bởi năm loại xung đột: xung đột giữa giá trị con người và tự nhiên cùng nguy cơ sinh thái của nó, xung đột giữa giá trị con người và xã hội cùng với nguy cơ nhân văn của nó, xung đột giữa giá trị con người và tâm linh cùng với nguy cơ tinh thần của nó, xung đột giữa giá trị con người và văn minh cùng với nguy cơ trí năng của nó. Để khắc phục những xung đột trên, ông cho rằng cần phải hành động theo quan điểm của nhà Nho là “thiên nhân hợp nhất”, xem dân là đồng bào, xem vật là cùng sống với mình, mình trưởng thành vật cũng trưởng thành (“thành kỷ thành vật”).

Trong bài viết của mình: Nho học và xây dựng hoàn cảnh sinh thái đương đại, Từ Nghi Minh (Đại học học báo Hà Nam), cho rằng, “thế kỷ XXI là thời đại văn minh sinh thái, hoặc thời đại cuối cùng đi đến văn minh sinh thái”. Với thời đại này, cần phải phê phán các quan điểm “thiên nhân tương phân”, “nhân định thắng thiên”, “người là chúa tể của tự nhiên”, “người là chủ nhân của đại tự nhiên”, “chinh phục tự nhiên”, “chiến thắng tự nhiên”, v.v., vì với các quan điểm đó, con người đã bóc lột và huỷ hoại giới tự nhiên một cách vô tội vạ. Ông cho rằng, vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải vận dụng và phát huy các tư tưởng của nhà Nho, như “nhân dân nhi ái vật” (có nhân với dân và yêu mến các vật) của Mạnh Tử; tôn trọng sự sinh của trời đất “thiên chi đại đức viết sinh” (đức lớn của trời là sinh) của Dịch truyện; cho ngoài yêu dân, có yêu chim, thú, côn trùng mới thực là yêu của Đổng Trọng Thư; như cho trời đất, sinh vật đều có “sinh ý” của Tống Nho, v.v.. Tóm lại, con người cần chuyển từ quan điểm “thiên nhân đối lập” sang quan điểm “thiên nhân hài hoà”, quan điểm “trung hoà chi vi dụng” (suy nghĩ và hành động theo phương pháp trung hoà) của nhà Nho.

Chu Hiểu Bằng (Viện Kinh tế học chính trị, Học viện Sư phạm Hàng Châu) với luận văn Bàn về vấn đề chuyển hướng sang phương Đông của luân lý học sinh thái phương Tây, cho rằng, luân lý phương Tây trong thế giới đương đại, do hoàn cảnh đặt ra và do kế thừa văn hoá phương Đông, đã từ lĩnh vực xã hội mở rộng ra cả lĩnh vực tự nhiên. Ông cho rằng, để giải quyết nguy cơ của hoàn cảnh sinh thái, cần phải thay đổi quan niệm về thế giới quan, sinh hoạt quan, giá trị quan, phát triển quan của nhân loại, cần phải nâng cao trình độ chỉnh thể của đạo đức nhân loại và phổ cập quan điểm của đạo đức sinh thái, làm cho chúng vượt ra khỏi phạm vi luân lý học đối với người, biến các “giá trị” và “quyền lợi” vốn chỉ dùng để chỉ thế giới con người, sang cả thế giới của hết thảy các vật tồn tại.

Trương Học Trí (Khoa Triết học, Đại học Bắc Kinh), trong bài Từ hoàn cảnh nhân sinh đến ý thức sinh thái (tập trung vào điều mục của tự nhiên trong thuyết “Lương tri” của Vương Dương Minh thời Minh), cho rằng, hoàn cảnh sống của loài người hiện nay đang xấu đi, nguy cơ sinh thái có thực. Tác giả cho mâu thuẫn của sinh thái học hiện đại tập trung thể hiện trên vấn đề thừa nhận hay không thừa nhận chủ nghĩa duy tâm nhân loại. Nếu thừa nhận chủ nghĩa này thì có nghĩa là xem con người là trung tâm của vũ trụ, là chúa tể của trời đất, có quyền hy sinh lợi ích của vạn vật để phục vụ cho bản thân mình; nếu không thừa nhận thì có nghĩa rằng mỗi vật tồn tại trong vũ trụ đều có giá trị nội tại của nó, cần phải đưa vào tầm nhìn của đạo đức hoàn cảnh của con người và do đó, không thể lấy giá trị thoả mãn nhu cầu của loài người làm thước đo giá trị của các vật và con người muốn làm gì thì làm. Ông cho rằng, để bảo đảm được lợi ích lâu dài, con người phải lựa chọn quan điểm thứ hai. Đối chiếu hai nền văn hoá Tây - Đông, ông thấy văn hoá truyền thống phương Tây có cơ sở ở đạo Kitô là kẻ ủng hộ tích cực cho chủ nghĩa trung tâm nhân loại, nhất là từ Đêcáctơ trở đi thì quan điểm này càng phát triển lan tràn, làm nguy hại đến sự cân bằng sinh thái, đến nỗi ngày nay họ phải thực hiện cuộc vận động trở về với màu xanh. Còn Trung Quốc vốn có quan điểm “Thiên nhân hợp nhất” khiến cho hành động con người không phương hại đến môi trường, nhưng nhiều năm gần đây, do ra sức phát triển công thương nghiệp một cách ồ ạt mà quên đi tư tưởng vốn có của mình, khiến cho sinh thái xấu đi; do vậy đã đến lúc phải xem “vạn vật là một thể thống nhất”, phải nhìn nhận tự nhiên theo quan điểm “lương tri” của Vương Dương Minh, nghĩa là phải biết yêu vạn vật và lấy của vạn vật một cách hợp lý. Tác giả kết luận: từ hoàn cảnh nhân sinh đi vào ý thức sinh thái, khắc phục những ý kiến lệch lạc và phản nhân đạo trong lý luận sinh thái hiện đại, cần phải xem ý kiến của Vương Dương Minh là có ý nghĩa.

Từ các góc độ khác nhau, các tác giả đều thấy nguy cơ của môi trường sinh thái hiện nay và cho rằng, phải khắc phục nguy cơ đó bằng cách quay về với lý thuyết của phương Đông, nhất là lý thuyết của Nho học về quan hệ giữa con người với tự nhiên.

Nhưng, ra đời trong điều kiện quan hệ giữa con người với tự nhiên còn đơn giản, bản thân triết lý phương Đông lúc đương thời cũng tự nhiên và đơn giản, khó đáp ứng được yêu cầu của quan hệ đã phức tạp hơn nhiều của ngày nay; vì vậy, cần phải có một bước tiếp theo là đi sâu và lý giải về những điều kiện để cho một lý thuyết truyền thống có thể phát huy được ở một xã hội hiện đại mà không phải là phục cổ hay gán ghép.

3. Vai trò của luân lý đạo đức Nho gia đối với con người và xã hội hiện nay

Nhìn vào đất nước Trung Quốc hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu Nho học thấy rằng, đạo đức xã hội ngày một sa sút: con cháu bất hiếu với cha mẹ, ông bà; nhiều người xem đồng tiền cao hơn đạo nghĩa; nạn cửa quyền, tham nhũng tràn lan, gian dối trong thi cử, v.v.. Họ cho rằng, cứ như thế này thì lòng người và xã hội sẽ không yên, vì ở đó tiềm ẩn nguy cơ làm bại hoại một đất nước vốn có truyền thống coi trọng đạo đức, làm biến chất một nền văn minh tinh thần đang được xây dựng. Trong các hội thảo khoa học, trong các lần gặp gỡ giao lưu, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, những người có lương tri luôn có lời lẽ phàn nàn, luôn có những phát biểu đòi hỏi chấn chỉnh.

Ngoài ra, người ta thấy, trong xu thế toàn cầu hoá, quan hệ và giao tiếp giữa con người với con người, giữa tập đoàn với tập đoàn, giữa dân tộc với dân tộc ngày càng mở rộng trên nhiều lĩnh vực, không những trên lĩnh vực kinh tế, chính trị mà cả trong lĩnh vực văn hoá - tư tưởng, không những ở trong nước, mà còn ở cả quốc tế. Ở đó, việc xử lý các mối quan hệ không những phải dựa vào điều khoản của các hợp đồng, của các văn bản đã ký kết, mà còn phải dựa vào các nguyên tắc của ứng xử, nghĩa là cần có một đạo đức mà các bên đều có thể chấp nhận. Để xây dựng đạo đức đó, người ta nhìn vào việc kế thừa và phát huy đạo đức truyền thống.

Nhiều nhà nghiên cứu thấy rằng, Trung Quốc có một truyền thống đạo đức phong phú. Cả ba đạo Nho, Phật, Lão đều có công đóng góp của mình vào truyền thống này, trong đó chủ yếu là đạo Nho. Nhưng mọi người cũng thấy rằng, ra đời trong xã hội phong kiến và phục vụ cho xã hội phong kiến, đạo đức Nho gia hiển nhiên không thể phục vụ tốt cho xã hội hiện đại. Vấn đề đặt ra là, cần phải có sự thẩm định, xem ở đó, cái gì là tích cực, cái gì là tiêu cực và trong ngay cái tích cực của truyền thống, thì cái gì còn phù hợp, cái gì đã quá thời. Trên cơ sở đó, thấy cần phải kế thừa cái gì và gạt bỏ cái gì, đồng thời cũng phải xem ưu điểm và hạn chế của đạo đức Nho học để có điều kiện phát huy hoặc phải sửa chữa, bổ sung.

Nguồn tư liệu truyền thống nói về đạo đức Nho gia thì có nhiều, song các tác giả gần như tập trung nhắc tới các cuốn Luận ngữ, Mạnh Tử, Hiếu kinh, Trung dung, Nhị thập tứ hiếu, v.v.. Cứ liệu dựa vào thì như vậy, song khi nêu những nội dung cơ bản của đạo đức Nho gia thì lại khác nhau. Có người nhấn mạnh giá trị đạo đức Nho gia qua các khái niệm “trung”, “hiếu” (Nhậm Kế Dũ – Viện Nghiên cứu Tôn giáo thế giới, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc); có người nhấn mạnh tư tưởng “thành”, “tín” trong Luận ngữTrung dung (Tiêu Sĩ Bình - Đại học Tập Mỹ, Hạ Môn); có người nhấn mạnh tư tưởng “nhân”, “lễ” trong Luận ngữ (Khổng Lệnh Hồng - Đại học Triết Giang); có người nhấn mạnh tư tưởng “Hoà nhi bất đồng” của Khổng Tử (Trang Tố Phương, Nho thương học quốc tế), v.v.. Sở dĩ có sự khác nhau đó, một phần vì phương pháp tiếp cận khác nhau, phần khác vì trọng tâm hướng tới của các nhà nghiên cứu là phát hiện những giá trị vốn có của truyền thống để đáp ứng được nhu cầu nhiều mặt của cuộc sống đạo đức hiện tại, chứ không phải là để xác định giá trị nào đó là chủ yếu, thứ yếu.

Phục hưng, truyền bá, phát huy đạo đức Nho gia vào xã hội hiện đại, đối với mọi người là việc cần thiết, song không phải không gặp những khó khăn. Có người nói rằng, các khái niệm, các nguyên tắc đạo đức Nho gia đã tồn tại mấy nghìn năm và đã có lúc phát huy tác dụng tích cực, nhưng do gần một trăm năm nay chúng liên tục bị đả kích vì các lý do chống phong kiến, chống bảo thủ, chống cổ hủ, khiến người dân đã thành kiến với chúng, quên mất chúng, nay để người dân tiếp nhận không phải dễ. Ngoài ra, phương pháp kế thừa cũng thành vấn đề, vì đem cái truyền thống phổ biến vào thế giới hiện đại là vấn đề không giản đơn, không khéo sẽ phục cổ, nệ cổ, đi đến phản tác dụng.

Nhìn nhận về truyền thống đạo đức Nho gia, nhiều nhà nghiên cứu mang quan điểm giản đơn, siêu hình. Họ tự hào về truyền thống này, cho rằng các khái niệm, các phạm trù của nó đều có “ý nghĩa hiện đại”, “tính hiện đại” và như một sự hiển nhiên, chúng đều có thể vận dụng vào xã hội hiện đại.

Nhưng, có một số nhà nghiên cứu khác mang quan điểm biện chứng, thực tế. Họ thấy rằng, các khái niệm đạo đức đó, dù có giá trị tích cực, chúng vẫn là sản phẩm của xã hội phong kiến, mang tính chất phong kiến. Nếu giữ nguyên và truyền bá chúng vào xã hội hiện đại sẽ có điều không phù hợp, sẽ không ăn nhập được tư tưởng chung của thời đại, thậm chí cản trở sự phát triển của thời đại. Vì vậy, họ thấy cần có sự đổi mới chúng, cải tạo chúng. Ở đây, có thể nêu lên một số ý kiến tiêu biểu.

Giáo sư Nhậm Kế Dũ (nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo thế giới, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc) nói: trong truyền thống văn hoá Nho gia có tinh hoa, nhưng phải tiến hành thanh lý tổng kết, phải có sự giải thích mới. Ông còn nói: căn cứ vào đặc điểm thời đại mà đưa ra sự giải thích mới, làm cho nghiên cứu Nho học bước sang một giai đoạn mới. Giáo sư Trương Lợi Dân (Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc) nói: dù được cho là quy phạm hoặc tư tưởng của mỹ đức truyền thống thì cũng phải đưa lại quy định mới, phải hướng về thời đại để không ngừng phong phú nó, phát triển nội hàm của nó, chứ không phải là giản đơn chuyển một hệ thống tư tưởng này sang một hệ thống tư tưởng khác. Giáo sư Vương Điện Khanh (Viện Nghiên cứu đạo đức phương Đông, Bắc Kinh) cũng nói: đối với giá trị chính trị của luân lý Nho gia cùng với sự diễn biến của nội hàm chủ yếu tư tưởng trị quốc của nó, cần tiến hành phát hiện mới, chuyển hoá, đổi mới và lợi dụng… Phải nói đây là quan điểm thức thời và khoa học vì có như thế mới phù hợp với chủ trương xây dựng hệ thống đạo đức tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, nhịp nhàng với các quy phạm pháp luật xã hội chủ nghĩa và tiếp nối được mỹ đức truyền thống Trung Hoa như Báo cáo Đại hội lần thứ XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra, và có như thế thì mới thực hiện được quy luật tất yếu mới thay thế cũ mà có người đã nêu lên.

Tiến thêm một bước nữa, có người đặt vấn đề phải tìm hiểu xem đạo đức Nho gia truyền thống với tính chất là đạo đức xã hội có hạn chế nào không? Và, những biểu hiện tiêu cực của đạo đức hiện đại có liên quan gì với đạo đức Nho gia truyền thống?

Nhìn vào bộ mặt đạo đức hiện đại Trung Quốc, người ta thấy bộc lộ hai hạn chế trầm trọng. Một là, ở một số người, việc làm điều ác đã mang tính chất tự nhiên (tham nhũng, gian dối, ngang nhiên hãm hại người khác, cá nhân chủ nghĩa, bỏ rơi cha mẹ già, trộm cắp các kiểu,…). Hai là, ở một số người khác, thì có sự bàng quan trước các điều ác đó (thái độ dửng dưng, vô cảm, cho là không phải trách nhiệm của mình, v.v.). Cả hai hiện tượng đó đều được xem là nghiêm trọng như nhau, tác hại như nhau. Có người thấy được nguyên nhân của tình trạng trên có phần trách nhiệm của Nho gia truyền thống. Có người nêu Nho gia tuy nói nhiều đến đạo đức, nhưng đó là “tư đức”, chứ không phải “công đức”. Họ viện dẫn từ đầu thế kỷ XX, Lương Khải Siêu đã nói: đạo đức của Nho gia chỉ là “tư đức”, là đạo đức của gia tộc, chứ không phải là đạo đức xã hội. Một số nhà nghiên cứu hiện đại khác của Trung Quốc cũng tán đồng quan điểm trên. Trương Lợi Dân (Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc), trong bài Không ngừng phong phú, phát triển nội hàm mỹ đức truyền thống dân tộc Trung Hoa nói rằng, người Trung Quốc trong quá khứ coi trọng tư đức thái quá, nhưng làm thế nào để phục vụ cho công cộng thì không nói tới. Phương Nhĩ Gia (Khoa Triết học, Đại học Chính Pháp Trung Quốc), trong bài Tính công cộng, cũng nói: Nho gia là đại biểu của văn hoá chủ lưu Trung Quốc, sự thiếu sót về tính công cộng là nhược điểm trí mạng trong ý thức đạo đức của nó. Từ sự phân tích như vậy, họ cho rằng nguyên nhân trượt dốc của đạo đức xã hội Trung Quốc hiện nay có phần liên quan tới việc thiếu những ý thức công cộng của đạo đức truyền thống.

Từ những ưu điểm và nhược điểm của đạo đức Nho gia truyền thống đã được nêu ra và bàn luận, giới Nho học Trung Quốc tiến thêm một bước nữa. Đó là, tổ chức diễn đàn “Luận bàn luân lý Nho gia và giáo dục đạo đức công dân khu vực Đông Á” nhằm đi sâu hơn vào nội dung đạo đức Nho gia và phát huy những giá trị của lý luận đạo đức đó vào việc xây dựng đạo đức công dân trong giai đoạn hiện tại. Họ đã tổ chức được hai cuộc hội thảo. Kỳ hội thảo thứ nhất được tổ chức vào tháng 11 năm 2003 ở tỉnh Tứ Xuyên, kỳ thứ hai vào tháng 10 năm 2006 ở tỉnh Hà Nam. Thành phần hội thảo bao gồm nhiều giáo sư nghiên cứu và giảng dạy đạo đức học, lịch sử triết học ở các cơ quan nghiên cứu và các trường đại học. Ngoài ra, còn có các cán bộ tuyên giáo của một số tỉnh, thành ở Trung Quốc cùng với một số hiệu trưởng các trường trung học, tiểu học được mời dự với tư cách là những người đảm đương công việc giáo dục luân lý đạo đức cho thế hệ trẻ. Hội thảo đã tập trung trao đổi 5 vấn đề: 1. Suy nghĩ về vận mệnh lịch sử của luân lý Nho gia ở thời cận hiện đại và triển vọng giá trị lịch sử của nó trong tương lai; 2. Công năng và giá trị của luân lý Nho gia trong việc giáo dục đạo đức công dân hiện đại và xây dựng xã hội hài hoà; 3. Phát hiện và đổi mới trí tuệ đạo đức phương Đông với luân lý Nho gia là chủ đạo; 4. Thành quả mới của nghiên cứu lý luận “công dân và đạo đức” ở Đông Á và khu vực; 5. So sánh luân lý phương Đông và luân lý phương Tây cùng giá trị của chúng trong việc giáo dục đạo đức công dân.

Nhiều chuyên gia một lần nữa trình bày giá trị đương đại của luân lý Nho gia, như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, khắc kỷ phục lễ, nhân cách quân tử, và phân tích các chuyên đề như hiếu, thành, sỉ, trung, v.v.. Đặc biệt, ở cuộc hội thảo lần thứ hai ở Hà Nam, giáo sư Từ Hoài Thành (Tổng Biên tập Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc và Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học đạo đức, Đại học Nhân dân Trung Quốc) đã có bài phát biểu quan trọng, nêu lên rằng, nghiên cứu luân lý Nho gia phải có sự đột phá mới, một là phải nghiên cứu quy luật giáo hoá đạo đức truyền thống Trung Quốc; hai là phải nghiên cứu bồi dưỡng cảm quan vinh nhục và tìm lấy điểm đóng mở của đạo đức. Bản thân ông cùng với một số nhà nghiên cứu khác thấy rằng, truyền thống Nho học đã rất chú ý đến cảm quan vinh nhục cần thiết cho việc giáo dục con người, như Mạnh Tử đã nhấn mạnh “lòng trắc ẩn”, “lòng biết hổ thẹn” ở con người và Khổng Tử nêu lên cảm giác sỉ nhục khi con người làm trái “lễ”. Từ đây, nhiều người thấy rằng cần phải xây dựng quan điểm vinh nhục cho con người hiện đại.

(Còn nữa)

                                                    

   

Đã xem: 472
Thời gian đăng: Chủ nhật - 22/11/2015 22:21
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất