QC Shop

Tư tưởng dân tộc Cadắcxtan

A.Nisabaiép(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 10 (161), tháng 10 - 2004

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Thập niên phát triển chủ quyền của Cadắcxtan là rất khó khăn và có lúc, nó đã phải trải qua trong tiếng thở dài. Ở đây, không có một dấu ấn nào về thời kỳ quá độ, vì tăng trưởng kinh tế chỉ liên quan tới sự “phục cổ” với giải pháp lấy tầng lớp trung lưu làm nhân tố cơ bản cho sự ổn định kinh tế đang trong quá trình hình thành; hơn nữa, xuất phát điểm của nó là từ một nền cộng hoà và giống như một thứ tư liệu thô, người ta đã xuất phát từ đó để đổi thay thành một đất nước cách tân, phát triển với đầy đủ công nghệ và kỹ thuật truyền thông hiện đại. Cadắcxtan có được quyền lực trên trường quốc tế như một thành viên mới là tại các diễn đàn quốc tế, như Đại hội về các tôn giáo thế giới và tôn giáo truyền thống vừa được tổ chức ở Astana và Hội nghị sắp tới về giới trí thức sư phạm và khoa học, nơi mà các đại diện của nhiều dân tộc, đảng phái, văn hoá và tín ngưỡng khác nhau tập trung vào những vấn đề đối thoại có nhiều hứa hẹn hữu ích nhất. Nước cộng hoà non trẻ này đang bộc lộ rõ tiềm năng sáng tạo linh hoạt và niềm say mê đáng ghen tị, tạo nên một phong cách trong các hoạt động quốc tế. Mới đây, V.V. Putin - Tổng thống Liên bang Nga - đã thừa nhận Cadắcxtan là một thành viên mới trong hiệp định ký kết bốn bên về hội nhập kinh tế và văn hoá ở Ianta để tạo nên một trang mới trong lịch sử hậu nhà nước Xô viết. Không một ai lại rời bỏ nền cộng hoà quê hương khi đã hiểu tương lai của mình và của con cháu mình đang trong một đất nước có triển vọng tạo ra các cơ hội mới. Người ta còn chưa biết, nhưng chắc hẳn trong tương lai không xa, ở Cadắcxtan, mọi trẻ sơ sinh sẽ được hưởng một tài khoản riêng khá đủ để có thể bắt đầu cuộc sống một cách tự tin và tin tưởng rằng, sự giàu có của đất nước sẽ đủ cho những dự tính như vậy. Những người đã rời bỏ đất nước để tìm một cuộc sống tốt hơn hiện đang trở lại quê hương, nơi mà, như Thủ tướng đã nói, luôn mở rộng cửa đối với họ.

Mọi người có thể tham khảo số liệu thống kê để có được số liệu và bản thống kê xác thực về điều này, nhưng sự thật tự nó đã nói lên tất cả, kể cả khi không có các con số ấy. Dẫu vậy, chớ để cho thành công khiến chúng ta tự đắc và bỏ qua những vấn đề phức tạp còn chưa được giải quyết, và thực sự vẫn còn những vấn đề như vậy: sự phân hoá xã hội tăng nhanh là một vấn đề bức xúc. Tầng lớp trung lưu với tư cách nền tảng đang trong quá trình hình thành, nhưng khi sự giàu có tăng lên thì tự nó lại chứng minh một cách rõ ràng rằng, đói nghèo là mặt trái. Người ta có thể nghe thấy những nhận xét rằng, chẳng nơi nào có nhiều xe đắt tiền và của cải phô trương một cách sôi động như ở đây: những ngôi nhà kiểu cách ở vùng ngoại ô đáng giá hàng triệu, các sòng bạc có quảng cáo lớn và nhà hàng, trung tâm giải trí, sàn nhảy loại sang.

Sẽ là không phải khi giải thích sự giàu có của một nước ở châu Âu, nơi mà hình ảnh đặc trưng cho một người giàu có và thành đạt đã được định hình như lời tuyên bố mọi hiện tượng xã hội (tính dục, tuổi tác và sự giàu có) là kết quả của cơ cấu xã hội. Mức độ phúc lợi của người dân ở các nước kém phát triển được quy theo các nhân tố vật chất và ngân quỹ, nhưng đối với các nước phát triển thì các nhân tố khác lại được chú trọng: giáo dục, ưu thế nghề nghiệp và trình độ văn hoá. Nước chúng tôi cũng không xa lạ với trình độ này.

Điều cảnh báo nghiêm trọng nhất của sự phân cực này là không có được sự thống nhất tư tưởng để có thể cảm thông với tất cả các huyết tộc, tầng lớp, đẳng cấp và hợp nhất tất cả cả về phương diện tinh thần lẫn đạo đức trong con người Cadắcxtan. Vấn đề là liệu có thể phát triển được tinh thần đó không: cần phải làm thế nào để thống nhất được 130  nhóm huyết tộc và làm sao để có thể, một mặt, thoả thuận được với chủ nhân của các ngôi nhà đắt tiền; mặt khác, với những người ở các khu chung cư, và khó hơn nữa, với những người sống ở các khu nhà tạm.

Còn quá nhiều vấn đề. Phải chăng, đây là một cố gắng trở lại với ý thức hệ đã rõ ràng khi đang định hình tư tưởng dân tộc? Ý thức hệ là gì và nó có chức năng gì? Liệu có thể tạo ra một nhà nước thống nhất khi không có một ý thức hệ duy nhất mà lại đưa ra khẩu hiệu đa nguyên ý thức hệ? 

Tiếp cận lý thuyết cho thấy rằng, mỗi một ý thức hệ đều có thể bị bác bỏ. Ý thức hệ có thể bị xuyên tạc cũng có thể là nhận thức sai lầm, là hệ thống các tư tưởng mà ở đó, thực tại bị bóp méo một cách cố ý để chứng tỏ những quyền lợi hợp pháp của một tầng lớp xã hội đặc biệt. Ý thức hệ này là một phương pháp hữu hiệu trong việc định hình nhận thức của quần chúng.

Mặc dù vậy, còn một phương diện khác của ý thức hệ, chủ yếu là một hệ thống các tư tưởng mà xã hội được dẫn dắt bởi nó và trở thành vững chắc xung quanh một kế hoạch, một chiến lược và một mô hình đơn giản. Tồn tại xã hội không đơn giản là tồn tại có tính kinh nghiệm hay lý tưởng thuần tuý xuất phát từ các lập trường triết học; phạm vi đó là lý tưởng có thực, dẫu đó chỉ là trong chốc lát, vì ngay từ đầu, sức mạnh kinh nghiệm của tồn tại người tự nhiên đã bị chọc thủng bởi khoảnh khắc tồn tại của siêu nhân. Xã hội là một thực tại nào đó không giống như một tổng số hay một tập hợp các cá nhân hay nhóm huyết tộc, mà như là một thực tại căn bản và xác thực. Cái đầu tiên chi phối đời sống xã hội là tư tưởng, lý tưởng, v.v. - cái mà người ta được hưởng và cũng là sự thách thức. Một người luôn muốn trở thành cái gì đó quan trọng và khác với chính mình.

Vấn đề này liên quan đến biện chứng của thực tại và lý tưởng, thực tại và cái hưởng được.  Lý tưởng được đính vào trong lớp áo của đời sống thực nhưng bản thân nó lại ở bên kia của giới hạn tồn tại. Lý tưởng không phải là kết quả kéo theo của các khuynh hướng có thực; nó có thể được sinh ra từ quyền lực tinh thần của loài người nhằm lấp đầy những chỗ hổng và đưa ra dự đoán tương lai từ hiện tại. Lý tưởng có thể hoặc không thể tới gần được; lý tưởng có thể hoặc không thể đạt được, trong khi cuộc sống loài người lại trở nên phẳng lặng, vô nghĩa, có thể bị quy về duy nhất một kích thước, một bề trong không gian và thời gian nếu không có lý tưởng.

Ý thức hệ có thể được hiểu như là toàn bộ các quan niệm thuộc ngữ nghĩa, chương trình chuyển biến và phát triển tinh thần đó. Logos với tư cách thành phần thứ hai hợp thành định nghĩa là quy luật, là cái phổ quát, là thế giới tối cao. Nếu xem xét ý thức hệ theo quan điểm này thì rõ ràng nó là cần thiết đối với chúng ta, một khi xã hội cảm thấy thiếu tâm linh, nhân tính và tình yêu thương. Các khuynh hướng thiên về tiêu xài và tiêu xài cao cấp cùng với sự xa hoa đang trở nên rõ nét hơn. Bọn trẻ phô ra sự thiếu hụt tín ngưỡng tâm linh với biểu hiện là cái gì cũng có thể mua được - từ trình độ giáo dục cho tới lòng nhân từ của một người mà chúng cần. Thông tin đại chúng có hành động hỗn xược chưa từng có bằng việc truyền bá rộng rãi sự xác nhận của nó về sự sùng bái bạo lực, cái ác, sự lệch lạc về dục tính, đề cao thói quen, không đề cao giá trị cuộc sống của con người và hơn nữa, phẩm giá con người. Trong thời đại hiện nay, sẽ là quá lạc mốt khi nhắc về danh dự, lương tâm, vì chúng đã trở nên quá lỗi thời; không có chỗ cho những từ này đối với những mánh lới làm ăn thắng lớn. Ý thức hệ như là việc nghiên cứu các ý nghĩa đạo đức và tinh thần ban đầu, các giá trị nhân tính đích thực thuộc phạm vi xã hội này dẫu luôn cần thiết như không khí, song vẫn có thể khiến người ta bị ngạt thở.

Ý thức hệ hợp nhất nên con người Cadắcxtan là cái cốt yếu, vì ở đây đang tồn tại sự lựa chọn thực sự giữa sự sống còn hoặc giữ cân bằng, bảo tồn bản sắc văn hoá và dân tộc, hoặc có thể bị phai mờ như một đơn vị văn hoá và nhà nước hoà vào quá trình toàn cầu hoá. Những đặc điểm chính của kỷ nguyên này - hội nhập thị trường, tài chính và công nghệ hợp nhất các lối sống - đang tỏ ra là nguyên tắc chung của cộng đồng công dân thế giới và dân chủ thế giới.

Hiện nay, người ta viết rất nhiều về toàn cầu hoá và các nhà khoa học, chính trị học, xã hội học, triết học bàn nhiều về hai kiểu toàn cầu hoá: kiểu thứ nhất hiện đang tồn tại xác thực trong thực tế là phương Tây hoá, Mỹ hoá. Một quyền lực tối cao đang choán hết mọi vị trí trong sự kiểm soát Internet và ngày càng trở nên giàu hơn nhờ vào trùm tư bản này để giữ nguyên các mức sống của nó, tầm nhìn toàn cầu của nó mà văn hoá đại chúng đang coi đó là một kiểu toàn cầu hoá. Văn hoá thế giới không có đại diện (cụ thể) của nó. Nó không có ký ức. Nó biến thành hàng hoá giữa các hàng hoá đang bị phụ thuộc vào tiêu chuẩn của thị trường.

Kiểu toàn cầu hoá thứ hai là kiểu “toàn cầu hoá” không chỉ đặc biệt ở mức độ giả thuyết và lý thuyết, mà còn được cổ vũ bằng những cố gắng thiết thực của một cuộc vận động xã hội mới của các nhà chống toàn cầu hoá. Theo quan điểm lý thuyết thì toàn cầu hoá tập trung các thành tựu khoa học và kỹ thuật của toàn nhân loại cốt vì điều tốt lành cho tất cả mọi người, làm giảm gánh nặng trần gian cho mọi người và cho mỗi cá nhân. “Toàn cầu hoá kiểu khác” này không mở rộng mức độ thống nhất; nó không áp đặt một sự độc đáo dân tộc; ngược lại, nó đang khuyến khích sự khác biệt và đa dạng khi coi sự tồn tại của các dân tộc như là một điều kiện thực hiện của chính nó.

“Toàn cầu hoá kiểu khác” không chỉ còn trong tư tưởng và trong giấc mơ của chúng ta. Nhiều biện pháp tích cực đang được thực hiện nhằm tạo ra cho toàn cầu hoá một bản chất như vậy. Nếu nói về ngôn ngữ thì tiếng Anh là ngôn ngữ của Internet, thương mại, giáo dục và khoa học, nhưng nó không làm mất đi chức năng ngôn ngữ giao tiếp giữa mọi người. Ở Liên bang Mỹ, tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ thứ hai nhờ ý nghĩa quan trọng của nó. Bản sắc văn hoá Pháp và tiếng Pháp được bảo vệ rất thành công. Để phát triển và khuyến khích tiếng Cadắc trong mọi lĩnh vực hoạt động, nhiều việc đã được làm ở Cadắcxtan.

Với những người chống toàn cầu hoá, cuộc vận động này là một cuộc vận động đầy mâu thuẫn từ tuyên ngôn chính trị và xã hội của nó. Một số người chống toàn cầu hoá lên tiếng phản đối toàn cầu hoá như thể toàn cầu hoá tự nó gây ra những hành động quá khích, thậm chí như sự tiêu diệt McDonals. Họ cố gắng huỷ bỏ cuộc gặp thượng đỉnh của “tám nước lớn”. Thành phần xã hội của những người chống toàn cầu hoá rất khác nhau, bao gồm cả những người bảo vệ tự do thương mại, những người có nguyện vọng bảo vệ các giá trị tôn giáo của họ và cả những người không có một khuynh hướng ý thức hệ nào.

Tuy nhiên, có một phe trong số những người chống toàn cầu hoá: các nhà khoa học, các ông chủ, chính trị gia và những danh nhân văn hoá có khuynh hướng thiên về một “toàn cầu hoá kiểu khác” hợp lại thành các nhóm có liên hệ với nhau với mục đích hành động trên cơ sở luật pháp để chống lại các hành động quá khích. Các tổ chức quốc tế phi chính phủ như vậy, kể cả những liên minh vì sự cần thiết và hoà bình thống nhất, đã lên tiếng phản đối và chống lại các xu hướng tiêu cực của toàn cầu hoá với sự tài trợ của quỹ Maye. Đó là một ví dụ. Đây là một lực lượng có khả năng làm thay đổi chiều hướng các sự kiện và ảnh hưởng tới tiến trình có mục tiêu của toàn cầu hoá.

Chúng tôi đồng ý rằng, chúng tôi đang cần một hệ thống các tư tưởng có khả năng thống nhất và hợp nhất khăng khít hơn để bảo tồn được bản sắc văn hoá và dân tộc. Giới hạn căn bản của những chuyển biến sắp diễn ra là quan hệ của các áp lực toàn cầu mạnh, là tự nó có sự thống nhất và phá huỷ mọi thứ chứ không tuân theo mệnh lệnh và cũng không chấp nhận những chuẩn mực sao chép, mà là bức tranh phác thảo có tính dân tộc, truyền thống, độc đáo, có tính chống đối và không quá lạc quan. Số phận của các nhà nước dân tộc, có thể nói, thấy ngay trên bản đồ. Không có biên giới cho thông tin, giao thông từ vùng này sang vùng khác và chẳng có gì chặn được dòng chảy tự do này. Hình thức tồn tại truyền thống của một quốc gia là khi nhà nước đó bắt đầu mâu thuẫn và chấm dứt quan hệ với nước kề biên giới. Ý thức hệ qua phim ảnh truyền thông đã định hình; vị trí xã hội mới của một cá nhân được xác định đang là tâm điểm hỗn tạp các thông tin. “Toàn cầu hoá gồm cả việc mất đi sự độc quyền chính trị và ảnh hưởng đối với nhà nước dân tộc, cái vốn dường như là công cụ tư tưởng của bộ máy tổ chức chính trị và lãnh thổ, đặc biệt là trong suốt ba thế kỷ”(1). Quyền lực khi được chuyển cho các hội đồng liên quốc gia và lãnh thổ không còn ý nghĩa như trước.

Trên nhiều phương diện, khuynh hướng đáng sợ này mới chỉ được lĩnh hội trên lý thuyết. Rõ ràng, toàn cầu hoá đang mở ra một kỷ nguyên lịch sử mới mang tính tổng thể để hình thành nên một thế giới hợp nhất, có sự liên hệ thống nhất, chặt chẽ các bộ phận với nhau. Tuy nhiên, sự thống nhất này cũng phải tính tới những khác biệt cũng như kinh nghiệm văn hoá dân tộc độc đáo. Nỗi lo sợ toàn cầu hoá xuất phát từ mô hình quan hệ kiểu cũ giữa bộ phận và toàn thể khi diễn ra sự hấp thụ và đồng hoá các khác biệt. Một kết cấu lôgíc khác lại cho thấy rằng, đó là “Toàn cầu hoá kiểu khác”. Mô hình này được suy ra từ các khái niệm hậu hiện đại, như “chòm sao” hay “cây thân rễ”. Chòm sao là một thuật ngữ thiên văn học chỉ sự cùng vận động của các ngôi sao quanh trục mà trung tâm của chòm sao đó cũng chuyển dịch. Tổng thể được sáng tạo bởi lực hấp dẫn của các mô - men đặc biệt, và nó càng bền vững, càng toả sáng khi tính cá thể của chúng được bộc lộ. “Cây thân rễ” là một thuật ngữ sinh học chỉ một loài thực vật giống như cây hoa chuông, có rất nhiều gốc nhưng chúng cùng bảo vệ sự sống chung của cây. Những so sánh ẩn dụ này nhằm diễn đạt tư tưởng “tổng hợp phi bạo lực” (nonviolent synthesis), hợp nhất, có khuyến khích các khác biệt. Một kiểu quan hệ tương tự có thể diễn đạt một cách căn bản là “Toàn cầu hoá kiểu khác”.

Thật là thú vị với tuyên bố của N.Berđiaép khi ông nhắc nhở rằng, tình bằng hữu thế giới có cả tính cá nhân của mỗi người: “Tính dân tộc là một sự tồn tại có tính cá thể, nếu không có nó thì không thể có sự tồn tại của tính người. Nó nằm trong sâu thẳm của sự sống còn và là một giá trị được tạo nên bởi lịch sử”(2). Tư tưởng này trở thành từ khoá trong các tác phẩm của người Âu - Á khi nhấn mạnh cấu trúc văn hoá đa dạng, có khả năng đảm bảo sự bền vững của chính nó một cách đồng thời với sự vững bền của mọi cái và tạo ra khả năng tồn tại mềm dẻo cho nó và cho sự sống còn của loài người trên trái đất. L.Gumilép lại chú ý hơn đến lý thuyết chung về hệ thống: chỉ các hệ thống có cấu trúc đủ phức tạp với số lượng đáng kể các yếu tố cấu thành mới có thể ổn định và phát triển độc lập. Ngược lại, các hệ thống đơn giản không có được lợi thế này. Theo ý nghĩa này, toàn cầu hoá hợp lý có thể được tạo dựng mà không dẫn đến sự hỗn loạn và vẫn hấp dẫn được các văn hoá truyền thống để có được sự ổn định.

Có thể không cần phải lo sợ toàn cầu hoá, nhưng vẫn cần phải học để biết sống trong các điều kiện thông tin lan toả: các thông tin về kinh tế, văn hoá, tiểu sử, đồng thời cũng có những thông tin về tên tuổi của một người..., để bảo tồn và phát triển được văn hoá, ý thức tự giác, các giá trị và quyền lợi dân tộc. Nhiệm vụ quan trọng nhất này phải được thực hiện với sự hỗ trợ của hệ thống các tư tưởng, các giá trị và các phương diện có ý nghĩa ý thức hệ.

Trở lại với phương diện quan trọng nhất này: trong 5 năm tới, lợi ích nào của dân tộc được đặt lên hàng đầu ở Cadắcxtan; lợi ích dân tộc thuộc loại gì; liệu có thể xây dựng công thức tư tưởng dân tộc khi xác định bản chất của ý thức hệ theo nghĩa của tư tưởng đã được trình bày ở trên; nhưng tư tưởng dân tộc nghĩa là gì trong một xã hội đa sắc tộc, đa văn hoá? Phạm trù “dân tộc” đã được bàn từ nhiều quan điểm khoa học đương thời và cũng đã dẫn tới nhiều cách giải thích trái ngược nhau. Có một khuynh hướng đã được định hình rõ với khái niệm “công dân - hội viên” (Fellow - citizenship) – khuynh hướng bộc lộ rõ sự phủ định đối với ý nghĩa sắc tộc của khái niệm “dân tộc” mà chỉ nhấn mạnh tới các tham biến xã hội và kinh tế. Đây là một vấn đề của nước Mỹ, về phương diện này, đang chỉ ra bổn phận đối với một xã hội và nhà nước.

Trước hết, dân tộc cần phải được xem xét trong khuôn khổ vấn đề sắc tộc với tư cách một hình thức phát triển tích hợp các sắc tộc. Cũng có các khái niệm khác như “công dân” (Fellow - citizenship) và nhân dân để diễn đạt sự thống nhất dân sự và kinh tế - xã hội. Ở Cadắcxtan chỉ có một dân tộc - người Cadắcxtan sống trên lãnh thổ quê hương mình. Đoàn thể huyết tộc khác ở Cadắcxtan là người Do Thái; họ có lãnh thổ quê hương riêng. Vấn đề cần bàn ở đây là sự thống nhất dân tộc Cadắcxtan với cộng đồng người Do Thái, định hình thành viên công dân và người dân Cadắcxtan. Vấn đề then chốt về chính trị - sắc tộc của Cadắcxtan là phát triển một Cadắcxtan thống nhất trong một nước với tư cách một cộng đồng văn hoá chính trị của mọi công dân thuộc các tộc người khác nhau. Khi hiểu về người dân Cadắcxtan cũng giống như một hình thức tự nhận diện mới về chất, nó hoàn toàn khác với định nghĩa dân tộc của Stalin, mà những đặc trưng rõ ràng nhất không biểu thị cho một dân tộc mà thực ra lại biểu thị cho một tộc người hay một dân tộc - sắc tộc (ethno - nation)”(3).

Rõ ràng, tư tưởng dân tộc hiện đang cho thấy, cái mà Cadắcxtan nhắm tới là một sự tích hợp, đoàn kết và hợp nhất tất cả các tộc người thành một quốc gia dân tộc thống nhất, thành thành viên - công dân, thành người dân của Cadắcxtan. Tư tưởng về một Cadắcxtan thống nhất đang bộc lộ và có tiềm năng tích hợp.

Vấn đề này không đặt cược vào sự thống trị của dân tộc Cadắcxtan, mà nhấn mạnh lợi thế và đặc quyền của nó. Tất cả các tộc người, tôn giáo, tín ngưỡng và văn hoá đều có quyền và có khả năng bình đẳng theo Hiến pháp của Cộng hoà Cadắcxtan để từ đó, tạo nên một  nhà nước dân chủ có pháp luật và bền vững. Mặc dù có khoảng 130 tộc người, song ở đây, người Cadắc và người Nga là đa số, còn các nhóm khác là thiểu số. Người Cadắc từ Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Nga, Iran và nhiều nước khác đang tiếp tục hồi hương đã làm cho số tộc người cũng tăng lên. Điều này là một triển vọng mới để dân tộc Cadắcxtan giải quyết vấn đề toàn cầu. “Sự phát triển của người dân Cadắcxtan không có nghĩa là sự biến mất hay mất đi tộc người gốc Cadắc. Ngược lại, tộc người gốc Cadắc với tư cách một tộc người đông nhất đang thống trị nước cộng hoà này và nó có thể làm hạt nhân, làm cái khung để người dân Cadắcxtan có thể đoàn kết xung quanh nó”(4).

Tư tưởng dân tộc Cadắcxtan là cái gì để có thể thống nhất được tất cả các tộc người thành một Cadắcxtan duy nhất? Qua nhiều thế kỷ, người dân Cadắcxtan đã bị hấp dẫn bởi ý tưởng về đất mẹ “Atameken” và mong ước có độc lập. Giấc mơ này đã trở thành sự thật và một nhà nước có chủ quyền dân tộc đã ra đời vào những năm 90. Tư tưởng Cadắcxtan, niềm tự hào dân tộc, phẩm giá và tinh thần dân tộc đã mang tính cách riêng trong hình ảnh về một nhà nước dân tộc độc lập, được thừa nhận bởi nguyên tắc dân chủ và tự do trên trường quốc tế. Tư tưởng Cadắcxtan với tư cách tư tưởng về một nhà nước độc lập đã trở nên thân thiết, gần gũi với tất cả các tộc người ở Cadắcxtan khi trái tim và tâm hồn họ đã thuộc về Cadắcxtan và đang được sưởi ấm bằng tình thương, sự chân thành, tình thân ái, khoan dung và cởi mở của người Cadắc. Trước sự tăng tiến của toàn cầu hoá, tư tưởng dân tộc vẫn tiếp tục được quảng bá vào sự gia tăng sức mạnh độc lập dân tộc, chủ quyền, bảo tồn nguồn gốc và sự độc đáo của văn hoá Cadắcxtan trong khi vẫn tiếp tục đối thoại với các nền văn hoá của các tộc người khác trong khuôn khổ một nhà nước nhất thể.

Văn hoá truyền thống Cadắcxtan hàm chứa một tiềm năng tinh tuý bền vững. Cơ sở của nền văn hoá này là sự thống nhất trên cơ sở trao đổi thông tin giữa các cá nhân; phụ thuộc vào huyết tộc và dòng họ là giá trị sống còn đầu tiên và vô điều kiện. Trong gia đình, điều này được thể hiện không chỉ bằng thực thể này nọ, mà là toàn bộ thực chất và hết tầm thể hiện nhân tính như là sự sống còn. Hai đặc trưng của sự tồn tại - hướng về tự nhiên và trung thành với ký ức của tổ tiên – được thể hiện thành nhân tính và tính linh hoạt của tổ chức xã hội. Vì vậy, gia đình, huyết tộc hoà nhập vào được các cơ cấu chính trị - xã hội với nhiều mức độ khác nhau. Vấn đề không phải là ở chỗ phục hồi ý thức cổ xưa, mà là sử dụng những kinh nghiệm vô giá của sự trao đổi thông tin giữa các cá nhân để tạo ra khả năng hiểu biết lẫn nhau, hỗ trợ và hợp tác với nhau, ở việc tạo nên các phẩm chất, các đặc trưng với tư cách những cái cần thiết để thực hiện được tư tưởng Cadắcxtan như là một quốc gia Cadắcxtan.

Văn hoá Cadắcxtan chứa đựng những tiềm năng đạo lý và tinh thần quý giá nhất. Tuy nhiên, cần phải cố gắng để phát hiện ra tiềm năng đó. Để đạt được mục đích này, một đề tài tầm cỡ về “Di sản văn hoá” đã được triển khai nhằm làm chủ các tầng văn hoá lớn thuộc nhiều lĩnh vực: triết học, văn học, âm nhạc, nghệ thuật và khoa học. Dù sao, chẳng hạn như triết học, 20 tập sách liên tục về “Di sản triết học của người Cadắc từ  thời cổ cho tới nay” sẽ được phát hành ở Nga. 30 tập sách về “Di sản triết học thế giới” cũng đã được dự định phát hành, cùng chủ đề này còn có các tác phẩm của nhiều nhà tư tưởng lớn ở cả phương Đông lẫn phương Tây, kèm theo những bình luận khoa học thận trọng bằng tiếng Cadắc.

Nếu cho rằng, tư tưởng dân tộc Cadắcxtan là cơ sở cho ý thức hệ dân tộc, thì đó lại là một thách thức đối với việc bảo tồn, củng cố văn hoá, nền độc lập, chủ quyền dân tộc trong điều kiện toàn cầu hoá, và từ đây, một vấn đề nữa sẽ nảy sinh: căn cứ vào sự thật là tất cả các nhà nước khác đã đưa ra luận điểm về độc lập như là sự thống trị trong ý thức hệ của họ, vậy, nói đúng ra Cadắcxtan là gì? Nội dung của tư tưởng dân tộc Cadắcxtan cần phải được cụ thể hoá và chính xác hoá. Cái gì của Cadắcxtan là duy nhất và không thể bắt chước được, cái gì là niềm tự hào dân tộc và là thế mạnh tinh thần của dân tộc Cadắc?

Abai - nhà tư tưởng, nhà tiên tri, nhà thơ và là người con vĩ đại của đất nước Cadắcxtan đã giúp chúng ta trả lời những vấn đề này, vì ông là người có tầm nhìn thấu tương lai. Ông biết thể hiện tinh thần dân tộc như thế nào, trình bày chính xác mệnh lệnh của dân tộc cũng như các phương diện thuộc giá trị cổ xưa. Abai đã phát hiện ra những cái quan trọng và không hão huyền trong thế giới này và do vậy, dù không biết ông, Haiđơgơ vẫn đáp lại lời kêu gọi của ông: hãy trở thành người chăn súc vật, người láng giềng, người bảo vệ sự tồn tại để tái tạo lại quan hệ ban đầu của “con người với thế giới”, để vượt trước cái nguyên tắc cao hơn tự nhiên và không để cho sự việc, dù là “sự việc nhỏ bé”, bộc lộ cái tinh tuý bên trong của nó.

Truyền thống phương Tây là một kiểu đặc biệt của tính duy lý, nó dành quyền ưu tiên cho phát triển trí tuệ, trí óc, lý trí... Abai đặc biệt nhấn mạnh sự thống nhất trọng yếu giữa lý trí và trái tim và ưu tiên lý trí để thôi thúc tâm hồn. “Một người thông minh là người có cảm xúc tình yêu và công lý chiếm ưu thế, và đó là người của trí tuệ, của khoa học”(5). Khoa học, trí tuệ, kiến thức phải lộ rõ trước sự phán xét nghiêm khắc của con tim, công lý và đạo lý. Sakharim cũng đã nói về trí tuệ có lương tâm: “Mắt người ta có thể nhắm, nhưng con mắt của tâm hồn thì không bao giờ”(6).

“Toàn cầu hoá kiểu khác” tỏ ra có lương tâm hơn và dựa trên những ưu tiên về đạo đức, về tinh thần và những giá trị chung của con người. Tư tưởng dân tộc của một nhà nước độc lập phải bao chứa “trí tuệ có lương tâm” và về cơ bản, chấp nhận con tim, tâm hồn, nhưng cũng phải chú trọng cả trí tuệ, phát triển khoa học và công nghệ thông tin.

Nhưng dường như “trí tuệ có lương tâm” không thích gây ra sự thúc ép mạnh và sức ép cạnh tranh, tức là những tiêu chuẩn của thị trường thế giới - nơi ưu tiên cho thành công và lợi nhuận. Dù vậy, tính người đã thể hiện được tầm cao phục hưng tinh thần khi hiểu rằng, ý nghĩa của lịch sử nhân loại là một sự tự phát triển và đổi mới về tinh thần, khi giành lại được những giá trị tình yêu, tình thương và sự hiểu biết lẫn nhau. Trong ngữ cảnh hình thành ý thức trần tục thì “trí tuệ có lương tâm” của Sakharim là một nguyên tắc vô địch và hết sức quan trọng.

Tư tưởng dân tộc có thể nhập tất cả các tộc người Cadắcxtan thành một thành viên - công dân. Tư tưởng này đối với người Mỹ là một thành công, nó tạo ra khả năng vượt lên các bậc thang xã hội bằng mọi giá. Tư tưởng lãnh đạo đối với tộc người Cadắc cũng như các tộc người khác ở đất nước cộng hoà này là tư tưởng độc lập, bao gồm trong nó cả “trí tuệ có lương tâm” của Abai và Sakharim. Nhưng, liệu nó có tô điểm thêm cho thực tế không? Thực tế là nơi có thể bắt gặp “trí tuệ có lương tâm” trong trường hợp mà việc theo đuổi lợi nhuận, làm những công việc mờ ám, đê tiện, giả mạo, hối lộ, đút lót đang diễn ra ở mọi nơi. Hãy luôn nhớ rằng, tư tưởng thuộc phạm vi lý tưởng, là cái quyền mà người ta được hưởng và ở đó, người ta không bàn tới con người là gì hay người đó có đạo đức không, mà bàn về một người phải như thế nào để trở thành một con người có tính người. Một khi con người xứng đáng với vị trí cao nhất thì nó tất hoàn thiện hành vi và đạo đức của mình với niềm kiêu hãnh và khi đó, nó thuộc về tầng lý tưởng thuần khiết nơi thiên đàng chứ không còn thuộc về trần gian tội lỗi.

Tư tưởng dân tộc Cadắcxtan đang trở nên gần gũi và dễ hiểu đối với người Nga, nhất là các vấn đề về đạo lý, lương tâm, ý thức vốn luôn có ý nghĩa dân tộc quan trọng. Đó cũng chính là chỗ dẫn đến quan hệ phức tạp giữa người Cadắc và người Nga. Họ cùng trưởng thành trên miền đất Âu - Á. Hình ảnh về người Nga là một yếu tố thể hiện cùng với hiện tượng đặc biệt về sự sáng tạo của người Nga. Ở đây, có nhiều điểm tương đồng với tinh thần của người Thổ Nhĩ Kỳ. Các bài hát ca ngợi nước Nga vĩ đại luôn chứa đựng nhiều đặc trưng của các bộ tộc người Thổ Nhĩ Kỳ. Chuyện thần thoại Nga có thể đối chiếu thẳng với dân gian Thổ Nhĩ Kỳ. “Sự liên kết của người Nga với người “turanians” không chỉ là dân tộc học, mà còn là nhân bản học, một khi chắc chắn rằng cả dòng máu Ugro -Finnish và Thổ Nhĩ Kỳ đều có trong huyết quản người Nga và hoà cùng với dòng máu Slovenian. Trong bản chất tự nhiên của người Nga, hiển nhiên đã có mối liên hệ với “người Turanian phương Đông”(7).
Đối thoại trong điều kiện hiện nay đang là cái được ưu tiên; nó xuất phát từ việc giải quyết xung đột và mâu thuẫn và đây cũng là một phương pháp đang được hình thành trong thế giới ngày nay nhằm đi tới sự thoả thuận và hiểu biết lẫn nhau. Gần đây, người ta thường kêu gọi đối thoại; tuy nhiên, điều quan trọng là không phải để tuyên bố, mà là tham gia đối thoại thực sự thì mới bộc lộ được những mức độ và kiểu loại khác nhau. Đối thoại có thể là giả khi một loạt các độc thoại diễn ra với lập trường nằm ngoài quan hệ giữa hai bên. Đối thoại có thể là độc thoại khi có sự áp đặt về quan điểm. Đối thoại đúng kiểu là khi quan điểm của đối phương được xem xét, nhưng nó không ảnh hưởng tới quan điểm của người đối thoại. Cuối cùng, đối thoại chỉ thành công khi toàn bộ lĩnh vực của cuộc trao đổi được định hình và làm nẩy sinh những nội dung mới, và đến lượt mình, điều này làm thay đổi quan điểm cá nhân để từ đó, vượt qua được giới hạn, thay đổi và đi đến hiểu biết lẫn nhau.

Đối thoại có tính phức tạp này là một phương pháp mà nhờ nó, tư tưởng dân tộc Cadắcxtan mới có thể tìm ra một đất nước Cadắcxtan có thể tích hợp được tất cả các tộc người thành một dân tộc thống nhất, không chỉ có khả năng bảo tồn được bản sắc văn hoá trong quá trình toàn cầu hoá, mà còn có thể trở thành một nhân tố xây dựng quan trọng để thể hiện nó. Chỉ có ý thức hệ dân tộc mới có thể là quyền năng thực sự để dễ dàng hội nhập vào cộng đồng thế giới với niềm tự hào dân tộc, với ý thức và tầm giá trị dân tộc của mình.

Trên thế giới hiện có khoảng 4 ngàn ngôn ngữ đang bị chết dần và 6 ngàn ngôn ngữ đang tồn tại. Điều này có nghĩa là chúng đang bị chết dần và bảng mầu sắc của cuộc sống đang bị phai nhạt, còn tính người thì mất đi theo sự thịnh vượng của nó. Chúng ta phải bảo vệ thứ ngôn ngữ tuyệt vời, nền văn hoá kỳ diệu, đặc biệt là kiểu nói, ngữ điệu “kuy” của Cadắcxtan nổi tiếng khắp thế giới. Lời phàn nàn của một giáo sư Thổ Nhĩ Kỳ tại Hội nghị Triết học thế giới lần thứ XXI vừa được tổ chức ở Ixtanbun đã thừa nhận rằng: “Tôi bị tan ra trong tiếng Anh. Tiếng Anh làm cho tôi trở thành một người xa lạ với nguồn gốc của tôi. Tôi cảm thấy mình đang ở bên lề của sự thảm hại. Ý thức lâu đời về văn hoá quê hương luôn cuốn hút tôi”.

Do vậy, tư tưởng then chốt của ý thức hệ dân tộc có thể biến thành ý tưởng “trí tuệ có lương tâm” của Sakharim để làm thành các tế bào linh hồn sống cho toàn bộ thế giới quan với một hệ thống tích hợp các tư tưởng:

- Ưu tiên các giá trị trí tuệ;

- Chủ nghĩa nhân văn;

- Chủ nghĩa yêu nước;

- Khoan dung;

- Kết hợp các giá trị tự do với các giá trị văn hoá truyền thống;

- Phát triển văn hoá dân tộc Cadắc và ngôn ngữ văn phòng;

- Định hướng công nghệ phương Tây hiện đại nhất kết hợp với tinh thần Cadắc;

- Phát triển tầng lớp trung lưu như là người bảo hành sự ổn định của nhà nước.

Ý thức hệ bao gồm cả các lợi ích dân tộc, là cái khẳng định chính sách nhà nước trong 5 năm tới. Trước hết, đó là phát triển kinh tế, tăng trưởng văn hoá của dân tộc Cadắc; phục hồi các làng và các vùng nông thôn, từ các tế bào đó, người dân Cadắcxtan có thể trở nên giàu mạnh. Các lợi ích dân tộc đều thể hiện được sự phát triển trong các chương trình xã hội đặc biệt nhằm hỗ trợ cho sự phát triển vật chất và tinh thần của người Cadắcxtan. 

Hệ thống các tư tưởng và lợi ích  là chủ đề được xây dựng theo nguyên tắc đối thoại. Định hướng căn bản của ý thức hệ dân tộc là chuyển từ sự sùng bái sức mạnh và sự tàn bạo sang chuộng đối thoại và thoả thuận. Ý thức hệ này sẽ góp phần tăng cường sức mạnh độc lập và an ninh của dân tộc, bản sắc văn hoá và đời sống công dân của Cadắcxtan; điều này không chỉ giúp cho đất nước trụ vững và bảo vệ được hình ảnh dân tộc mình trong điều kiện gia tăng toàn cầu hoá, mà còn là một điều kiện tiên quyết cho sự chuyển biến và thể hiện thành công biểu tượng “toàn cầu hoá kiểu khác”.

Cái gì có thể giữ được sự thăng bằng và mạnh mẽ trước sự đe doạ của hiện đại hoá và thống nhất hoá? Đó phải là cái độc đáo, vô giá, có khả năng thể hiện được kinh nghiệm và mô hình văn hoá, cấu trúc của xã hội đó đối với thế giới, đó là những cái có thể làm mô hình tiêu biểu một cách xứng đáng cho nhiều nước khác. Cadắcxtan có đầy đủ những cái đó để thể hiện cho thế giới. Có lúc sự căng thẳng đã dội lên, các hoạt động khủng bố đã làm đổ máu người dân vô tội, đó là lúc một quyền lực tối cao đã áp đặt ý chí và ý thức hệ của nó dưới hình thức nguỵ trang như những hành động tự do và công lý khi dội bom giết những người thường dân vô tội. Nhưng ý nghĩa lớn nhất của nó là mang lại những trải nghiệm về sự hiểu biết và thoả thuận với nhau của nhiều tộc người và tín ngưỡng khác nhau để hiện diện trước thế giới như một Cadắcxtan có chủ quyền độc lập.

Từ thời cổ đại, người ta đã cho rằng, chỉ có thể ngăn chặn được quyền lực và sức mạnh bằng quyền lực và sức mạnh, mặc dù những người uyên bác đã quả quyết ngược lại: “Hận thù không thể chấm dứt bằng hận thù, mà chỉ có thể chấm dứt bằng tình yêu”. Cadắcxtan đang chứng minh cho thế giới thấy một chân lý đơn giản nhưng vĩ đại: Có thể sống trong thoả thuận, không còn xung đột, có thể giải quyết mọi mâu thuẫn qua quá trình đối thoại, có thể duy trì được sự thống nhất, đồng thời bảo tồn được những khác biệt, những độc đáo về văn hoá và tín ngưỡng. Chính quyền lực đích thực đó phải chống lại quyền lực, song đó phải là quyền lực của một tinh thần dân tộc. 

 

Hoàng Thị Thơ (Viện Triết học)
Dịch từ tiếng Anh

 


(*) Giáo sư, Viện sĩ, Uỷ viên đoàn chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học quốc gia Cộng hoà Cadắcxtan; Viện trưởng Viện Triết học và Khoa học chính trị, Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hoà Cadắcxtan. – Bài viết cho Tạp chí Triết học.

(1) Toàn cầu hoá và xã hội hậu Xô viết. Mátxcơva, 2001, tr. 31.

(2) N.Berđiaép. Số phận của Nga. Mátxcơva, 1990, tr. 19.

(3) A.N.Nisanbaiép, R.K.Kađirơnbanốp. Hội Tổng thống của các nhà nước độc lập non trẻ. Anmaty, 2001, tr. 140.

(4) A.N.Nisanbaiép, R.K.Kađirơnbanốp. Sđd.,  tr. 141.

(5) Abai. Sách từ vựng. Anma Ata, 1993, tr. 90.

(6) Sakharim. Ký về những điều lãng quên. Anmaty, 1993, tr. 119.

(7) N.S.Trubétxcôi. Lịch sử. Văn hoá. Ngôn ngữ. Mátxcơva, 1995, tr. 126.

Đã xem: 449
Thời gian đăng: Thứ bảy - 24/10/2015 03:29
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất