QC Shop

Về con đường hội nhập và phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản

Bùi Thanh Phương(*) & Nhật Vương(**)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 3 (166), tháng 3 - 2005

Phật giáo khi du nhập vào Nhật Bản đã trở thành một trong những yếu tố tạo nên nét đẹp trong văn hoá Nhật Bản. Tư tưởng cơ bản nhất của nó là nguyên tắc siêu nghiệm và phủ nhận thế giới hiện thực khách quan, mục tiêu chủ đạo là “cứu nhân độ thế”. Cùng với thời gian, Phật giáo Nhật Bản có những thay đổi lớn lao. Nhờ sự mở rộng phạm vi hoạt động của các tín đồ, Phật giáo có điều kiện thuận lợi để thẩm thấu, hoà trộn vào đời sống của nhân dân và có khả năng thích ứng với những biến đổi của thời đại. Trong quá trình hội nhập và phát triển, Phật giáo ở Nhật Bản đã thiết lập được mối quan hệ thân thiện với các tôn giáo khác, và do vậy, nó dễ được người dân nơi đây chấp nhận.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Nói đến Nhật Bản chúng ta hình dung ngay đến một xứ sở với hoa anh đào rực rỡ khoe sắc dưới ánh nắng mặt trời, với những phong tục tập quán mang đậm bản sắc văn hoá truyền thống, như nghệ thuật uống trà (Chado), nghệ thuật cắm hoa (Ikebana), nghệ thuật Bonsai,… Nhưng, có một nét đẹp trong văn hóa Nhật Bản mà không dễ cảm nhận được - đó là nền văn hóa tinh thần, văn hóa tâm linh của người Nhật. Một trong những yếu tố tạo nên nét đẹp trong văn hoá Nhật Bản đó là Phật giáo. Mặc dù phải trải qua bao nhiêu biến cố của lịch sử, nhưng Phật giáo, kể từ khi du nhập vào Nhật Bản, đã hình thành nên một dòng phái thiền (Zen) mang nét độc đáo riêng của đất nước này và từ đó, đã trở thành giá trị tinh thần truyền thống luôn song hành cùng với nhân dân Nhật Bản trên con đường phát triển của mình. Vai trò của Phật giáo trong đời sống tinh thần của đất nước này quan trọng tới mức khiến cho người ta nghĩ rằng, nếu ở Nhật Bản không có sự hiện diện của Phật giáo thì truyền thống văn hóa, tôn giáo của đất nước này đã khác hẳn. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi muốn làm rõ những nét đặc trưng cơ bản trong quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Nhật Bản.

1. Quá trình du nhập Phật giáo vào Nhật Bản

Từ thế kỷ I TCN., Phật giáo đã vượt qua khỏi biên giới Ấn Độ và mở rộng phạm vi ảnh hưởng sang nhiều nước ở châu Á, trong đó có Nhật Bản. Từ thế kỷ thứ III, Nhật Bản đã có sự xuất hiện của hoạt động cô đồng, bói toán và tiếp xúc với những thổ hào từ các bộ tộc ở Trung Quốc. Vào khoảng đầu thế kỷ thứ V, Nhật Bản bắt đầu tiến hành các cuộc xâm lược, cướp bóc của cải và bắt các thợ lành nghề từ Triều Tiên, Trung Quốc về Nhật Bản. Trong số những người bị bắt đó, không chỉ có nhiều người mang kỹ thuật mới về cho người Nhật, mà cùng với họ là những người mang những sắc thái khác nhau của nền văn minh từ lục địa đến quần đảo Nhật Bản. Một trong số những người thuộc nhóm thứ hai là các nhà truyền bá tư tưởng Phật giáo.

Đạo Phật chính thức được đón nhận ở Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI mà theo nhiều tài liệu là vào năm 538. Từ đó trở đi, Phật giáo đã góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng nền văn hóa xã hội Nhật Bản. Tuy nhiên, đạo Phật ở Nhật Bản không phải là bản sao trực tiếp từ Ấn Độ, mà trước khi vào Nhật Bản, đạo Phật đã phát triển ở Trung Quốc và ở một mức độ nhất định, bị biến đổi ở Triều Tiên. Khi du nhập vào Nhật Bản, đạo Phật, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đã được bản địa hóa cho phù hợp với trình độ nhận thức và để có thể kết hợp với một số tín ngưỡng bản địa nhằm thâm nhập một cách thuận lợi vào quần chúng nhân dân. Và, do sự tác động qua lại giữa đạo Phật và các giá trị truyền thống Nhật Bản mà tôn giáo ngoại nhập này đã trở thành một yếu tố kích thích các giá trị truyền thống phát triển và ngược lại, các giá trị truyền thống Nhật Bản đã làm cho Phật giáo mang sắc thái riêng của Thiền Nhật Bản (Zen).

Nội dung tư tưởng cơ bản nhất mà đạo Phật đưa vào Nhật Bản chính là nguyên tắc siêu nghiệmphủ nhận thế giới hiện thực khách quan. Nguyên tắc này đã dẫn đến xu hướng hình thành một giá trị hoàn toàn mới - đó là sự kiến giải thế giới chưa từng có trong tư tưởng tôn giáo truyền thống của Nhật Bản. Trước và ngay cả khi đạo Phật mới du nhập vào Nhật Bản, những người Nhật phản đối cũng như ủng hộ tôn giáo này đều coi Phật tổ là Kami, tức một Kami từ nước ngoài tới. Ngay trong thời kỳ đầu du nhập, đạo Phật cũng bị coi là một phương tiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu tinh thần của trần thế và các tượng Phật được mọi người thán phục chỉ vì vẻ đẹp tinh tế của chúng mà thôi.

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu về đạo Phật Nhật Bản không có sự thống nhất khi bàn về nguyên nhân làm cho đạo Phật bén rễ vững chắc trong xã hội Nhật Bản. Một số người cho rằng, việc truyền bá đạo Phật vào Nhật Bản gắn liền với sự bành trướng tư tưởng văn hóa Trung Hoa hơn là nhu cầu nội tại của nước Nhật. Số khác lại cho rằng, đây chính là kết quả của sự phát triển lôgíc của xã hội, bởi khi đó, xã hội Nhật Bản đang trong giai đoạn hình thành và phát triển của chế độ phong kiến. Trên thực tế, không chỉ Khổng giáo mới có những quan điểm phù hợp với nhu cầu xây dựng một chế độ phong kiến trung ương tập quyền, mà Phật giáo ít nhiều cũng có những ảnh hưởng đến sự hình thành chế độ đó, bởi nó luôn chống lại sự tranh giành quyền lực của các thế lực chính trị và hướng tới sự thống nhất tuyệt đối ở cõi Niết bàn. Tuy nhiên, sự thống nhất đó chỉ nằm trong ý niệm, còn ý nghĩa thiết thực của nó đối với xã hội Nhật Bản thời bấy giờ là tập trung sự thống nhất về quyền lực trong tay Hoàng đế.

2. Quá trình phát triển của Phật giáo Nhật Bản

Phật giáo bắt đầu được truyền bá vào Nhật Bản từ thời Thiên Hoàng (507 đến 531), nhưng phải đến thời thái tử Thánh Đức, nó mới có những bước phát triển rộng rãi và được truyền bá công khai. Dựa vào phương pháp phân kỳ lịch sử của Phật giáo Nhật Bản mà nhiều người chấp nhận cho đến thời điểm này(1), chúng ta có thể phân chia sự hình thành và phát triển của nó thành ba giai đoạn chính sau đây:

a. Thời kỳ đầu (từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ VIII)

Đây là thời kỳ tiếp nhận Phật giáo, hay còn gọi là thời kỳ “truyền bá”. Từ đó trở đi, đạo Phật trở thành một tôn giáo căn bản của cung đình và một bộ phận tăng lữ, quý tộc Nhật Bản. Vào thời kỳ này, sự phát triển rất nhanh và mạnh mẽ của Phật giáo đã hình thành nên sáu giáo phái ở Nhật Bản.

Trong quá trình phát triển của Phật giáo ở giai đoạn này, người có công lớn nhất phải kể đến thái tử Shotoku. Ông là người Nhật đầu tiên thực sự hiểu được tư tưởng của đức Phật và đặt niềm tin sâu sắc vào đạo Phật. Tháng 4 năm Suy Cổ thứ 12, thái tử Shotoku (574 - 662) đã cho ban hành hiến pháp gồm 17 điều luật mà trong đó, một mặt, ông dùng tư tưởng Phật giáo để chỉ đạo về tinh thần; mặt khác, lấy lý luận Nho gia làm cơ sở cho chính trị và cuối cùng, lấy nguyên tắc của Pháp gia làm phương pháp thi hành.

Điều 2 trong hiến pháp đó ghi rằng: “Cần phải thành kính đối với Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Đây là chung quy của tứ sinh, là cực tông của vạn quốc. Đời nào, người nào mà chẳng theo pháp ấy. Theo pháp ấy, con người ít lầm lỗi, tội ác có thể cải tạo, song nếu không quy tam bảo thì lấy gì làm rõ thẳng cong. Công dụng của việc quy tam bảo là có thể uốn thẳng thành cong, khiến người ta có thể hướng thiện, song nếu giáo dục không đúng thì không ai coi thiện như nước chảy xuôi. Và, phép giáo hóa dựa vào sự chỉ đạo tối cao của tín ngưỡng tam bảo là mục đích cao cả nhất của nhân gian. Ngay cả bốn loại chúng sinh, nếu rời bỏ tam bảo thì cũng không còn cửa nào có thể thoát khỏi bể khổ.

Trong thời gian thái tử Shotoku cầm quyền đã có 46 ngôi chùa được xây dựng với hơn 1376 tăng ni, phật tử tham gia hành đạo. Đặc biệt, từ năm 645 (khi “Chiếu thư” đầu tiên  về phát triển Phật giáo được công bố) đến cuối thế kỷ thứ VII, cả nước đã có hơn 540 ngôi chùa với hơn 3363 tăng ni và phật tử. Sau này, người ta đã tôn sùng thái tử Shotoku là Thánh Đức để ghi nhớ công đức lớn lao của ông.

Trong suốt giai đoạn từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ VIII, nhờ sự ủng hộ của nhà nước mà đạo Phật đã phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng rộng lớn đến mọi tầng lớp nhân dân Nhật Bản. Vào thời kỳ này, rất nhiều chùa, tự viện đã được xây dựng, nhiều tượng Phật đã được tạc mà một trong những tác phẩm tiêu biểu là tượng Phật ở đền Todaiji thuộc Nara.

Người Nhật sùng tín đạo Phật, nhưng không vì vậy mà họ từ bỏ tín ngưỡng truyền thống đối với các chư thần vốn có từ thời xa xưa ở Nhật Bản. Họ không những không bỏ truyền thống Shinto bản địa mà ngược lại, còn hướng tới sự hợp nhất một cách hài hòa giữa đạo Phật và đạo Shinto, thờ Phật song song với thờ thần mà bằng chứng là một thánh tự đã được xây dựng ngay trong khuôn viên của điện thờ Shinto.

Có thể nói, mối quan hệ giữa Phật giáo với các tôn giáo bản địa đã đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tương lai cũng như sự tiếp biến của đạo Phật trong các điều kiện và tình huống cụ thể của Nhật Bản. Đặc biệt, sự biến đổi của đạo Phật dưới hình thức “Zen” vào thế kỷ VII đã trở thành học thuyết của giới võ sĩ đạo (Samurai).

b. Thời kỳ Nhật Bản hóa (từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ thứ XIV)

Trong thời kỳ này, sự hỗn dung giữa đạo Phật và đạo Shinto đã được biểu hiện một cách có hệ thống qua mối quan hệ của các giáo phái, như Ryobu và Sanno của đạo Shinto. Nói như vậy không có nghĩa là, giữa đạo Phật và đạo Shinto không có sự bất đồng. Những người theo đạo Phật cho rằng, các Kami của đạo Shinto là những biểu hiện phái sinh của đức Phật và Bồ tát; còn những người theo đạo Shinto lại cho rằng, thực thể đầu tiên hay cái bản thể là do các Kami tạo nên và hơn thế nữa, các đức Phật và Bồ tát chỉ là những biểu hiện của Kami mà thôi.

Vào khoảng thế kỷ IX - X, Phật giáo dòng Tendai, sau khi đạt đến sự thịnh vượng, đã có ảnh hưởng tích cực đến hệ thống giáo dục của Nhật Bản. Nhưng sau đó, do sự phân hóa với thần đạo, giáo phái này đã tách ra thành các giáo phái, như Tendai, Shugei, Shinsei, Dimon.

Một bước phát triển quan trọng khác của đạo Phật được đánh dấu bằng những phong trào tiến bộ của tôn giáo mới ở thời kỳ Kamakura (1193 - 1333) mà sau đó được gọi là giai đoạn “quần chúng hóa”, hay là “sự hình thành của đạo Phật theo kiểu Nhật Bản”. Các nhà sư Nhật Bản được phép lập và hưởng cuộc sống gia đình hạnh phúc, bởi quan niệm Phật tại tâm và mọi người đều có thể trở thành Phật. Trong thời kỳ này đã xuất hiện một số tư tưởng gia của đạo Phật, như Honen, Shinran, Dogen và Nichiren. Đây chính là bốn vị đã sáng lập ra bốn giáo phái mới của đạo Phật là: Tịnh Thổ tông (PureLand), Tịnh Độ tông (Jodo-Shin-shu), Thiền Tào động (Soto) và Nhật Liên tông (Nichiren).

Bốn giáo phái này đã có những đóng góp lớn không chỉ cho lịch sử Phật giáo Nhật Bản nói riêng, mà còn cho lịch sử tư tưởng Nhật Bản nói chung. Honen (1133 - 1212) là người đã tìm ra con đường giác ngộ đạo Phật mà khi đem nó phổ biến cho mọi người, ai cũng có thể hiểu được một cách rõ ràng. Ông cho rằng, có thể cứu vớt được linh hồn khi người ta có quan niệm về Nenbutsu, tức là niệm Namu Amida Butsu (cầu khấn Adiđà hay Nammô A di đà Phật). Adiđà là đức Phật của cuộc sống, là ánh sáng vô biên. Với lòng tin vào Adiđà và niệm Tịnh độ (Jodo), Honen đã thành lập ra giáo phái Jodo hay còn gọi là Tịnh Độ tông.

Một trong những môn đệ của Honen là Shinran (1173 - 1262), còn tiến xa hơn trong việc nhấn mạnh lòng tin tuyệt đối vào năng lực cứu độ của Adiđà và hệ quả tất yếu của lòng tin đó. Shinran không tin vào bất kỳ cái gì khác trên thế giới, kể cả khả năng của cá nhân mình. Kiên trì chủ trương của thầy mình, ông đưa ra kết luật lôgíc rằng, người nào tụng Nenbutsu và tin vào Adiđà đều không dựa vào bất kỳ khả năng hay quyền lực nào của mình và sở dĩ anh ta làm được như vậy là bởi đức Phật cho phép. Theo ông, dù cho người thiện có thể được tái sinh ở việc niệm tịnh độ, song cái ác không vì thế mà ít đi. Đây là cách diễn đạt hùng hồn về niềm tin chủ yếu dựa vào sự phủ nhận hoàn toàn bản thân mình. Ngoài ra, ông còn bác bỏ tổ chức tự viện truyền thống và coi đó là cái không cần thiết. Ông tán thành quan niệm cho rằng, các thầy tu có thể lấy vợ, sinh con, tức là sống một cuộc sống mộ đạo giữa những người bình thường và có những quan tâm đến vấn đề thế tục(2).

Dogen (1200 - 1253) là người đã sang Trung Quốc để tìm lời dạy đích thực của đức Phật. Ông tin vào cách tu luyện đạo thiền của đức Phật, bởi phuơng pháp của đạo này đã giúp đức Phật đi đến giác ngộ. Khác hẳn với Shinran, Dogen nhấn mạnh đời sống tự viện ẩn dật, khổ hạnh và tính kỷ luật nhằm mục đích giữ gìn một cuộc sống tôn giáo. Tuy nhiên, trong quan niệm đó của ông đã có sự đề cao tính siêu nghiệm và đơn giản hóa đời sống tôn giáo.

Nichiren (1222 - 1282), sau một thời gian dài tìm tòi, đã tin rằng, trong Kinh Liên Hoa (Myohorengekyo) có lời dạy cuối cùng của đức Phật về sự giải thoát. Vì thế, ông đã dạy cho các tín đồ của mình tụng Kinh này với niềm tin rằng, quyền lực siêu phàm của nó sẽ dẫn người tu hành đi đến sự giác ngộ. Lập trường dân tộc chủ nghĩa của Nichiren xuất phát từ quan niệm coi sức mạnh siêu nhiên là cái được áp dụng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Sau này, giáo phái của ông được chia thành nhiều giáo phái khác nhau và trở thành nguồn gốc của nhiều tôn giáo mới.

Có thể nói, tất cả các nhà lãnh đạo tôn giáo thời kỳ Kamakura tuy có khác nhau về cách tiếp cận với chân lý của đạo Phật, nhưng lại giống nhau trong việc thừa nhận ý nghĩa của cái siêu nghiệm và chống lại các nhà lãnh đạo của đạo Phật trước đây. Những tư tưởng và hoạt động của họ đều tạo nên sự thức tỉnh tôn giáo, thậm chí còn tạo nên một môi trường giống như một cuộc cải cách tôn giáo. Do đó, lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, đạo Phật đã thấm sâu vào nhân dân và trở thành phong trào quần chúng.

c.  Thời kỳ tồn tại (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX)

Dưới chế độ phong kiến Nhật Bản, ảnh hưởng của đạo Phật đã bị thu hẹp do chính sách hai mặt của chế độ Mạc phủ Tokugawa (1603 - 1867), mặc dù nó vẫn còn sức mạnh tiềm tàng trong dân chúng. Đó là chủ trương vừa lợi dụng, vừa kiềm chế sự phát triển của đạo Phật. Ngay cả vào thời điểm sau cuộc cách mạng duy tân, đời sống tôn giáo cũng không được cải thiện gì thêm. Chỉ đến khi chính phủ tuyên bố ban hành hiến pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, đạo Phật mới khôi phục được địa vị hợp pháp của mình.

3. Phật giáo Nhật Bản từ Minh Trị Duy tân đến nay

a. Thời kỳ Minh Trị

Trong thời kỳ Mạc phủ (1603 - 1867), ảnh hưởng của đạo Phật đã bị thu hẹp. Dưới sự quản chế của Mạc phủ, Phật giáo tuy không phải lo cơm ăn, áo mặc, song vị thế của nó đã bị tổn hại, đặc biệt là sau cuộc cách mạng Duy tân năm 1868, khi Minh Trị Thiên Hoàng lên nắm quyền, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa từng bước được hình thành. Về tư tưởng, chủ nghĩa phục cổ quân quyền thần đạo đã chiếm ưu thế và Thần đạo được lấy làm quốc giáo. Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho Phật giáo suy yếu dần.

Ngay sau khi lên ngôi, tháng 3 năm Khánh Ưng, Hoàng Đế Minh Trị đã công bố lệnh “tách Thần Phật” với nội dung: Khôi phục việc bổ nhiệm quan thần kỳ, tách Phật giáo ra khỏi hệ thống quốc giáo. Các tăng lữ phải ăn mặc theo Thần đạo, cấm thờ Phật và dùng các vật dụng thường có trong chùa như mõ, chuông, v.v., cấm không được dùng thuật ngữ của nhà Phật để gọi tên các Thần.

Lệnh “tách Thần Phật” đã tạo điều kiện cho những thế lực chống Phật giáo nhân cơ hội này mà ra tay truy bức, giết hại tăng ni, phật tử, tạo thành làn sóng chống đối cực đoan với quy mô lớn trong việc phá phách tượng Phật, chùa viện. Bằng chứng cụ thể là ở phiên Phú Sơn, một trong những nơi Chân tông thịnh hành nhất đã có đến hơn 1320 chùa bị hợp nhất làm một. Việc tàn sát tăng ni, phá tượng Phật và đốt chùa đã tạo ra một làn sóng phẫn nộ trong giới tăng ni và nhân dân Nhật Bản. Họ đã có những phản ứng quyết liệt, nhất là tại những nơi lực lượng Chân tông đang thịnh hành. Ví dụ, vào năm thứ 4 đời Minh Trị đã có cuộc bạo động ở Tam Hà Đại Tân, năm thứ 5 ở Tín Việt, năm thứ 6 ở Việt Tiền, Kim Lập, v.v.. Lo sợ sự phản kháng của các tín đồ đạo Phật có thể đi đến cao trào, chính quyền Minh Trị khi tuyên bố sự tiêu diệt đạo Phật không phải là ý muốn của chính phủ đã buộc phải thanh minh rằng, việc cấm Thần và Phật hỗn dung không có nghĩa là xóa bỏ Phật giáo. Tuy nhiên, bất luận chính sách của chính phủ có chủ trương tiêu diệt Phật giáo hay không, song kế hoạch của các quan thần và một số người, một số học giả Thần đạo đã cho thấy rõ hành động của họ rõ ràng là nhằm thủ tiêu Phật giáo.

Mặc dù lệnh “tách Thần Phật” không dẫn đến sự thủ tiêu Phật giáo, song Phật giáo lại bị ghép vào phạm vi quản lý của Thần đạo. Tư tưởng Phật giáo, trên thực tế, không thể chấp nhận quan niệm quản lý tôn giáo của Minh Trị. Tháng tư năm thứ ba Minh Trị, chính phủ Nhật đã lợi dụng các tăng lữ phá giới để tuyên truyền tư tưởng Thần đạo. Đến năm thứ năm Minh Trị, các chùa Bản Nguyên Tây và Bản Nguyên Đông cùng một số chùa của các phái khác đã cử các Phật tử của mình ra nước ngoài để khảo sát tình hình thực tế. Khi trở về, họ đã lấy những dẫn chứng về vị thế và vai trò của các tôn giáo trên thế giới để phê bình chính sách tôn giáo của chính phủ Minh Trị. Họ đã cùng nhau bàn bạc, vạch kế hoạch chấn chỉnh những tệ hại của giới tăng ni và nêu rõ mục đích, lợi ích của Phật giáo đối với quốc gia, đồng thời yêu cầu chính phủ Minh Trị sớm tỉnh ngộ và ban hành những chính sách đúng đắn hơn đối với Phật giáo.

b. Sự phát triển của Phật giáo mới

Dưới ảnh hưởng của làn sóng chính trị Thần đạo và sự phát triển của khoa học - kỹ thuật trong thời đại mới, các tông phái Phật giáo theo xu hướng xuất gia đã mất khả năng tự bảo vệ, biện hộ cho bản thân nó, song Phật giáo mới theo khuynh hướng tại gia lại bắt đầu phát huy một cách có hiệu quả tiềm lực mạnh mẽ của mình.

Năm thứ 27 Minh Trị Duy tân đã diễn ra cuộc chiến tranh Trung - Nhật, từ đó một cao trào đế quốc chủ nghĩa, quân quốc chủ nghĩa ngày càng bùng phát ở Nhật. Để tiếp tục tồn tại, Phật giáo cũng phải thể hiện tinh thần yêu nước trong xu thế chung và vô hình trung, nó đã trở thành người ủng hộ nhiệt thành chủ nghĩa đế quốc. Phật giáo, rốt cuộc, đã trở thành công cụ cho chính sách đối ngoại xâm lược. Do đa số các dân tộc thuộc phía Đông châu Á theo tín ngưỡng đạo Phật, nên chủ nghĩa đế quốc Nhật đã lợi dụng tình cảm của các tín đồ Phật giáo để giương cao khẩu hiệu “vùng thịnh vượng chung của Đại Đông Á”.

Từ năm 1897, các tông phái Phật giáo ở Nhật Bản đã triển khai việc nghiên cứu nội dung của Phật giáo mới. Điều đó thể hiện sự tự do nghiên cứu mà ở bất kỳ nước nào trên thế giới cũng có thể xẩy ra. Mục đích của việc nghiên cứu đó là khuyến khích việc tiếp thu những nền văn minh của xã hội bên ngoài nước Nhật, từ đó đã làm xuất hiện rất nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo, như Nam Điều Văn Hùng, Lạp Nguyên Nghiên Thọ, Thanh Mộc Văn Giáo, v.v..  Không khí học thuật mới này còn kéo dài mãi đến thời Đại Chính (1912 - 1925)  và đã thu được những thành tựu đáng kể. Chẳng hạn, cư sĩ Nhân Sơn đã thành lập được cơ sở khắc Kinh Kim năng ở Nam Kinh và hơn thế nữa, còn xây dựng cả tịnh xá Kỳ Viên. Người ta coi đây là sự mở đầu cho việc tổ chức giáo dục Phật giáo mới ở Nhật Bản.

Dưới niên hiệu Đại Chính (1912 - 1925), nhiều trường đại học chuyên khoa của các tông phái Phật giáo Nhật Bản cũng đã xuất hiện. Các trường này đã đào tạo ra được một hệ thống nhân tài về lĩnh vực Phật học. Qua đi sâu  tìm hiểu việc áp dụng phuơng pháp nghiên cứu mới về Phật giáo Nhật Bản cho thấy những thành tựu của các học giả nước này đã vượt xa các học giả Âu - Mỹ. Điều thú vị là phuơng pháp nghiên cứu mới đó lại được các học giả Nhật Bản tiếp thu từ các nước Âu - Mỹ.

Tuy nhiên, sau niên hiệu Đại Chính, Phật giáo Nhật Bản, dưới ảnh hưởng của triết học phương Tây và Cơ đốc giáo, hầu như đã thoát ly khỏi hình thái và các quan niệm cơ bản của Phật giáo Trung Quốc. Thời kỳ này, các nhà tu hành chỉ ở trong núi chờ đợi chúng sinh là những người do bị xã hội đào thải đến cầu xin sự cứu vớt của Phật. Cũng như bất kỳ tôn giáo nào, Phật giáo Nhật Bản chỉ bằng phong trào giáo hóa phổ cập rộng rãi trong nhân dân mới có thể phát triển được. Phong trào truyền bá tín ngưỡng Phật giáo ngày càng lan rộng và gắn liền với sự trỗi dậy của tư tưởng dân chủ. Phật giáo dần dần hướng vào hoạt động chính trị - xã hội. Chẳng hạn, năm 1964, Sáng Giá học hội đã phát triển thành Đảng Công Minh – một chính đảng có thế lực lớn thứ ba ở Nhật.

Sự giao thoa của văn hóa Đông - Tây đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của Phật giáo Nhật Bản. Đạo Phật Nhật Bản đã tiến hành công cuộc cải cách mà theo đó, các giáo phái mới được tách ra khỏi hình thái cũ. Phật giáo từ 13 dòng, 56 phái đã tăng lên 162 phái vào năm 1950. Nguyên tắc chung của tôn giáo mới ra đời này là coi trọng việc tổ chức và phát triển các công việc của tôn giáo, đặc biệt đề cao sức mạnh của tinh thần đoàn kết chặt chẽ và kiên cường và do vậy, số tín đồ của nó ngày một tăng.

4. Phật giáo từ  sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc với sự kiện bi thảm đối với nước Nhật là Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân đồng minh vào ngày 15 tháng 8 năm 1945. Chiến tranh kết thúc, Nhật Bản trở thành nước bại trận, vì vậy mọi cơ sở vật chất - kỹ thuật đều bị tàn phá nặng nề. Trong tình cảnh đất nước như vậy, số phận của Phật giáo Nhật Bản cũng không nằm ngoài số phận của đất nước. Đặc biệt, sau khi quân đội Mỹ kéo vào chiếm đóng Nhật Bản và tiến hành công cuộc “Mỹ hóa ở Nhật Bản” thì tình hình kinh tế  của Nhật Bản trở nên hết sức khó khăn. Mỹ đã nhân cơ hội này đưa hàng hóa của những người theo đạo Cơ đốc vào cứu trợ cho những người bị đói. Sự cứu trợ của Cơ đốc giáo đã làm cho người dân Nhật phải xiêu lòng mà đi theo thứ đạo mới này đối với họ.

Trước tình hình khó khăn như vậy, Giáo hội Phật giáo của Nhật Bản ở nước ngoài cũng tiến hành việc cứu tế cho các Phật tử trong nước. Nhưng, do chiến tranh đã tàn phá quá nặng nề đất nước này nên sự cứu viện đó không cải thiện được gì đáng kể cho đời sống Phật tử. Thêm nữa, chính phủ Nhật Bản tiến hành chính sách chia lại ruộng đất, làm cho đời sống của Phật giáo nước này ngày càng lâm vào tình trạng bi đát hơn, kết quả là chỉ có một số dòng còn có thể đứng vững trong cuộc khủng hoảng này, đó là Tịnh độ tông và Chân tông. Điều đó cho thấy, tương lai của đạo Phật Nhật Bản thời kỳ này thật là ảm đạm.

Trong khi có rất nhiều tông phái bị phá sản sau chiến tranh, thì xã hội Nhật lại xuất hiện sự hoạt động của các tín đồ Phật giáo tự do. Họ tiến hành xây dựng lại hệ thống chùa viện độc lập, biên soạn thánh điển Phật giáo bằng tiếng Nhật Bản. Các nhà sư kiếm sống bằng cách dạy học hoặc tham gia giáo dục các tù nhân trong tù. Có những ngôi chùa, do dư thừa diện tích, đã dành cho việc làm nhà dưỡng lão, nhà nuôi dạy trẻ, v.v., nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội Nhật Bản thời bấy giờ.

Trong bối cảnh đó, Phật giáo truyền thống của Nhật đang bị trào lưu Phật giáo mới tấn công. Và khi các trào lưu Phật giáo mới ra đời, chúng đã lấy Kinh Pháp Hoa làm tư tưởng chủ đạo và xây dựng nên một tổ chức vững chắc, hoạt động sôi nổi với số lượng tín đồ phát triển tương đối nhanh. Tuy nhiên, các tông giáo mới này không có khả năng thống nhất với toàn bộ tông phái cũ, bởi giữa chúng có khoảng cách khác biệt về tư tưởng.

Phật giáo Nhật Bản thời kỳ hậu chiến tranh cũng có những thay đổi lớn lao. Các thứ bậc tăng lữ ngày xưa, các trưởng môn nhân cũng như các tàn dư của nhiều tập tục cũ hiện không còn tồn tại, bởi nó không được mọi người coi trọng hoặc do tính bất cập mà bị hủy bỏ một cách tự nhiên. Các cơ cấu đại loại như Dòng, chế độ hoàng thất, v.v. ngày nay chỉ còn mang tính tượng trưng và có thể nói, đã trở thành “giấc mộng” của cái gọi là “môn tích” không còn tái hiện nữa. Một biểu hiện khá rõ nét là, “Phật giáo đọc kinh” đã biến thành “Phật giáo giáo hóa” và kiến trúc của chùa viện cũng được áp dụng bằng các kiểu dáng mới, hiện đại; tăng lữ để tóc dài là chuyện thường. Do sự phát triển của các dịch vụ du lịch mà các ngôi chùa cổ ở Tokyo, Osaka, v.v., nghiễm nhiên trở thành các di tích lịch sử – văn hoá nổi tiếng. Đặc biệt, hai ngôi chùa một vàng và một bạc, đại diện cho hai nền văn hóa Bắc Sơn và Đông Sơn đã thu hút ngày càng đông khách du lịch trong và ngoài nước.

Ngày nay, trong xã hội Nhật Bản hiện đại đã có 9 trường tiểu học, 51 trường trung học, 131 trường cao đẳng và 14 trường đại học chuyên phục vụ cho việc đào tạo nhân tài trong lĩnh vực Phật học. Kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, các cơ sở này đã đào tạo được 179 tiến sĩ và thạc sĩ, học sĩ. Trong số đó có rất nhiều học giả nổi danh với những công trình chuyên luận về Phật giáo, thu hút sự quan tâm đặc biệt của học giả trong và ngoài giới, trong và ngoài nước. Đó là chưa kể đến các tác phẩm thông thường với số  lượng thống kê không thể hết được.

Mục tiêu chủ đạo của Phật giáo là “Cứu nhân độ thế”. Để phục vụ cho mục tiêu này, ở Nhật Bản, người ta đã xây dựng một hệ thống gồm 116 viện dưỡng lão Phật giáo, 26 viện cứu hộ, 3 viện tàn phế, v.v.; ngoài ra, còn có 220 cơ sở phúc lợi nhi đồng, 38 thư viện, 49 viện bảo tàng và những hoạt động khác của các cá nhân về công tác xã hội, như giáo dục phạm nhân trong các nhà tù, bảo vệ nhân quyền, ủy viên điều đình, v.v..

Hiện nay, ở Nhật Bản đã có trên 160 giáo phái, 14908 ngôi đền và chùa với số người theo đạo Phật là 98,033 triệu người, chiếm khoảng 40,4% dân số Nhật Bản(3).

Như đã nói ở trên, đời sống kinh tế  trong các chùa của Nhật không được sung túc lắm, vì thế mà các nhà sư truyền giáo trong tín đồ của đạo Phật cũng phải làm việc để kiếm sống. Do số lượng chùa và các tăng lữ đông như vậy, nên không ai, không tổ chức xã hội nào có thể cáng đáng được, và do vậy, các tín đồ phải tự làm việc để đảm bảo cuộc sống của mình. Nhưng, cũng từ đó mà hoạt động của các tín đồ đạo Phật đã vượt ra khỏi phạm vi chùa chiền và đi vào đời sống bình thường của nhân dân, tạo điều kiện cho Phật giáo có cơ hội thâm nhập,  hoà trộn vào đời sống nhân dân và dễ dàng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thời đại.

Từ những trình bày trên, có thể nói, trong quá trình truyền bá sang bất cứ một khu vực nào trên thế giới, đạo Phật đều phải đối phó với sự cạnh tranh gay gắt và sự chèn ép quyết liệt của các tôn giáo bản địa. Khi mới du nhập vào Nhật Bản, Phật giáo cũng đã phải chịu chung số phận như vậy. Nhưng, trong quá trình hội nhập và phát triển, đạo Phật ở Nhật Bản đã có mối quan hệ thân thiện với các tôn giáo khác và do vậy, người dân nước này đã dần chấp nhận nó một cách dễ dàng. Đó là sự hòa nhập đạo Phật với Thần đạo ở Nhật Bản. Sự phân chia chức năng giữa đạo Phật và đạo Shinto trong đời sống của người dân Nhật Bản có thể coi là một biểu hiện của tính liên tục, hài hòa. Điều đó được xem như một đặc điểm đặc trưng cho tôn giáo và văn hóa Nhật Bản.

 

 


(*) Thạc sĩ triết học, giảng viên  Trường Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội.

(**) Nghiên cứu viên, Viện Triết học.

(1) Xem thêm: Phật giáo Nhật Bản (Japanese Buddhism ). New York: Barnes & Noble, 1959.

(2) Xem: M.Joseph Kitagawa. Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản (Bản dịch của Hoàng Thị Thơ). Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 503.

(3) Dẫn theo: Nguyễn Thị Thuỳ Anh. Tìm hiểu Phật giáo ở Nhật Bản. Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 5, 1999, tr.49.

Đã xem: 984
Thời gian đăng: Chủ nhật - 25/10/2015 04:13
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất