QC Shop

Khái niệm "logos" trong triết học Hêraclít

PGS, TS. Đặng Hữu Toàn

Nguồn: Triết học, số 4 (131), tháng 4-2002

Hêraclít (520 - 460 trước CN.) - người sáng lập phép biện chứng, nhà triết học Hy Lạp cổ đại không chỉ nổi tiếng với học thuyết về “dòng chảy”, với quan niệm về sự hài hoà và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhất của Vũ trụ, mà còn trở nên bất hủ với quan niệm độc đáo về Logos (logoV)

Heraclit

Heraclit

Trong hệ thống triết học Hêraclít, Logos được coi là khái niệm khó hiểu nhất. Khi nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng triết học nhân loại, tất cả các nhà triết học trên thế giới đều thừa nhận Hêraclít là nhà triết học đầu tiên sử dụng Logos với tư cách một khái niệm triết học và làm cho khái niệm này trở nên phổ biến trong toàn bộ nền triết học Hy Lạp cổ đại. Cùng với quan niệm độc đáo về Lửa,  Logos đã trở thành trung tâm điểm trong thế giới quan của Hêraclít, thành hạt nhân trong phép biện chứng của ông.

Vậy, Logos trong quan niệm của Hêraclít có nghĩa là gì? Đây là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà triết học trên thế giới, song cho đến nay, ở họ vẫn còn có nhiều cách lý giải khác nhau, thậm chí đối lập nhau.

Logos là một khái niệm đa nghĩa và khó có thể dịch sang ngôn ngữ khác. Trong tiếng Hy Lạp cổ, Logos có nghĩa là từ ngữ, là tư tưởng. Vào thời đại của Hêraclít, người Hy Lạp cổ đại đã đạt đến một trình độ thống nhất khá cao giữa ngôn ngữ và tư duy, họ biểu thị từ ngữ và tư tưởng cùng bằng một thuật ngữ - Logos. Với nghĩa là từ ngữ, Logos thể hiện ra là tư tưởng và với nghĩa là tư tưởng, Logos được thể hiện trong từ ngữ, thông qua từ ngữ. Với người Hy Lạp cổ đại, Logos được hiểu theo nghĩa nào là tuỳ thuộc vào văn cảnh ngôn ngữ(1).

Trong 130 đoạn mà người ta còn lưu giữ được từ di sản lý luận của Hêraclít, chúng ta thấy có 11 lần ông đã sử dụng thuật ngữ Logos với những nghĩa khác nhau: 3 lần với nghĩa từ ngữ, ngôn từ; 5 lần với nghĩa tư tưởng, khái niệm; 3 lần với nghĩa quy luật, lý tính, cái vốn có ở vạn vật. Khi sử dụng thuật ngữ Logos với những nghĩa khác nhau như vậy, Hêraclít còn đưa vào thuật ngữ này nhiều nội dung khác nhau và làm cho nó trở thành một khái niệm triết học đa nghĩa. Chính vì vậy, khi nghiên cứu triết học của ông, các nhà triết học trên thế giới đã đưa ra nhiều cách lý giải khác nhau đối với quan niệm của ông về Logos. Có người cho rằng, trong quan niệm của Hêraclít, Logos và Lửa là những khái niệm không thể tách rời, Logos cũng chính là Lửa, Logos Vũ trụ cũng chính là ngọn Lửa sống vĩnh hằng. Có người coi quan niệm của Hêraclít về Logos là học thuyết về quy luật khách quan của Vũ trụ. Có người lại cho rằng, Logos trong quan niệm của Hêraclít là học thuyết về sức mạnh có tính chất thần thánh của thế giới, là cái có địa vị thống trị thế giới, là thần thánh, là vị thần cai quản cả thế giới mà người ta có thể so sánh với thần Dớt. Có người giải thích Logos của Hêraclít là Thượng đế, là số phận. Lại có người giải thích Logos của Hêraclít là ngôn từ, lời nói, lời kể chuyện theo nghĩa thông thường, là thần ngôn. Có người lý giải Logos của Hêraclít là sự sáng suốt, là trí tuệ. Lại có người lý giải Logos của Hêraclít là tính tất yếu của Vũ trụ; là lý tính tối cao, là cơ sở của thế giới; là quy luật phổ biến mà theo đó, mọi sự biến đổi và chuyển hoá của vạn vật trong Vũ trụ đã diễn ra; là cái chung của vạn vật; là quan hệ quy định về mặt chất lượng sự chuyển hoá của sự  vật này hay một số sự vật này thành sự vật khác hay một số sự vật khác; 

Trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, trước hết là Platôn và sau ông là Arixtốt đã coi Logos của Hêraclít vừa là quy luật của tồn tại, vừa là nguyên lý lôgíc. Sau Arixtốt, các nhà triết học thuộc trường phái Xtôíc (chủ nghĩa khắc kỷ sơ khai, thế kỷ IV - III trước CN.), từ lập trường phiếm thần luận, từ quan niệm coi cả vật chất lẫn thần thánh đều tồn tại hiện thực, thần thánh tồn tại ngay trong vật chất và hoà lẫn với các thực thể vật chất, đã khẳng định Logos của Hêraclít vừa là quy luật của thế giới vật chất, vừa là quy luật của thế giới tinh thần. Các nhà triết học thuộc trường phái Do thái - Alécxanđrơ (thế kỷ I) mà đại diện tiêu biểu là Philon (khoảng năm 25 trước CN. - năm 50 sau CN.), với ý đồ kết hợp tín ngưỡng Do thái với chủ nghĩa Platôn và chủ nghĩa Xtôíc, khi phát triển quan niệm của Hêraclít về Logos đã cho rằng, Logos ở Hêraclít là sức mạnh sáng tạo, là cái chiếm vị trí trung gian giữa Thượng đế và thế giới do Thượng đế sáng tạo ra. Một cách giải thích tương tự như vậy về Logos của Hêraclít, có thể thấy ở các nhà triết học thuộc trường phái Platôn mới, trong sách báo của đạo Cơ đốc và các nhà triết học theo chủ nghĩa kinh viện thời trung cổ.

Trong thời cận đại, nhà triết học cổ điển Đức vĩ đại - Hêgen đã coi Logos của Hêraclít là một khái niệm tuyệt đối và ông đồng nhất nó với lý tính phổ biến. Theo ông, dường như Hêraclít đã không thấy chân lý trong tính xác thực cảm tính, mà chỉ thấy chân lý trong “tính tất yếu”, trong Logos. Rằng cái lý tính, cái chân lý ấy trong Logos chẳng qua chỉ là “sự quay trở về” từ cái đối tượng, từ cái cảm tính, cái đơn nhất, cái được quy định, cái đang tồn tại và đó “cũng đồng thời là tính tất yếu hay tính phổ biến của tồn tại”, là bản chất của tư duy và cũng là bản chất của thế giới(2).

Trong triết học hiện đại, chúng ta vẫn thấy những cách giải thích tương tự như vậy quan niệm của Hêraclít về Logos. Tuy nhiên, từ những năm 50 của thế kỷ XX trở lại đây, hầu như không có nhà triết học nào còn đồng ý với cách lý giải theo lối tôn giáo đối với quan niệm của Hêraclít về Logos. Khi nghiên cứu phép biện chứng của Hêraclít, hầu hết các nhà triết học hiện đại đều cho rằng, trong quan niệm của Hêraclít, Logos là tính tất yếu, là quy luật, là cái vĩnh hằng, cái chung, cái phổ biến của thế giới, là sự anh minh của trí tuệ, là cái vốn có ở con người.

Không thể đề cập hết những cách lý giải khác nhau của các nhà triết học hiện đại về Logos của Hêraclít, chúng tôi chỉ có thể nêu ra ở đây một số cách lý giải  mà theo chúng tôi, là tiêu biểu. Trước hết  là quan niệm của nhà triết học Anh - G.S.Kiếc (G.S.Kirk). Theo ông, Logos trong quan niệm của Hêraclít là trật tự ổn định, là tính bền vững, vĩnh cửu và bất biến của thế giới. So sánh hệ thống triết học của Hêraclít với hệ thống triết học của Kxênôphan (570 - 478 trước CN.) - người sáng lập trường phái Êlê và Pácmênít (500 - 499 trước CN.) - đại diện tiêu biểu của trường phái Êlê, G.S.Kiếc cho rằng, học thuyết về “dòng chảy”, về sự vận động và biến đổi phổ biến của vạn vật  trong thế giới không phải là cái chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống triết học của Hêraclít như Platôn và Arixtốt đã lầm tưởng. Theo ông, Logos, “tư tưởng về sự đứng im” của vạn vật mới là cái chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống triết học của Hêraclít(3). Ông cho rằng, khi Hêraclít nói vạn vật trong thế giới đều luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng giống như dòng sông không bao giờ ngừng chảy, thì điều đó hoặc là một sự nhảm nhí, hoặc là câu nói chung chung, vô nghĩa; rằng khi nói tới sự biến đổi của vạn vật giống như dòng sông, nghĩa là nói tới sự biến đổi theo Logos của vạn vật, Hêraclít chỉ muốn khẳng định sự thống nhất và tính ổn định của thế giới(4).

Nhà triết học Mỹ - Ph.Oenraitơ (Ph.Wheelwright), khi bác bỏ việc lý giải Logos của Hêraclít là “từ ngữ”, là “sự suy đoán”, kể cả quan niệm coi Logos là “lý tính”, đã cho rằng, trong quan niệm của Hêraclít, Logos là “nguyên lý Vũ trụ”, là “thực thể phổ biến”, là khái niệm giống như ý niệm nhưng chỉ ở cái vẻ bề ngoài của nó. Không đồng ý với quan niệm đồng nhất hệ thống triết học của Hêraclít với hệ thống triết học của Pácmênít, cũng không nhất trí với quan niệm truyền thống -  đối lập hai hệ thống triết học ấy, ông cho rằng, “cho dù sự đa dạng và biến đổi của vạn vật là nguyên lý cơ bản trong học thuyết của Hêraclít ..., song nguyên lý mọi cái đều thống nhất với nhau ở Logos của nó cũng là nguyên lý cơ bản trong học thuyết của Hêraclít”(5).

Trong số các nhà triết học tỏ ý nghi ngờ sự tồn tại của Logos trong hệ thống triết học của Hêraclít, trước hết phải kể tới nhà triết học người Áo - E.Lôen (E.Loew)(6). Ông cho rằng, dường như Hêraclít không nói tới Logos; rằng Logos chỉ là cái do người đời sau đưa vào hệ thống triết học của Hêraclít. Bằng chứng mà ông đưa ra để luận chứng cho sự nghi ngờ của mình là việc Platôn và Arixtốt không hề nói gì tới Logos của Hêraclít và những quan điểm bất đồng của các nhà triết học khác khi lý giải khái niệm này. Có thể nói, sự nghi ngờ đó của E.Lôen là không đúng và những bằng chứng mà ông đưa ra là không xác đáng. Bởi lẽ, Platôn và Arixtốt không có ý định trình bày toàn bộ học thuyết của Hêraclít và sự bất đồng quan điểm của các nhà triết học khi lý giải khái niệm Logos của Hêraclít cũng là lẽ đương nhiên, bởi bản thân Hêraclít cũng sử dụng Logos với nhiều nghĩa khác nhau. Ngoài ra, thiếu Logos thì học thuyết của Hêraclít chỉ còn là một thứ chủ nghĩa tương đối thuần tuý, mà điều này là mâu thuẫn với triết học của ông.

Việc lý giải quan niệm của Hêraclít về Logos cũng trở nên phức tạp hơn do tính đa nghĩa của từ “logoV” trong tiếng Hy Lạp. Nhà triết học Nga - X.N.Trubexcôi cho rằng, thoạt đầu, Logos được Hêraclít sử dụng “chỉ với nghĩa là từ ngữ hay một từmột câu nói, xét về mặt hình thức bên ngoài cũng như nội dung bên trong của nó”, nhưng sau đó, nó đã được ông sử dụng với tư cách một khái niệm mà “ý nghĩa hay nội dung tư tưởng do nó biểu đạt lại gắn liền với tất cả các nghĩa ấy, kể cả với nghĩa là lý tính, quy luật,...”(7). Bởi vậy, theo ông, trong quan niệm của Hêraclít, Logos vừa có nghĩa là từ ngữ, câu nói, là thần ngôn, vừa có nghĩa là lý tính, quy luật, quan hệ, nguyên nhân của vạn vật trong thế giới. Trong tác phẩm “Siêu hình học ở Hy Lạp cổ đại”, X.N.Trubexcôi còn cho rằng, trong Logos của Hêraclít, “cái Thượng đế chưa tách khỏi cái vật lý, nó vẫn chưa phải là lý tính tự do có nhân cách riêng; rằng Logos - đó là quy luật, là châm ngôn (gnw’mh) mang tính khách quan, là ngôn từ chứa đựng ẩn ý đã được nói ra và chưa được nói ra, là cái luôn chứa đựng sự bí ẩn”(8). Với cách lý giải như vậy quan niệm của Hêraclít về Logos, X.N.Trubexcôi kết luận rằng, Logos của Hêraclít là mầm mống, là khái niệm nền tảng cho sự hình thành và phát triển của toàn bộ siêu hình học Hy Lạp cổ đại.

Trong Từ điển triết học (biên soạn dưới sự chủ biên của M.M.Rôdentan), khi nói về Hêraclít và hệ thống triết học của ông, các tác giả cho rằng, trong quan niệm của Hêraclít, Logos là tính tất yếu, là cái mà vạn vật được sinh ra từ Lửa đều phải tuân theo(9). Và gần đây nhất, khi đưa Hêraclít vào danh sách 106 nhà thông thái trên thế giới, P.S.Taranốp cũng đã đề cập tới một số cách lý giải khác nhau về Logos của ông mà theo đó, Logos được hiểu là danh từ, lời nói, lời kể chuyện, là thần ngôn thần bí, là vị thần cai quản thế giới, là lý tính tối cao, là quy luật phổ biến, là học thuyết, kể cả là học thuyết của bản thân Hêraclít được trình bày trong tác phẩm của ông(10).

Ở Việt Nam, trong công trình Triết học Hy Lạp cổ đại, tác giả Thái Ninh cho rằng, theo quan niệm của Hêraclít, Logos là cái số phận, là cái tất yếu vĩnh viễn của Vũ trụ và “cách giải thích đúng đắn nhất, hợp lý nhất là coi Logos là tính tất yếu, là tính quy luật phổ biến”(11). Các tác giả của giáo trình Lịch sử triết học lại cho rằng, theo Hêraclít, Logos là chuẩn mực của mọi sự vật, “được hiểu không chỉ là từ ngữ, mà còn là quy luật khách quan của Vũ trụ, quy định trật tự và chuẩn mực của mọi cái”, Logos ấy “tồn tại cả dưới dạng khách quan lẫn dưới dạng chủ quan”(12).

Như vậy, có thể nói, cho đến nay, chúng ta chưa có được một cách hiểu thống nhất về khái niệm Logos trong triết học Hêraclít. Điều đó không có gì là ngạc nhiên, bởi chính Hêraclít cũng đã sử dụng Logos với nhiều nghĩa, nhiều nội dung khác nhau.

Từ di sản lý luận còn lưu giữ được của Hêraclít, có thể nói, Logos của ông giống ở vẻ bề ngoài với quan niệm duy tâm - tôn giáo về Thượng đế - Đấng sáng thế. Song, từ nội dung triết học, từ tư tưởng chủ đạo trong học thuyết của ông về Vũ trụ, thì Logos cần phải được hiểu là quy luật bất biến, vĩnh hằng của Vũ trụ, là cái mang tính quy luật, là giới hạn hay độ (me’tra) mà các sự vật đang biến đổi phải tuân theo. Chính Hêraclít đã viết: “Logos là cái vĩnh viễn tồn tại ... Vạn vật ra đời đều dựa vào Logos của nó”(B1)(**). Ở một chỗ khác, khi khẳng định Logos là quy luật biến đổi phổ biến của vạn vật trong Vũ trụ, ông viết: "Sự chuyển hoá của Lửa là: đầu tiên thành biển, một nửa biển thành đất, nửa còn lại thành gió xoáy... Đất lại hoá thành biển và tuân theo Logos mà trước kia, biển hoá thành đất đã tuân theo" (B 31). Cũng từ nội dung và tư tưởng ấy, Logos của Hêraclít còn được hiểu là quan hệ bất biến của khởi nguyên vật chất đầu tiên - Lửa đối với các trạng thái tồn tại khác nhau của nó. Bởi lẽ, trong quan niệm của ông, thế giới hiện thực là cái duy nhất, đồng thời cũng là cái đa (cái nhiều), là cái bội đa; thế giới ấy là một chỉnh thể, là đồng nhất đối với vạn vật, "là một ngọn Lửa sống bất diệt" (B 30), mãi bùng cháy và tàn lụi đi "theo những quy luật của nó"; trong thế giới ấy, "hết thảy mọi sự vật đều chuyển hoá thành Lửa" và "Lửa cũng chuyển hoá thành hết thảy sự vật" (B 90); trong thế giới ấy, mọi sự sinh thành và diệt vong đều diễn ra theo "con đường đi lên và con đường đi xuống" mà với những độ Lửa khác nhau, cái đa được tạo ra từ cái duy nhất để đến lượt mình, cái duy nhất lại được tạo ra từ cái đa (B 10).

Trong quan niệm của Hêraclít, Logos là cái tạo ra sự biến đổi của vạn vật trong Vũ trụ, tạo ra "dòng chảy" liên tục của Vũ trụ thông qua sự đấu tranh và hài hoà của các mặt đối lập. Đấu tranh của các mặt đối lập là phổ biến, là cha của vạn vật (B 53), "tất cả đều sinh ra từ đấu tranh và từ tính tất yếu" (B 80) để tạo nên một Vũ trụ hài hoà - "sự hài hoà không trông thấy được" (B 54). Do vậy, với Hêraclít, Logos là ông hoàng tạo ra sự đấu tranh và hài hoà của vạn vật trong Vũ trụ; Logos là sự đấu tranh (po'lemoV) - cái tuyệt đối, vĩnh viễn và hài hoà (a'rmonìa) - cái hợp nhất, cân bằng và khắc phục một cách tương đối các mặt đối lập đang đấu tranh với nhau. Vạn vật trong Vũ trụ đều ra đời thông qua đấu tranh, "đối lập tạo ra hài hoà" (B 51), "những vật xung khắc lẫn nhau hợp thành một" (B 8) và mọi qúa trình đều diễn ra theo "dòng chảy" liên tục, theo tính tất yếu mà nó không thể trốn tránh được (B 16). Theo đó, Logos ở Hêraclít chính là Logos Vũ trụlà tính tất yếu khách quan (eimarme'nh), là linh hồn Vũ trụ, là số phận (ana'gch). Người ta không thể vi phạm tính tất yếu của Vũ trụ, cũng không thể lẩn tránh số phận hay vượt quá độ và do vậy, theo Hêraclít, Logos là cái gắn liền với sự công bằng, với sự thật (dích) - những cái giúp cho con người điều chỉnh hành vi, chỉnh lý vi phạm. Và với sự tồn tại của Logos Vũ trụ, ngay cả "Mặt trời cũng không thể tự do vượt quá độ, chỉ có nữ thần chiến tranh Erina và sức mạnh kỳ diệu của Sự thật mới có thể vượt quá độ" (B 94). Trong Vũ trụ này, mọi cái ngẫu nhiên đều bị loại trừ, chúng không thể có trong thế giới của tính tất yếu nghiệt ngã.

Trong quan niệm của Hêraclít, Logos còn là cái tồn tại vĩnh hằng, là cái mà vạn vật trong Vũ trụ đều có (B 2), là cái mà trong qúa trình vận động và biến đổi theo "dòng chảy" liên tục, hết thảy mọi vật trong Vũ trụ đều sử dụng để thực hiện tính hợp lý, sự công bằng, để thiết lập trật tự và tạo ra sự hài hoà. Do vậy, với ông, Logos Vũ trụ chính là Thượng đế (Jeo'V), là trí tuệ hay sự anh minh (sojo'n). Song, Thượng đế đó, sự anh minh đó, trong quan niệm của Hêraclít, không phải là Thượng đế, sự anh minh hiểu theo nghĩa thông thường, mặc dù vẫn luôn có một cái chung nào đó giữa Logos của ông và quan niệm thông thường về Thượng đế. Logos Vũ trụ của Hêraclít là cái có trật tự bền vững và tuyệt vời. Logos Vũ trụ ấy là cái thống trị vạn vật, là cái phổ biến, là "cái mà mọi người đều có, nhưng nhiều người đang sống lại không đếm xỉa đến nó" (B 2), không hiểu được nó khi phải đối mặt với nó (B 17). Điều đó thường xảy ra bởi lẽ, như chính Hêraclít đã giải thích, Logos Vũ trụ cũng như tự nhiên, nó "thích dấu mình" (B 123), nó là sự thống nhất của các mặt đối lập đang đấu tranh với nhau, là sự hài hoà bí ẩn.

Khi coi linh hồn con người cũng là cái được sinh ra từ một thực thể vật lý vật lý là Lửa và cũng như vạn vật trong Vũ trụ, trong nó không có một đặc trưng nào của cái siêu tự nhiên, mà chỉ có quan hệ với các yếu tố vật chất, nó là sản phẩm biến đổi huyền diệu của Lửa và do vậy là cái quy định mọi hành vi của thể xác và luôn có khát vọng vượt ra khỏi thể xác, Hêraclít cho rằng trong linh hồn ấy có Logos. Logos của linh hồn là Logos tự phát triển. Nó tồn tại trong thể xác, có mối quan hệ vật chất với thể xác, nhưng nó và thể xác không phải là một. Ông viết: "Logos là cái mà linh hồn vốn có, tự nó phát triển" (B 115). Theo đó, có thể nói, với Hêraclít, Logos - quy luật phổ biến của vạn vật trong Vũ trụ - không phải là một bản chất tinh thần bí ẩn nào đó, tách biệt với thế giới các sự vật vật chất. Song, Logos ấy cũng không phải là cái đồng nhất với thế giới các sự vật vật chất đơn nhất và riêng biệt. Nó là trật tự thế giới đầy bí ẩn của các sự vật vật chất, là trật tự Vũ trụ hài hoà - một dạng lý tính hay sự anh minh, "sự sáng suốt duy nhất" thống trị vạn vật thông qua (di'a) vạn vật (B 41), trong khi vẫn là cái khác với vạn vật, "khác rất xa với hết thảy mọi cái" (B 108). Cũng như vậy, nếu Logos không có quan hệ với vạn vật trong Vũ trụ, tồn tại một cách tách biệt với vạn vật trong Vũ trụ, thì nó không thể là cái thống trị vạn vật. Theo đó, Logos phải là cái có quan hệ với vạn vật trong Vũ trụ.

Là cái có địa vị thống trị trong Vũ trụ, có quan hệ với vạn vật trong Vũ trụ, quy định trật tự và sự hài hoà của Vũ trụ, Logos - quy luật phổ biến, tính tất yếu - không tồn tại ở một nơi nào đó tách biệt khỏi thế giới, hay như Hêraclít thường nói, nó không tồn tại ngoài Vũ trụ. Logos ấy tồn tại ngay trong Vũ trụ và theo Hêraclít, nó chính là LửaLogos Vũ trụ là Lửa Vũ trụ. Ngọn Lửa Vũ trụ mang tính vật chất, có lý tính, quy định trật tự và giới hạn (độ) của vạn vật trong Vũ trụ và do vậy, theo Hêraclít, Logos Vũ trụ cũng là cái mang tính vật chất, là "ngọn Lửa có lý tính". Logos xuyên suốt ngọn Lửa, là "lý tính rực lửa". Logos - ngọn Lửa ấy thể hiện tính luôn vận động và tính tích cực của tồn tại, đồng thời thể hiện bản chất ổn định và trật tự bất biến của thế giới, thể hiện bản chất vừa mang tính vật chất, vừa mang tính tinh thần (lôgíc, có lý tính) của thế giới. Với quan niệm ấy nên lúc thì Hêraclít gọi Logos là sự sáng suốt duy nhất (hen tosophon), là cái duy nhất có trí tuệ điều khiển vạn vật, xếp đặt vạn vật thông qua vạn vật, lúc thì ông gọi nó là "tia chớp điều khiển vạn vật". Tia chớp ấy, theo quan niệm của Hêraclít, giống với công cụ cai trị thế giới của thần Dớt trong thần thoại nhưng lại không đồng nghĩa với công cụ cai trị đó. Theo đó, Logos Vũ trụ mà có lúc ông gọi là Thượng đế có trí tuệ, duy nhất có sự sáng suốt và giống với thần Dớt huyền thoại không nên hiểu là cái đồng nhất với Thượng đế, với thần Dớt. Logos Vũ trụ không đồng nhất với thần Dớt, bởi chính Hêraclít đã coi Logos Vũ trụ là "sự sáng suốt duy nhất", nhưng cũng chính ông lại cho rằng "chỉ có một người duy nhất có trí tuệ, song người đó vừa muốn, vừa không muốn được gọi với danh hiệu thần Dớt"(B 32).

Trong quan niệm của Hêraclít, Logos không phải là một thực thể nào đó có nhân cách, tự do, hành động có mục đích (Thượng đế), mặc dù ông gọi Logos ấy là Thượng đế, là cái giống với thần Dớt trong thần thoại, là cái lý tính hay sự anh minh. Giống như ở các nhà triết học Hy Lạp cổ đại khác, ở Hêraclít, "cái vĩnh hằng" được đồng nhất với khái niệm Thượng đế, còn Vũ trụ thì được đồng nhất với "lý tính thế giới" hay với sự anh minh. Nói cách khác, sự giống nhau giữa Logos của ông với khởi nguyên tinh thần - Thượng đế - mang một tính chất nếu không phải là hình thức, thì cũng là rất trừu tượng. Rằng sự giống nhau giữa Logos - khởi nguyên vật chất và Thượng đế - khởi nguyên tinh thần chỉ là tương đối. Logos của Hêraclít là cái bảo đảm sự thống nhất của vạn vật, là cái đem đến sự hài hoà cho vạn vật, là cái tạo ra Vũ trụ với tư cách một "dòng chảy" liên tục, trong đó luôn diễn ra qúa trình đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập. Logos ấy có quan hệ mật thiết với vạn vật trong Vũ trụ, nhưng không đồng nhất với một sự vật vật chất cụ thể, riêng biệt nào. Và Vũ trụ - một trật tự hài hoà tuyệt mỹ chứ không phải một tổng số giản đơn các sự vật vật chất, một thế giới hoàn hảo chứ không phải "một đống rác chất chồng lộn xộn" (B 124), do vậy mà Logos cũng  cái hoàn hảolà cái hài hoà. Song, sự hài hoà của Vũ trụ lại luôn bị phá vỡ bởi sự đấu tranh của các mặt đối lập để rồi một sự hài hoà mới lại được thiết lập cũng thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập. Đấu tranh là phổ biến và do vậy, Logos cũng là cái phổ biến. Đấu tranh - Logos của tồn tại là khởi nguyên quy định toàn bộ tồn tại ấy.

Logos, trong quan niệm của Hêraclít, lúc là Lửa, lúc khác lại là Thượng đế. Do vậy, có thể nói, trong cách hiểu của ông, Logos tồn tại cả dưới dạng khách quan, cả dưới dạng chủ quan. Logos khách quan là quy luật khách quan, trật tự khách quan của mọi cái đang diễn ra trong Vũ trụ theo "dòng chảy" liên tục, vĩnh hằng, là cái tạo ra sự hài hoà tuyệt mỹ của Vũ trụ, biến cả Vũ trụ thành một chỉnh thể thống nhất, sống động. Logos chủ quan là ngôn từ, lời nói, tư tưởng, học thuyết và được Hêraclít hiểu như là chuẩn mực của mọi hoạt động tư duy, suy nghĩ, nhận thức của con người và người nào càng tiếp cận được với nó bao nhiêu thì càng trở nên thông thái bấy nhiêu. Với cách hiểu như vậy, có thể nói, dường như Hêraclít tiếp cận được với quan niệm đúng rằng, về nguyên tắc, Logos chủ quan phải phù hợp với Logos khách quan, nhưng sự biểu hiện ra của nó ở người này khác với ở người khác. Logos khách quan là quy luật vận động khách quan của Vũ trụ, cái vĩnh viễn tồn tại, là cái phổ biến trong Vũ trụ và do vậy, "trí tuệ là ở chỗ nói lên được chân lý và hành động theo tự nhiên, nghe theo tiếng nói của tự nhiên"(B 112).

Như vậy, từ di sản lý luận còn lưu giữ được của Hêraclít, có thể nói, trong quan niệm của ông, Logos không chỉ là ngôn từ, lời nói, tư tưởng, học thuyết, là Thượng đế, là vị thần thống trị thế giới, điều khiển và xếp đặt vạn vật, mà nó còn là tính tất yếu, là cái vĩnh viễn tồn tại, là cái chung, là quy luật, là quan hệ của vạn vật trong Vũ trụ. Theo nội dung triết học trong di sản lý luận ấy, từ tư tưởng chủ đạo trong học thuyết của ông về Vũ trụ, về "dòng chảy" liên tục, vĩnh hằng của Vũ trụ, về sự hài hoà và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhất của Vũ trụ,  Logos của ông cần phải được hiểu là cái vĩnh hằng, cái vốn có của Vũ trụ, là tính tất yếu khách quanlà quy luật mà Vũ trụ diễn ra với "dòng chảy" liên tục, với sự hài hoà và đấu tranh của các mặt đối lập, với sự bùng cháy và tàn lụi đi theo độ của ngọn Lửa sống vĩnh hằng phải tuân theo. Quan niệm của Hêraclít về Logos là học thuyết về quy luật tất yếu, khách quan, phổ biến của vạn vật trong Vũ trụ.

 


(1) Xem: Từ điển bách khoa triết học, t.III. Mátxcơva, 1970, tr. 246 - 248.

(2) Xem: Hêgen. Toàn tập, t.IX. Nxb Kinh tế - Xã hội, Mátxcơva, 1935, tr. 258,  261.

(3) Xem: G.S.Kirk. Heraclitus. The Cosmic Fragments. Cambridge, 1954, p.253 - 254.

(4)  Xem: G.S.Kirk. Ibid., p.379.

 (5) Philip Wheelwright.  Heraclitus. Princeton. New - Jersey, 1959, p.103.

(6) E.Loew. Heraklit im Kampe gegen den Logos. Wien, 1908.

(7) X.N.Trubexcôi. Tuyển tập, t.II. Mátxcơva, 1903, tr. 493.

(8) X.N.Trubexcôi. Siêu hình học ở Hy Lạp cổ đại. Mátxcơva, 1890, tr. 264.

(9) Xem: Từ điển triết học. Nxb Tiến bộMátxcơva, 1986, tr. 234.

(10) Xem: P.S.Taranốp. 106 nhà thông thái (Đỗ Minh Hợp dịch và hiệu đính). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 117.

(11) Thái Ninh. Triết học Hy Lạp cổ đại. Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội, 1987, tr. 35.

 (12)  Nguyễn Hữu Vui (chủ biên). Lịch sử triết học, t.I. Nxb Tư tưởng - Văn hoá, Hà Nội, 1991, tr. 182.

 (**) Những đoạn trích được đánh số thứ tự với ký hiệu như vậy mà chúng tôi dẫn ra ở đây được lấy từ "Các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại" (do M.A. Đưnnhích dịch sang tiếng Nga). Nxb Chính trị Quốc gia, Mátxcơva, 1955.

 

Đã xem: 992
Thời gian đăng: Thứ ba - 03/02/2015 00:36
Người đăng: QLKH&HTQT


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất