QC Shop

Tư tưởng về con người của Rabindranath Tagore trong tác phẩm Sadhana

TS. Nguyễn Thị Phương Mai

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 12 (271), tháng 12-2013

Rabindranath Tagore (1861 - 1941) được tôn vinh là "tam vị nhất thể" của Ấn Độ thời kỳ Phục hưng. Một trong những điểm nổi bật trong các tác phẩm của ông là thái độ đề cao con người. Sâdhanâ được đánh giá là tác phẩm trình bày sáng sủa và rõ ràng nhất tư tưởng triết học của ông. R.Tagore chuyển ý niệm về Thượng đế thành vấn đề con người. Mối quan hệ giữa con người và thế giới được đề cập đến như là điểm đầu tiên chứng minh cho sự tồn tại của mình. Muốn tồn tại và phát triển, con người phải hòa đồng với vũ trụ, không đối lập và xa rời thiên nhiên, cần phải hòa nhập vào thiên nhiên để tìm ra quy luật tự giải phóng bản thân  và phục vụ cuộc sống của mình. Nhưng, con người không chỉ có mối quan hệ với thế giới bên ngoài, với vũ trụ với tư cách đối tượng được sáng tạo, mà con người chính là chủ thể sáng tạo.

Rabindranath Tagore

Rabindranath Tagore

Rabindranath Tagore (1861 - 1941) – người có một cuộc đời vắt ngang hai thế kỷ, một di sản đồ sộ, một sự nghiệp song hành cùng thời gian, được tôn vinh là một trong “tam vị nhất thể” của Ấn Độ thời kỳ Phục hưng (gồm Mahatma Gandhi, Jawaharlal Nehru và Rabindranath Tagore) khiến dân tộc Belgan đã tự hào kiêu hãnh rằng, nếu tất cả đại dương biến thành mực, tất cả đất đai biến thành giấy, tất cả cây rừng biến thành bút thì cũng không ghi đủ công tích của R.Tagore. Không những vậy, ông còn được cả thế giới tôn vinh. Bởi, ông là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch lớn, một họa sĩ có tài, một nhạc sĩ nổi tiếng, một nhà giáo, một nhà hoạt động xã hội, một vị hiền triết hiểu sâu biết rộng.

Nét nổi bật trong các tác phẩm của R.Tagore là sự khai thác theo hướng tích cực những yếu tố tinh thần truyền thống Ấn Độ để khám phá chiều sâu tình cảm con người, cái đẹp của cuộc sống ở triết lý cổ đại Ấn Độ, tôn giáo, kinh Veda, nghi lễ dân gian, lịch sử văn hóa, v.v.. R.Tagore lên tiếng chống lại giáo điều, chống lại lễ giáo Bàlamôn, thông qua đó đụng chạm trực tiếp đến một khía cạnh xã hội quan trọng và bức xúc của Ấn Độ lúc bấy giờ - vấn đề khai hóa cho người dân Ấn Độ còn mê muội bởi tôn giáo.(*)

Các tác phẩm của R.Tagore khẳng định giá trị cuộc sống, cho thấy bản chất cuộc sống là niềm vui và tràn đầy hạnh phúc. Qua cái nhìn của ông, cuộc sống hiện lên ngập tràn trong tiếng cười và chan chứa niềm vui, còn thiên nhiên thì thật đẹp với ánh sáng và sắc màu rực rỡ. Nhưng bằng sự trải nghiệm của chính mình, nhà thơ cảm nhận thấy bất hạnh và khổ đau trong cuộc đời này là có thực. Một điểm nổi bật khác là sự thấm đẫm chất nhân văn trong những thi phẩm của R.Tagore, đó chính là thái độ đề cao con người. Vì vậy, về thực chất, triết học của ông là triết lý nhân sinh mà nền tảng là tình yêu thương mãnh liệt đối với con người.

Trong di sản đồ sộ các tác phẩm của R.Tagore, Sadhana(1) (có nghĩa là hoàn thiện tuyệt hảo,thực hiện toàn mãn) được đánh giá là tác phẩm trình bày sáng sủa và rõ ràng nhất tư tưởng triết học của ông. Tác phẩm này là một tập hợp những bài giảng của ông trong khoảng thời gian từ 1906 - 1909 ở phòng cầu nguyện tại Santiniketan. Những bài giảng này được chính ông dịch sang tiếng Anh và giảng tại Đại học Havard (Mỹ).

Sadhana bao gồm tám bài tiểu luận, trong đó, R.Tagore thể hiện quan niệm của mình về các chủ đề: 1. Mối quan hệ giữa cá nhân và vũ trụ; 2. Tâm thức; 3. Vấn đề cái ác; 4. Vấn đề bản ngã; 5. Thực hiện trong tình yêu; 6. Thực hiện trong hành động; 7. Thực hiện cái đẹp; 8. Thực hiện cõi vô hạn. Qua các nội dung trên, R.Tagore đưa ra những cách thức và phương tiện để đạt đến được mục đích cuối cùng của con người trong cuộc sống - đó là hướng đến “toàn mãn”.

Là một người chịu ảnh hưởng của cả Ấn Độ lẫn phương Tây, trong tư tưởng của R.Tagore, “những hòa âm và những biến khúc là của Ấn Độ, nhưng những chủ đề lại kết thân với các chủ đề của tư tưởng Âu châu”(2). Chính vì vậy, con người trong quan niệm của ông không chỉ là con người có nguồn gốc tôn giáo, mà còn là con người được tìm hiểu ở nhiều phương diện khác nhau. Với ông, con người chiếm vị trí quan trọng nhất trong mọi sáng tác văn học cũng như trong các nghị luận và hoạt động thực tiễn của ông. Tình yêu thương con người được hun đúc trong ông từ chính cuộc sống hàng ngày của mình, đồng thời nó được cổ vũ và trang bị thêm các lý luận từ kinh điển của Ấn Độ xưa.

Trong thời kỳ Phục hưng, không chỉ ở phương Tây mà cả ở phương Đông, con người được nhìn nhận, đánh giá và khẳng định thêm vị trí của mình trong vũ trụ và cuộc sống. Ngay từ thời cổ đại Ấn Độ - thời đại kinh Veda, con người đã được đề cập đến trong nhiều tác phẩm tôn giáo, triết học như kinh Veda, Upanishad, Bhagavat Gita và bộ luật Manu.

Nếu như trong các bộ kinh của Ấn Độ cổ đại, mọi mối quan hệ trong cuộc sống của con người đều có nguồn gốc và có liên quan đến tôn giáo, thì R.Tagore cho rằng, “khi một người không thấu hiểu mình có quan hệ với thế giới, thì người ấy sống trong tù ngục mà vách ngục đối với nó là kẻ thù”(3). Theo ông, muốn hiểu mình, con người không thể tồn tại tách khỏi thế giới tự nhiên, khỏi xã hội với những quy luật tồn tại của nó, đồng thời con người cũng không thể chỉ có những mối quan hệ với tôn giáo.

Sự hiện hữu của con người trong thế giới được thể hiện qua chính các mối quan hệ. Dù Thượng đế sinh ra con người nhưng con người vẫn chỉ tồn tại trong một thế giới hữu hạn. R.Tagore lại cho rằng, Thượng đế hay bất kỳ đấng cao siêu nào khác cũng chỉ là những ý niệm trừu tượng, mang một ý nghĩa tinh thần, vì mối quan hệ đó chỉ tồn tại trong nhận thức mà không được hiện thực hóa. Nhưng các đấng cao siêu đó được hiện ra thành muôn hình trong đời sống con người. Chính vì vậy, R.Tagore chuyển ý niệm về Thượng đế thành vấn đề con người. Thượng đế chính là cái đích, là khát vọng và ước mơ mà con người vươn tới. Thượng đế là niềm hạnh phúc, là tự do, là sự sống mà con người luôn mong nó đến với mình, ban phát cho mình. Điều này đúng với tinh thần mà Upanishad đã đề cập tới nhưng ít khi được nhắc đến: “Con người trở nên chân thực nếu trong cuộc sống này nó có thể hiểu rõ về Thượng đế; nếu không, đó là một tai họa lớn nhất cho chính con người”(4). Không những vậy, đối với R.Tagore, con người không phải là sản phẩm của Thượng đế; ngược lại, “đối với Tagore cũng như đối với các triết gia Âu châu trung kiên khẳng định đạo đức về cuộc đời, thì vũ trụ đã được sáng tạo theo quan điểm của con người. Vậy sự thống nhất tâm linh và đạo đức của con người với Thượng đế được coi như là mục đích cuối cùng và là chân nghĩa của cuộc đời”(5).

Nhưng con người vẫn luôn gặp phải những khổ đau và vướng mắc trong cuộc sống khó mà có thể vượt qua. Vào thời điểm đó, ai cũng cầu mong có một bàn tay chìa ra và giúp mình thoát khỏi nó. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh rằng, tự bản thân mình phải vượt qua nó trong cuộc sống thực tại. Thượng đế không từ đâu xuất hiện mà xuất hiện ngay trong chính hành động của con người. “Tự do của con người không bao giờ nhằm tránh những khó khăn, nhưng đó là tự do đương đầu với những khó khăn cho hạnh phúc riêng của con người, biến những khó khăn ấy thành một yếu tố của nguồn vui”(6)

Trong các mối quan hệ với vũ trụ thì mối quan hệ giữa con người và thế giới được đề cập đến như là điểm đầu tiên chứng minh sự tồn tại của mình. “Để sống, cơ thể phải duy trì các mối quan hệ với ánh sáng và không khí bên ngoài - không phải chỉ để đạt được sinh lực mà còn để biểu lộ nó ra”(7). Quan điểm này chứng tỏ sự tồn tại không thể là sự cô lập cho riêng một đối tượng nào. Trong mọi vấn đề, các mối quan hệ luôn được đề cập đến mà nó sẽ thể hiện bản chất của chính mình thông qua các mối quan hệ. Những gì tồn tại đều có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Để biểu lộ sự tồn tại của mình, con người phải vượt ra khỏi chính bản thân mình. Vì, “có ý thức hay vô thức, chúng ta đã có trong cuộc sống cái cảm nhận về chân lý cái mà thường lớn hơn so với những biểu hiện của nó; vì đời sống của chúng ta đối diện với cái vô hạn mà đời sống thể hiện trong hành động”(8). Nhận định này của R.Tagore về khả năng vượt ra ngoài giới hạn của con người chính là nhân tố chủ yếu trong cảm hứng mang tính tôn giáo của ông. Người ta không thể nhận ra được toàn bộ sự tồn tại của mình qua những giới hạn của sự tồn tại của chính mình mà là qua vị trí của anh ta trong sự vô hạn. R.Tagore viết: “...Con người phải nhận thức rõ sự đầy đủ sự tồn tại, vị trí của mình trong cái vô hạn; con người phải biết rằng mặc dù tất cả các nỗ lực của nó đến đâu đi chăng nữa, nó vẫn không bao giờ có thể tạo được mật ngọt riêng của mình trong các lỗ tổ ong, vì cái kho dinh dưỡng và đời sống vô tận vốn ở ngoài thành tổ ong kia”(9).

Khi vượt ra khỏi cái giới hạn của bản thân, con người trở nên vĩ đại trong chính nhận thức của nó. Nhưng để thoát ra khỏi cái vỏ ốc đó, không có gì khác hơn là con người phải hành động. Kinh Upanishad viết: “Chúng ta sống và muốn sống, phải làm việc. Cuộc sống và sự hoạt động của con người luôn luôn gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời được”; đồng thời, “tri thức, uy đức và hành động là bản chất con người” và “chỉ duy giữa lòng hoạt động mà con mới muốn sống trăm tuổi”(10). “Tri thức, tài năng và hành động là tính của Người”(11), những thứ ấy không phải do từ ngoài đặt để cho con người. Các loài động vật nói chung đều hoạt động, nhưng tính có mục đích làm cho ý nghĩa hoạt động của con người được nâng cao lên. Điều đó không chỉ là thể hiện tính bản năng, duy trì sự sống mà còn thể hiện tính đạo đức của con người. Bởi, “con người mãi lo giải phóng trong hành động thể hiện quyền hạn của mình, vẻ đẹp của mình, lòng nhân của mình, tâm hồn của mình. Mà con người càng đạt đến đó, thì con người càng thấy mình vĩ đại, phạm vi tự trị càng mở rộng ra”(12).

Nhưng R.Tagore khẳng định: “Nói rằng con người chỉ hoạt động khi nó bị ép buộc là sai lầm. Nếu một bên có bắt buộc, thì bên kia có niềm vui; mặt khác hành động do mong muốn, thì phần khác nó hướng tới kết quả”(13). Chính mục đích hướng đến là Thượng đế, là cõi xa “sẽ tới”, là cái “toàn mãn” khiến cho hành động của con người càng có ý nghĩa, cũng như việc hành động mà không có mục đích thì nó chẳng có ý nghĩa gì cả trong cuộc sống hữu hạn. Hơn nữa, cũng không thể thực hiện cõi vô hạn nếu như con người không hành động. Vấn đề hành động được R.Tagore đề cập tới liên quan đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và hành động của chính con người trong quá trình nhận thức.

Con người nhận thức đúng về ý nghĩa hành động để hướng đến con người hành động nên “khi một người bị thúc đẩy làm việc chỉ vì một sự tất yếu, thì việc này có tính vô tình và ngẫu nhiên và là một điều cực kỳ tệ hại; ta bỏ nó đi và nó liền mất ngay khi các nhu cầu thay đổi. Nhưng khi công việc của mình là kết quả của niềm vui, những hình thức mà nó cần là các yếu tố của sự bất tử”(14). Nhận thức đúng và làm đúng thì mọi vấn đề không có gì là trở ngại trong việc hướng đến Thượng đế nữa. Đây là điểm tiến bộ của R.Tagore so với các trào lưu tôn giáo truyền thống của Ấn Độ. Hành động nhưng không theo nghi lễ tôn giáo mà hành động vì chính tồn tại của con người, vì cuộc sống của đất nước. “Người sống cho một ý tưởng, cho xứ sở của mình, cho hạnh phúc của nhân loại, thì sự sống đối với nó có một ý nghĩa rất lớn lao, và cũng ngay trong phương diện này sự đau đớn mất hết đi sự quan trọng của nó. Sống đời sống sự thiện là sống đời sống của tất cả”(15).

Từ vấn đề Thượng đế trừu tượng hóa thành vấn đề cụ thể của con người, hướng đến là vấn đề của thực tiễn đất nước tương lai, R.Tagore đang từng bước xây dựng và nâng cao ý nghĩa của chính con người. Vì, “con người mỗi ngày phải giải quyết vấn đề mở rộng lĩnh vực đời sống của nó và điều chỉnh các gánh nặng nó mang”(16) nhưng “con người có mục đích thổi phồng riêng mình ắt coi rẻ mọi người”(17) là điều không được phép làm.

Việc hành động như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức của chính con người. Vì “con người có thể hủy hoại hay cướp bóc, kiếm tiền hay tích lũy, phát minh hay khám phá, nhưng nó chỉ lớn bởi vì tâm hồn thông hiểu tất cả. Đối với nó, chỉ thuần là sự hủy diệt khi bọc tâm hồn mình trong lớp vỏ cứng nhắc của thói quen hờ hững hoặc là để mặc cho sự náo động mù quáng lôi cuốn, tựa như một trận cuồng phong cát bụi che khuất hết không cho nó thấy chân trời”(18). Nhận thức được nhắc đến ở đây là nhận thức đúng đắn, đúng với quy luật và giá trị đạo đức của cuộc sống con người. Vượt lên trên tất cả, vấn đề giáo dục mang một ý nghĩa hết sức to lớn ở mọi thời đại, mọi vấn đề.

Nếu như trong Upanishad từng khẳng định “hãy biết cái tâm vốn là tâm ai” thì R.Tagore cho rằng, “trong lĩnh vực ý thức cũng như trong lĩnh vực trí thức, con người phải thực hiện sáng suốt một chân lý nhất quán mở mắt cho nó thấy một triển vọng trong lĩnh vực rộng nhất có thể”(19). Mỗi con người có khả năng nhận thức ở những cấp độ khác nhau; song, không ai không có nhận thức. Cùng với hành động, nhận thức là một quá trình và nó phản ánh hiệu quả do hành động mang lại. Vì, “không thấy là mù, nhưng thấy sai là một sự bắt đầu. Sự ích kỷ của con người bắt đầu thấy trong đời một sự liên tục nào đó, một mục đích nào đó trong cuộc sống; và hành động theo mệnh lệnh đó đòi hỏi sự tự chủ và các quy tắc cư xử”(20).

Trên tất cả, con người đúng nghĩa không phải là sự lặp đi lặp lại hành động hay nhận thức mà không thấy được cái ý nghĩa và kết quả mà chúng mang lại. Tất cả mọi hoạt động sống đều nhằm nâng cao giá trị sống của con người. Theo R.Tagore, nguồn vui sống và sáng tạo chính là yếu tính của con người, đi sâu hơn nữa, đó chính là tâm trí. Mà “trí năng thú vật hiểu biết các sự thực, nhưng tâm trí con người mới nắm được chân lý... Đối với con người, sự phát hiện ra chân lý là một nguồn vui thuần túy - một sự giải thoát cho tâm trí nó”(21).

Ngoài ra, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên lại mang một ý nghĩa khác. “Con người không phải hoàn toàn là con vật. Nó nguyên có một tầm nhìn tâm linh, vốn là cái nhìn chân lý toàn diện. Chính điều đó mới làm cho con người hài lòng nhất, bởi vì nó tiết lộ cho con người sự hài hòa sâu sắc nhất làm cho nó thấy sự hòa điệu vốn có giữa bản thân nó với môi trường xung quanh”(22). Vì ngoài khẳng định bản chất người, mối quan hệ này còn phản ánh khả năng nhận thức quy luật của chính con người. R.Tagore cho rằng, những quy luật mà con người phát hiện ra đã giúp con người nâng cao cuộc sống của mình. Những nỗi lo sợ sự trừng phạt của Thượng đế, hay sự nổi giận của tự nhiên đã giảm bớt; đồng thời, nó càng khẳng định cái tồn tại của chính con người trong mối quan hệ với vũ trụ. “Con người đã sống trong sự rắc rối và sợ hãi chừng nào nó chưa tìm ra được quy luật của tự nhiên; khi đó thế giới vẫn xa lạ với chính con người... Khi tìm ra được, con người thấy cực kỳ sung sướng, bởi vì bấy giờ nó nhận ra mình trong môi trường xung quanh(23). Chính vì vậy, “cách giáo dục tốt nhất không chỉ dạy cho con người tri thức mà còn phải dạy cho họ biết hòa nhập với vũ trụ”(24).

Trong triết học Ấn Độ, thiên nhiên được coi là đối tượng lý tưởng của sự suy ngẫm, tìm tòi chân lý. Nhìn bề ngoài, thiên nhiên chỉ là một thực thể tồn tại khách quan, nhưng trong nội tâm con người, thiên nhiên là biểu hiện của tình cảm và trí tuệ. Con người có nhu cầu trao đổi tinh thần với thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên để tự giải phóng. Thiên nhiên là hiện thực trong sạch và chứa đựng nhân cách. Chính rừng núi đã là nơi nuôi dưỡng trí tưởng tượng, là nơi sản sinh và phát triển nền văn hóa Ấn Độ. Nhiều bậc Rishi (người thấu hiểu mọi chân lý) hòa mình với thiên nhiên, chiêm nghiệm và đã sáng tạo ra nhiều tác phẩm triết học và những công trình nghệ thuật.

Muốn tồn tại và phát triển, trước hết con người phải hòa đồng với vũ trụ, không đối lập và xa rời thiên nhiên, cần phải hòa nhập vào thiên nhiên để tìm ra quy luật tự giải phóng bản thân mình và phục vụ cuộc sống của mình. Hơn nữa, tất cả những gì của thiên nhiên đều tác động đến cuộc sống hiện hữu của con người, chi phối hạnh phúc tương lai của con người. Kinh Upanishad đã chỉ rõ: “Mọi vật từ nguồn sống bất tận phân phát và tác động đến đời sống con người”, trong khi đó, theo nhận xét của Albert Schweitzer, “học thuyết do Tagore rao giảng theo đó tất cả thiên nhiên đều được kích hoạt bởi linh khí vũ trụ không còn là học thuyết trong Upanishad mà là học thuyết của một tư tưởng chịu ảnh hưởng của khoa học hiện đại”(25).

Cùng với sự xâm lược của thực dân Anh, việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật của phương Tây cũng đã xuất hiện ở Ấn Độ. Trong khi đó, Belgan, quê hương của R.Tagore, là nơi đầu tiên chịu sự thống trị của thực dân nên ông cũng có điều kiện nhất định biết đến những thành tựu đó. Nhưng R.Tagore vẫn cho rằng, “phương Tây dường như có một niềm tự hào trong suy nghĩ rằng họ chế ngự được thiên nhiên... Nhưng ở Ấn Độ, quan điểm khác hẳn, con người và thế giới vốn tồn tại trong một chân lý duy nhất”(26). Muốn tồn tại và phát triển, trước hết con người phải hòa đồng với vũ trụ, không đối lập và xa rời thiên nhiên, cần phải hòa nhập vào thiên nhiên để tìm ra quy luật tự giải phóng bản thân mình và phục vụ cuộc sống của chính mình.

Dù khoa học - kỹ thuật có phát triển đến mức độ nào thì việc nhận biết, tìm ra và tuân theo quy luật của tự nhiên vẫn là điều cơ bản trong cuộc sống của con người. Vì rằng, ta có cầu xin hay mong muốn cho quy luật tự nhiên thuận theo chúng ta thì cũng không được đáp ứng. Nhưng điều làm cho con người trở nên mạnh mẽ là vì con người có khả năng nhận thức: “Nhưng bây giờ chúng ta đã hiểu biết nhiều hơn. Chúng ta biết rằng không thể nào vứt bỏ quy luật được, mà chính nhờ biết thế nên chúng ta mới trở nên mạnh mẽ. Vì quy luật này không phải là một điều ở ngoài chúng ta, nó là của chúng ta. Sức mạnh của vũ trụ biểu hiện trong quy luật của vũ trụ chỉ làm một với sức mạnh của chính chúng ta”(27). Như vậy, R.Tagore cũng đề cao tự nhiên, đề cao cuộc sống hài hòa với tự nhiên, nhưng ông phản đối lối sống tôn sùng tự nhiên, luôn run sợ trước sức mạnh của tự nhiên và chấp nhận làm nô lệ cho tự nhiên. Ông cho rằng, “điều này dẫn tôi nghĩ làm thế nào mối quan hệ bí ẩn của tâm hồn con người với thiên nhiên phải có. Trong thế giới bên ngoài của bản chất hoạt động có một khía cạnh, nhưng trong trái tim con người, trong thế giới nội tâm, nó thể hiện một hình ảnh hoàn toàn khác”(28).

Tất cả những vấn đề liên quan đến con người kể trên, từ con người trong mối quan hệ với vũ trụ, con người hành động cho đến con người nhận thức, R.Tagore đều muốn nhấn mạnh rằng, “con người là hữu ích cho con người, bởi vì cơ thể của nó là một bộ máy tuyệt vời và tâm trí của nó là một cơ quan hiệu quả tuyệt vời”(29). Nhưng hơn thế, con người không chỉ sống cho riêng nó theo những điều trên để chứng minh sự tồn tại của mình. Liệu thực sự, con người đã làm được những điều đó khi mà dường như “nó sẵn sàng hy sinh những xu hướng hiện thời của nó cho một tương lai còn chưa hiện thực”(30).

Cùng với các mối quan hệ với vũ trụ, mối quan hệ giữa con người với xã hội cũng mang ý nghĩa quan trọng trong nhận thức của R.Tagore. Khác với các tư tưởng truyền thống của Ấn Độ về con người, ông khẳng định rằng, “chúng ta còn có một cơ thể khác lớn hơn đó là cơ thể xã hội. Xã hội là một cơ thể, trong đó chúng ta có, với tư cách là các phần tử, các dục vọng cá nhân của chúng ta”(31). Mỗi hoạt động sống của con người được minh chứng và kiểm chứng bằng chính sự công nhận của xã hội với người đó. Con người có thể sống cô độc nhưng khi đó, giá trị người của con người không còn tồn tại nữa, vì “cá tính của con người không phải là sự thật cao nhất của nó; trong người nó vốn còn có cái chi bao quát vô cùng. Nếu như ta buộc con người phải sống trong một thế giới ở đó duy chỉ có bản thân nó là yếu tố duy nhất để xem xét, thì đó sẽ là nhà tù tồi tệ nhất có thể tưởng tượng được”(32).

Như vậy, tư tưởng về con người của Rabindranath Tagore đã thể hiện rõ giá trị người cần được khẳng định trong cuộc sống của ngày hôm nay. Con người không chỉ có mối quan hệ với thế giới bên ngoài, với vũ trụ với tư cách là đối tượng được sáng tạo ra mà còn chính là chủ thể sáng tạo đó. Chính quá trình hành động và nhận thức càng nâng cao giá trị người trong con người. Theo ý nghĩa đó con người trở thành Thượng đế của chính mình, nâng đỡ, dìu dắt, định hướng đường đi cho mình bằng cách gạt bỏ mọi mặc cảm tội lỗi để vươn lên ánh sáng chói lòa, để đạt tới chân trời của “bát nhã” minh tuệ.

Tất cả những điều trình bày trên đây đã chỉ rõ con người luôn là đối tượng trong mọi sáng tác và hành động mà R.Tagore hướng đến. Tư tưởng về con người như vậy đã chi phối và làm nên giá trị nhân văn cao đẹp trong tư tưởng của ông. 

 

------------------------------                

 

([1]) Tác phẩm được dịch lần đầu sang tiếng Việt năm 1973 với tiêu đề “Thực hiện toàn mãn” (Bản dịch của Nguyễn Ngọc Thơ, An Tiêm xuất bản lần thứ nhất, Sài Gòn). Tác phẩm được dịch lại và xuất bản năm 2007 với tiêu đề “Thực nghiệm tâm linh” (Bản dịch của Như Hạnh, Nxb Văn học, Hà Nội). Tuy nhiên, tác giả sử dụng nguyên bản tiếng Anh do R.Tagore tự dịch và được Nxb Macmillian, New York xuất bản năm 1915.

(2) Albert Schweitzer. Những nhà tư tưởng lớn của Ấn Độ (người dịch: Phan Quang Định). Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2003, tr.209.

(3) Rabindranath Tagore. Sadhana - The Realisation of Life. The Macmillian Company, New York, 1915, p.9.

(4) Rabindranath Tagore. Ibid., p.81.

(5) Albert Schweitzer. Những nhà tư tưởng lớn của Ấn Độ (người dịch: Phan Quang Định). Sđd., tr.207.

(6) Rabindranath Tagore. Sadhana - The Realisation of Life. Ibid., p.39.

(7) Rabindranath Tagore. Ibid., p.69.

(8) Rabindranath Tagore. Ibid., p.32.

(9) Rabindranath Tagore. Ibid., p.10.

(10) Xem: Ishavasya Upanishad, 2.

(11) Xem: Ishavasya Upanishad, 6,8.

(12) Rabindranath Tagore. Sadhana - The Realisation of Life. Ibid., p.67.

(13) Rabindranath Tagore. Ibid., p.68.

(14) Rabindranath Tagore. Ibid., p.47.

(15) Rabindranath Tagore. Ibid., p.35.

(16) Rabindranath Tagore. Ibid., p.18.

(17) Rabindranath Tagore. Ibid., p.15.

(18) Rabindranath Tagore. Ibid., p.12.

(19) Rabindranath Tagore. Ibid., p.19.

(20) Rabindranath Tagore. Ibid., p.34 - 35.

(21) Rabindranath Tagore. Ibid., p.18.

(22) Rabindranath Tagore. Ibid., p.62.

(23) Rabindranath Tagore. Ibid., p.19.

(24) R.Tagore. Trường học của tôi, (Rabindranath Tagore: Tuyển tập tác phẩm), t.2 (tuyển chọn và giới thiệu: Lưu Đức Trung). Nxb Lao động và Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2004, tr.459.

(25) Albert Schweitzer. Những nhà tư tưởng lớn của Ấn Độ (người dịch: Phan Quang Định). Sđd.,tr.209.

(26) Rabindranath Tagore. Sadhana - The Realisation of Life. Ibid., p.7.

(27) Rabindranath Tagore. Ibid., p.37.

(28) Rabindranath Tagore. Ibid., p.55.

(29) Rabindranath Tagore. Ibid., p.61.

(30) Rabindranath Tagore. Ibid., p.34.

(31) Rabindranath Tagore. Ibid., p.48.

(32) Rabindranath Tagore. Ibid., p.37.

Đã xem: 1955
Thời gian đăng: Thứ ba - 27/01/2015 12:07
Người đăng: QLKH&HTQT


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất