QC Shop
Ảnh minh họa

Đôi điều về Việt Nam hóa triết học Mác trong thời đại mới

Bài viết này không mang tính chất khảo cứu, vì người viết không chuyên nghiên cứu triết học Mác, càng không phải là triết học Mác hiện đại. Người viết không đưa ra các tiền đề cho những luận điểm trong bài và cũng không có đầy đủ các luận cứ, luận chứng cho những luận điểm đó. Lý do là, tuy nội dung bài viết chủ yếu là về triết học Mác, song được tiếp cận từ góc độ, kinh nghiệm của lịch sử triết học phương Đông và văn hoá phương Đông, với một giả định là bất cứ học thuyết nào, hệ tư tưởng nào muốn tồn tại và phát triển trong một không gian và thời gian khác (trên/trong một xã hội khác, ở một thời đại khác) thì bắt buộc phải được bản địa hoá. Tương tự như trước đây, Nho giáo hay Phật giáo, để bám rễ, ăn sâu vào đời sống tinh thần và văn hoá người Việt, thì chúng phải được Việt Nam hoá thành Nho giáo Việt Nam, Phật giáo Việt Nam,v.v.. Việt Nam hoá triết học Mác hay phát triển triết học Mác ở Việt Nam cũng mang ý nghĩa như vậy; nghĩa là triết học Mác hiện nay phải thể hiện được nội dung tinh thần thời đại, phải giải quyết được các vấn đề của Việt Nam đang đặt ra. Với cách hiểu đó, Việt Nam hoá triết học Mác cũng chính là hiện đại hoá triết học Mác cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Bài viết đề cập tới các vấn đề: 1. Bối cảnh lịch sử hiện đại hoá ở Việt Nam; 2. Hiện đại hoá Việt Nam trong thời đại mới - những khó khăn; 3. Việt Nam hoá triết học Mác từ góc độ văn hoá.

Thời gian đăng:: 22-11-2015 01:21:51 AM | Đã xem: 741 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Hài hòa xã hội - Thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc

Hiện thực hoá xã hội hài hoà là một tư tưởng quan trọng của các nhà kinh điển, hàm chứa trong lý luận của chủ nghĩa Mác, là mục tiêu phấn đấu không ngừng của những người cộng sản Trung Quốc. “Nghị quyết” của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc lần đầu tiên đề xuất một cách rõ ràng luận điểm “Hài hoà xã hội là thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”, thể hiện một trình độ và một tầm nhận thức tự giác cao hơn, sâu sắc và hệ thống hơn của Đảng Cộng sản Trung Quốc về quan hệ nội tại giữa chủ nghĩa xã hội và hài hoà xã hội. Với tư cách thuộc tính bản chất được quyết định bởi chế độ kinh tế cơ bản trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, hài hoà xã hội đã thể hiện yêu cầu cốt lõi của chế độ chính trị nền tảng của chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc là một quá trình lịch sử lâu dài, trong đó hài hoà xã hội đóng vai trò thuộc tính bản chất. Sự thể hiện một cách mạnh mẽ của nó cũng là một quá trình chuyển hoá lâu dài từ bên trong ra bên ngoài, từ lý tưởng đến hiện thực. 

Thời gian đăng:: 22-11-2015 01:14:23 AM | Đã xem: 828 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Vấn đề bản tính con người trong triết học Trung Quốc cổ đại

Theo các tác giả, những yêu cầu bức xúc của xã hội thời Xuân thu – Chiến quốc và thuyết tiên nghiệm là hai lý do chính tạo ra sự quan tâm của các triết gia, trường phái tư tưởng ở Trung Quốc thời kỳ cổ đại về vấn đề bản tính con người. Phân tích các quan niệm về bản tính con người ở các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại từ Nho gia, Đạo gia đến Pháp gia với các đại biểu như Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Lão Tử, Hàn Phi Tử…, các tác giả đã làm rõ sự đồng nhất và khác biệt và qua đó, là sự đối lập nhau trong sự giáo hoá con người của các quan niệm đó. Các tác giả cho rằng, chính việc tìm hiểu, khai thác các mặt khác nhau trong triết lý về bản tính con người và lợi ích giai cấp đã tác động đến việc hình thành các quan niệm khác nhau như vậy. Điều đó đã tạo nên biện chứng giữa tính thống nhất và tính đa dạng trong quan niệm về bản tính con người của triết học Trung Quốc thời kỳ này.

Thời gian đăng:: 22-11-2015 12:37:05 AM | Đã xem: 4806 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Hàn Phi (khoảng 280 – 233 TCN)

Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi

Hàn Phi (khoảng 280 – 233 TCN) là người tập đại thành tư tưởng Pháp gia. Ông đã tiếp thu điểm ưu trội của ba trường pháp “pháp”, “thuật”, “thế” để xây dựng và phát triển một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời. Coi pháp luật là công cụ hữu hiệu để đem lại hoà bình, ổn định và công bằng, Hàn Phi đã đề xuất tư tưởng dùng luật pháp để trị nước. Ông đưa ra một số nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và thực thi pháp luật, như pháp luật phải nghiêm minh, không phân biệt sang hèn, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật... Với những tư tưởng đó, học thuyết của Hàn Phi được người xưa gọi là “học thuyết của đế vương”.

Thời gian đăng:: 18-11-2015 02:20:21 AM | Đã xem: 14591 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Về xu thế chính trị hóa tôn giáo trong quá trình toàn cầu hóa tại Ấn Độ

Chính trị hoá tôn giáo gồm rất nhiều vấn đề và là một quá trình phức tạp. Ở Ấn Độ, xu thế này nổi trội ở hai vấn đề: Thứ nhất, Ấn Độ hiện đang bước vào giai đoạn hậu thế tục hoá về chính trị và quyền lực các bang. Sức mạnh hùng hậu của BJP là một nhân tố lớn trong sự phát triển của Ấn Độ. Bên cạnh đó, trường phái thế tục của những người theo bước chân của J.Nehru cũng đang lớn mạnh và chính họ đã tạo ra cảm hứng và hy vọng không chỉ cho cộng đồng Hinđu giáo chiếm đa số mà cả những cộng đồng thiểu số như Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Thứ hai, đó là quá trình toàn cầu hoá với sự mở cửa và ảnh hưởng của nó tới Ấn Độ. Trong bài viết này, chúng tôi cũng đề cập tới một số nguyên nhân cơ bản khiến cho hiện tượng chính trị hoá tôn giáo tại Ấn Độ là không thể tránh khỏi và ngày càng phát triển mạnh mẽ với những thách thức không dễ gì có thể giải quyết.

Thời gian đăng:: 17-11-2015 05:22:52 AM | Đã xem: 2038 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Đông Á và sự phát triển của các giá trị phổ biến

Theo tác giả, trước đây, trong nhiều thế kỷ, Đông Á đã đạt được một trật tự văn hoá có tính phổ quát, dựa chủ yếu vào Nho giáo; trật tự văn hoá ấy mang lại cho khu vực này sự ổn định chính trị và nhiều thành tựu văn hoá. Nhưng, vào thời điểm mà các nước khu vực Đông Á lao vào quá trình hiện đại hoá, nền văn minh phương Tây đã đạt đến giai đoạn phát triển rực rỡ. Trong sự biến đổi văn minh hiện nay, vai trò quan trọng của triết học, như tác giả quan niệm, là nhận biết các giá trị tham gia vào các nền văn minh chủ yếu, đặc biệt là nền văn minh châu Âu và châu Á; đồng thời, chỉ ra sự tương đồng của các nền văn hoá - cái có khả năng liên kết những dân tộc, những xã hội khác biệt.

Thời gian đăng:: 17-11-2015 05:08:56 AM | Đã xem: 892 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Khổng Tử (Ảnh minh họa)

Mấy ý kiến trao đổi về bài "Mẫu người quân tử - Con người toàn thiện trong "Luận ngữ" của Khổng Tử"

Mẫu người quân tử là vấn đề đã được nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên, sau khi đọc kỹ bài viết “Mẫu người quân tử – con người toàn thiện trong “Luận ngữ” của Khổng Tử” của tác giả Nguyễn Thị Kim Chung đăng trên Tạp chí Triết học, số 9, năm 2003, chúng tôi thấy cần thiết phải trao đổi với tác giả về một số vấn đề. Đó là, thứ nhất, về khái niệm mẫu người quân tử; thứ hai, về bản tính con người và đạo của người quân tử; thứ ba, nhận định của tác giả về tư tưởng Khổng Tử.

 

Thời gian đăng:: 17-11-2015 04:21:30 AM | Đã xem: 1145 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Bàn thêm về "Vô" và mối quan hệ giữa "Hữu" và "Vô" trong "Đạo đức kinh"

Từ trước tới nay, Vô trong Đạo đức kinh của Lão Tử thường được hiểu theo hai cách khác nhau. Có quan niệm coi Vô là “hư vô”, là hoàn toàn không có gì và do đó, Vô, Hữu là hai yếu tố đối lập tuyệt đối với nhau; quan niệm khác, ngược lại, cho rằng, Vô không phải là hư vô như nhiều người hiểu. Trong bài viết này, tôi đồng ý với quan niệm của tác giả Hoàng Ngọc Hiến khi coi Vô là thực tại. Cái Vô - thực tại đó cũng là Đạo tự nhiên, là cội nguồn của vạn vật. Tuy nhiên, theo tôi, Vô còn có thể được hiểu theo nghĩa là một trong hai mặt đối lập của Đạo, là bộ phận cấu thành vạn vật, là cái làm cho sự là nó.

Thời gian đăng:: 17-11-2015 03:04:43 AM | Đã xem: 1891 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Tư tưởng biện chứng trong Chu dịch

Chu Dịch là cuốn sách của người Trung Quốc ra đời cách đây 2500 năm, có ý nghĩa triết học sâu sắc. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập tới tư tưởng biện chứng của tác phẩm, thông qua quan niệm của người xưa về sự vận động và phát triển; về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng; về mâu thuẫn; về sự phủ định… Những quan niệm này đã thể hiện trình độ tư duy biện chứng của người Trung Quốc cổ đại. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử – xã hội và cả phương thức tư duy nên tư tưởng biện chứng được thể hiện trong Chu dịch vẫn còn có những hạn chế nhất định.

Thời gian đăng:: 17-11-2015 02:21:25 AM | Đã xem: 1191 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Ba sai lầm trong nghiên cứu triết học mácxít ở Trung Quốc hiện nay(*)

Những năm gần đây, trong phong trào đổi mới triết học mácxít ở Trung Quốc, giới nghiên cứu triết học Trung Quốc đã phạm phải ba sai lầm cơ bản trong nghiên cứu triết học mácxít. Đó là, "Tâm thế phê phán sách giáo khoa" với một thái độ phi lịch sử; "Đòi hỏi tính học thuật" kiểu hình thức chủ nghĩa mà về thực chất là biến triết học mácxít thành lối học vấn mang tính hình thức suy diễn lôgíc thuần tuý, thành thứ "trò chơi trí tuệ" không có liên quan gì đến đời sống hiện thực; và "Mê tín giáo điều phương Tây" mà về thực chất là sử dụng các khái niệm hoặc lý luận triết học phương Tây để hoặc là lý giải, biện minh cho triết học mácxít, hoặc phê phán nó, hoặc là lấy những điểm giống nhau giữa triết học mácxít và triết học phương Tây để nói về tính hiện đại của triết học mácxít.

Thời gian đăng:: 16-11-2015 02:47:46 AM | Đã xem: 899 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Khổng Tử (Ảnh minh họa)

Về việc nghiên cứu và ứng dụng Nho giáo, Đạo giáo ở Trung Quốc hiện nay

Trong quan niệm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện nay, việc kế thừa văn hoá truyền thống, đặc biệt là văn hoá Nho - Đạo có một giá trị xã hội vô cùng quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước và xây dựng nền văn minh tinh thần đương đại. Với quan niệm đó, họ đã khai thác các giá trị của Nho - Đạo ở nhiều lĩnh vực mà trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến một số lĩnh vực, như Trí tuệ sinh thái của Đạo gia và bảo vệ môi trường, văn hoá Đạo gia và sự phát triển khoa học hiện đại; Ý nghĩa hiện đại của Triết học nhân sinh của Đạo gia; trí tuệ Nho gia và công tác đào tạo “Nho thương hiện đại”; tính hai mặt của chữ “Hiếu” và giá trị xã hội của nó. Những nghiên cứu này đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội và trở thành xu thế phát triển của học thuật Trung Quốc thời nay.

Thời gian đăng:: 16-11-2015 02:29:54 AM | Đã xem: 1743 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Về khái niệm Niết bàn trong Phật giáo

Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn). Phật giáo Tiểu thừa hướng tới Vô dư Niết bàn - một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn - một Niết bàn nhân bản, nhập thế và hoạt động cùng những buồn vui nhân thế. Quan niệm này đã mang lại một sức hấp dẫn, sức sống mới cho Phật giáo, đặc biệt là trong xã hội hiện đại. 

Thời gian đăng:: 14-11-2015 02:08:51 AM | Đã xem: 3056 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Khổng Tử (Ảnh minh họa)

Quan niệm về thế giới và con người trong triết học Khổng Tử

Trong hệ thống triết học của Khổng Tử, quan niệm về thế giới, về con người hết sức phong phú, sâu sắc, được  thể hiện qua các phạm trù như đạo, thiên mệnh, nhân, trí,… nhằm  phản ánh đời sống và bản chất con người. Chúng luôn thâm nhập vào nhau và thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bởi tác giả của chúng mong muốn giải quyết được những vấn đề lịch sử đặt ra. Do hạn chế lịch sử và lợi ích giai cấp, những tư tưởng này chứa đựng cả yếu tố tích cực và tiêu cực, những mâu thuẫn và tính không nhất quán. Song, tựu trung lại, với những đóng góp của mình, Khổng Tử xứng đáng với sự suy tôn của nhân dân Trung Hoa: người thầy của muôn đời.

Thời gian đăng:: 05-11-2015 11:22:38 PM | Đã xem: 9817 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Thiền phật giáo - Nguyên lý và một số phạm trù cơ bản

Xuất phát từ quan niệm, thế giới hiện tượng chỉ là ảo ảnh của bản thể, là vô thường nên lý tính nhận thức về thế giới này chỉ đạt tới chân lý tương đối, Thiền Phật giáo cho rằng, cái cần được nhận thức là cái thực tại tuyệt đối đứng đằng sau thế giới hiện tượng, là cái tuyệt đối phổ quát và chỉ có thể tạm biểu đạt bằng khái niệm Không  hay Chân như,… Trên cơ sở đó, Thiền Phật giáo triển khai các phạm trù về nhận thức và giải thoát rất đặc thù. Theo Thiền Phật giáo, để nhận thức được bản chất đích thực của Không nhằm đạt tới chân lý tuyệt đối thì cần phải vượt qua nhận thức lý tính bằng trực giác, gọi là trí Bát nhã (Prajna Paramita). Phân tích quan niệm của Thiền Phật giáo về quá trình nhận thức, và cùng với nó là quá trình giải thoát, tác giả muốn chỉ ra thế mạnh cũng như hạn chế của những quá trình mang tính hướng nội và cá thể này. Cũng chính vì vậy, theo tác giả, có thể lý giải được sự lan toả đang rất thành công của Thiền Phật giáo trên thế giới hiện nay.

Thời gian đăng:: 01-11-2015 03:30:54 AM | Đã xem: 1312 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Một số đặc điểm và các giai đoạn phát triển của tư tưởng triết học Nhật Bản

Trên cơ sở của những yếu tố bản địa, tư tưởng triết học Nhật Bản được kết hợp với tư tưởng triết học của Trung Quốc, Ấn Độ hay các nước Âu, Mỹ… tạo nên những tư tưởng mới mang đặc trưng độc đáo của riêng Nhật Bản, như Thiền Nhật Bản, trường phái triết học Kyoto… Do vậy, tính hỗn dung của tư tưởng triết học Nhật Bản là điều dễ nhận thấy. Bên cạnh đó, trong một thời gian dài, nó còn tồn tại  và phát triển dưới dạng các tư tưởng tôn giáo, hoà vào tôn giáo, mà điển hình là hoà vào Phật giáo, Nho giáo hoặc Thần đạo. Nhìn chung, sự phát triển tư tưởng triết học Nhật Bản có thể chia làm hai thời kỳ cơ bản: trước và sau thời Minh Trị (1868). Tuỳ theo từng thời kỳ phát triển của xã hội Nhật Bản mà tôn giáo này hoặc khác được đề cao. Trong những năm gần đây, các nhà triết học Nhật Bản quan tâm nhiều hơn đến vấn đề con đường phát triển của Nhật Bản và có những đánh giá lại một số triết lý đã tạo ra sự phát triển “thần kỳ” của Nhật Bản trong vài thập niên sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Thời gian đăng:: 01-11-2015 01:03:09 AM | Đã xem: 1425 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Ảnh minh họa

Về phương pháp quản lý xã hội của Nho giáo

Tư tưởng về phương pháp quản lý xã hội đóng vai trò nền tảng trong học thuyết của Khổng Tử. Coi “đức trị” là phương pháp quản lý xã hội, ông chủ trương xây dựng một xã hội có đạo với những chuẩn mực cụ thể và được bắt đầu từ gia đình. Về phương thức tổ chức bộ máy nhà nước, Khổng Tử chủ trương trọng dụng những người có đức, có tài. Đối với người cầm quyền, ngoài những phẩm chất “có đức, có tài”, còn phải biết nêu gương. Có thể nói, trong quan niệm về quản lý xã hội của Nho giáo, bên cạnh những hạn chế, còn ẩn chứa nhiều vấn đề hợp lý và có tính thời sự đối với thời đại ngày nay.

Thời gian đăng:: 01-11-2015 12:56:55 AM | Đã xem: 3083 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Mạnh Tử (371 - 289 TCN)

Tư tưởng dân bản trong học thuyết nhân chính của Mạnh Tử

Nội dung xuyên suốt học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử là tư tưởng Dân bản - tư tưởng lấy dân làm gốc. Đối với Mạnh Tử, nhân nghĩa là cơ sở để trị nước, bình thiên hạ và điều chỉnh quan hệ xã hội; đồng thời, là điểm xuất phát để xây dựng tư tưởng Dân bản. Ông luôn nhấn mạnh, đề cao vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định của dân đối với sự thịnh suy của đất nước; đòi hỏi nhà cầm quyền phải thi hành nền chính trị nhân nghĩa nhằm thu phục nhân tâm. Bên cạnh đó, ông còn đưa ra những tư tưởng có giá trị nhân văn sâu sắc về khoan dân, bảo dân,…; đồng thời, nhấn mạnh sự cần thiết phải tu thân, dưỡng tính của con người. Có thể nói, cho đến nay, tư tưởng dân bản của Mạnh Tử vẫn còn ý nghĩa và giá trị thiết thực.

Thời gian đăng:: 31-10-2015 04:39:25 AM | Đã xem: 5955 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Khổng Tử (Ảnh minh họa)

Quan niệm về tính người của Nho giáo nhìn từ góc độ triết học

Vấn đề tính người thiện hay ác trong Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo thời Tiên Tần, được xem xét, bàn luận rất khác nhau. Luận điểm “tính tương cận dã, tập tương viễn dã” của Khổng Tử gây nhiều tranh luận hơn cả. Song, có thể thấy rằng, mệnh đề này mang tính mở, làm tiền đề cho các quan điểm khác về cùng vấn đề. Mạnh Tử và Tuân Tử lại có những thuyết cơ hồ trái ngược nhau về tính người nhưng nhìn chung, tư tưởng của các ông cũng có ảnh hưởng nhất định tới các Nho gia sau này.

Thời gian đăng:: 31-10-2015 03:44:21 AM | Đã xem: 3478 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông
Lê Quý Đôn (1726 – 1783)

Vấn đề bản thể luận trong Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn (1726 - 1783) là nhà tư tưởng lớn của nước ta ở thế kỷ XVIII. Trong sự nghiệp nghiên cứu và sáng tạo của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm quý giá, trong đó có Vân đài loại ngữ. Vấn đề bản thể luận trong tác phẩm này được ông trình bày qua phạm trù Lý - Khí, những phạm trù chủ yếu của Tống Nho. Song, do ảnh hưởng của tín ngưỡng bản địa, lại được thôi thúc bởi khuynh hướng “tam giáo đồng nguyên” đương thời, nên tư tưởng của ông cũng có nhiều điểm khác biệt so với Tống Nho.

Thời gian đăng:: 31-10-2015 02:01:46 AM | Đã xem: 1552 | Phản hồi: 0 | Chuyên mục: Lịch sử Triết học , Phương Đông

Các tin khác

  Trang trước  1 2 3 4  Trang sau
 

Bài được quan tâm

Bài mới nhất