QC Shop

Mấy ý kiến về cuốn "Đại cương lịch sử triết học phương Tây"(*)

Nguyễn Văn Vịnh(**)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 7 (182), tháng 7 - 2006

“Đại cương lịch sử triết học phương Tây”, về cơ bản, có thể coi là một cuốn sách tham khảo bổ ích cho sinh viên các trường đại học không chuyên triết. Nhóm tác giả của cuốn sách này đã trình bày một quan niệm khác về triết học, về lịch sử triết học so với các quan niệm được đưa ra trong các cuốn giáo trình về lịch sử triết học đã được xuất bản ở nước ta. Tuy nhiên, quan niệm của nhóm tác giả về đối tượng, nội dung và phương pháp của triết học còn có những vấn đề cần phải được thảo luận. Vấn đề chức năng của triết học cũng đã được nhóm tác giả luận giải một cách khá lý thú, song các tác giả đã bỏ qua một chức năng mà theo chúng tôi, hết sức quan trọng của triết học – chức năng giúp con người tìm kiếm tự do trong đời sống tinh thần của họ. Quan niệm của nhóm tác giả về mối quan hệ giữa “triết học và hệ tư tưởng”, “triết học và tôn giáo”, “triết học và cá nhân” cũng có những vấn đề cần phải được thảo luận.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Người phương Đông cho rằng, con người sinh ra trong vũ trụ có ba điều quan trọng nhất là Lập đức - Lập ngôn - Lập công. Việc biên soạn, nghiên cứu và khảo luận của nhóm tác giả cuốn sách Đại cương lịch sử triết học phương Tây có thể coi như một lập ngôn chăng(?). Cho đến nay, ở Việt Nam, đã xuất hiện khá nhiều cuốn sách về lịch sử triết học mà nói chung, đều nhằm phục vụ cho nhu cầu học tập, nghiên cứu của sinh viên trong các trường đại học cũng như những người quan tâm đến triết học. Khi đọc cuốn sách này, chúng tôi thấy có một số vấn đề cần phải trao đổi với nhóm tác giả và cũng là để thể hiện những quan niệm của mình.

1. Trước hết, về hình thức cuốn sách. Với 720 trang được in ấn và trang trí bìa khá đẹp, bắt mắt, song ở phần dưới tên của nhóm tác giả, theo tôi, cần đề rõ là "biên soạn" hay "lược thuật", "lược dịch" thì có lẽ đúng hơn. Thứ nữa, phần chú thêm có ghi "Dùng cho sinh viên các ngành khoa học xã hội và nhân văn không chuyên triết học". Như vậy, có thể hiểu cuốn sách này được sử dụng tương đương, hoặc có thể thay thế cho sách giáo khoa về lịch sử triết học phương Tây(!) mà như chúng ta đã biết, theo quy định hiện hành, đã là sách giáo khoa dùng trong các trường đại học thì đương nhiên, phải do Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc các Đại học Quốc gia quản lý hay ít ra cũng phải thông qua sự thẩm định của Hội đồng chuyên môn của các tổ chức trên. Nhưng, điều đó đã không được thể hiện ở cuốn sách này. Như vậy, theo chúng tôi, nhóm tác giả cần phải đề rõ đây chỉ là "sách tham khảo cho sinh viên các trường đại học không chuyên triết". Điều thứ ba cần nói ở đây là, phần cuối của cuốn sách không có mục "tài liệu tham khảo" để chỉ rõ nguồn gốc các tư liệu mà nhóm tác giả đã sử dụng và khai thác. Sở dĩ phải đặt vấn đề này ra là vì, khi trao đổi trực tiếp với đại diện của nhóm tác giả, chúng tôi được biết cuốn sách trên được thực hiện chủ yếu dựa vào tác phẩm Triết học phương Tây (từ cổ chí kim) của hai tác giả người Ý là R.Realle và T.Gi.Gietille, Nhà xuất bản Xanh - Pêtécbua, 2002, và công trình Lịch sử triết học gồm 5 tập của Đại học Tổng hợp Lêningrát, 2004.

2. Dù có những vấn đề về hình thức như đã nói trên, nhưng theo chúng tôi, sự ra đời của cuốn sách là một điều đáng mừng cho không khí học thuật ở lĩnh vực triết học. Cho đến nay, đã có khá nhiều cuốn sách về lịch sử triết học, cả phương Tây lẫn phương Đông. Có thể nói, mảng sách về lịch sử triết học phương Đông rất phong phú, đa dạng và cũng khá khách quan, vì dường như nó có vẻ "an toàn" về nhiều mặt. Nhưng, mảng sách về lịch sử triết học phương Tây thì hơi khác và theo chúng tôi, về cơ bản, vẫn còn được trình bày theo quan niệm cũ. Chẳng hạn, cuốn giáo trình Lịch sử triết học (dùng cho các trường đại học và cao đẳng), Nhà xuất bản Giáo dục, 2001, có viết: "Lịch sử triết học nghiên cứu quá trình hình thành, phát sinh và phát triển của các học thuyết triết học trong cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng. Thực chất của cuộc đấu tranh này là một phần cuộc đấu tranh tư tưởng của những giai cấp đối kháng trong xã hội"(tr.12) và "… trong đó chủ nghĩa duy vật thường gắn với lực lượng tiến bộ của xã hội" (tr.17).

Triết học là một ngành khoa học có những đặc trưng, ngôn ngữ riêng như các khoa học khác, nhưng cái khác của triết học là ở sự khái quát rất trừu tượng của nó. Vì vậy, nghiên cứu triết học luôn đòi hỏi sự suy tư, phản tư của mỗi cá nhân về tất cả các khía cạnh của vấn đề con người và thế giới. Nó cũng luôn đòi hỏi một năng lực phi thường của tư duy và do vậy, tri thức triết học luôn được sản sinh ra bởi các bộ óc thông thái. Triết học là sản phẩm của đời sống tinh thần, là một loại tri thức đặc biệt, có tính minh triết. Triết học, một mặt, là tri thức nền tảng về bản chất của vạn vật; mặt khác, là sự hướng đến một cuộc sống tốt đẹp cho con người, cho nhân loại.

3. Cách quan niệm về triết học và lịch sử triết học của nhóm tác giả cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây có nhiều điểm khác so với những gì mà từ trước tới nay, chúng ta vẫn giảng trong các trường đại học, mặc dù không có gì mới nếu so với quan niệm về triết học của nhiều nước phương Tây. Ngoài cách quan niệm khá phổ biến về triết học, ở phần "Khái niệm về triết học" (Chương 1), các tác giả đưa ra 4 vấn đề:

a. Xác định các đặc điểm đặc thù của triết học so với các hình thức văn hoá khác nhau.

b. Gắn sự tồn tại của triết học với những nhu cầu xác định của tinh thần con người và của văn hoá.

c. Xác định chức năng xã hội của triết học.

d. Quan tâm đến tính đa dạng lịch sử của triết học (tr.7,8).

Về nội dung, phương pháp và mục đích của triết học, các tác giả cho rằng, "Về nội dung, triết học là khát vọng hướng tới sự nắm bắt tất cả trong sự thống nhất". Về đối tượng của triết học, các tác giả đồng ý với quan niệm của H.Ortega i Gaxét (1883 - 1955) và cho rằng, "Khác với nhà khoa học tự nhiên là người cố gắng nhận thức thế giới vật chất, nhà triết học không biết đối tượng của triết học là gì", hoặc "Đối với triết học thì có lý hơn là nói về nội dung chứ không phải về đối tượng...". Về phương pháp, "triết học là phương thức giải thích duy lý về hiện thực...". Về mục đích, "triết học là tri thức được giải phóng khỏi những lợi ích thực tế vị lợi"(tr.12, 13).

Điểm căn bản ở đây là, nếu coi triết học là một khoa học thì cách đặt vấn đề như trên của các tác giả cuốn sách là khá "tù mù". Bởi vì, đã là một khoa học thì triết học phải có đối tượng, có nội dung và có phương pháp cụ thể; đồng thời, cũng phải có hệ thống các khái niệm, phạm trù và các thao tác của tư duy lôgíc để thực hiện các suy luận nhằm đạt đến những tri thức có tính chân lý. Về tính mục đích của triết học, có thể nói, các tác giả đã tự mâu thuẫn với chính mình khi, một mặt, khẳng định "tính hữu ích không phải là mục đích của triết học"(tr.13); mặt khác, lại rút ra kết luận: "hoàn toàn có quyền khẳng định rằng, dù là gián tiếp, triết học vẫn đóng góp đáng kể vào mọi thành tựu của loài người"(tr.14). Đây là một sự tự mâu thuẫn mà chả nhẽ các tác giả của cuốn sách không nhận thấy (?). Tuy nhiên, chúng tôi cũng cho rằng, triết học không có mục đích hướng chúng ta tới việc tạo ra các phương tiện kỹ thuật và chế tác thực dụng, nhưng triết học lại hữu ích một cách cao quý hơn khi hướng tới đạo đức và giáo dục, hướng đến những cứu cánh mà chúng ta mong đạt tới.

4. Vấn đề chức năng của triết học được các tác giả trình bày (hoặc là tổng thuật(?), khá lý thú. Đương nhiên, triết học có chức năng đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, giúp con người tìm kiếm sự hài hoà trong tâm hồn. Theo các tác giả của cuốn sách trên, triết học có những chức năng sau: "Chức năng thứ nhất là chức năng tích hợp văn hoá... Triết học đóng vai trò tự ý thức của văn hoá". Chức năng thứ hai của triết học là xác định mục đích tồn tại lịch sử của con người trong việc hợp nhất thành chỉnh thể nhà nước và xác định mục đích tồn tại của mỗi dân tộc,... Việc xem xét con đường phát triển, vị trí trong lịch sử và triển vọng của các dân tộc đã hội thành một nhà nước cụ thể được các tác giả cho là chức năng quan trọng nhất của triết học. Chức năng thứ ba của triết học là xem xét ý nghĩa và mục đích tồn tại của toàn thể loài người... Cuối cùng, triết học có chức năng khai sáng (tr.16, 17, 18, 19). Cách xác định các chức năng như vậy của triết học đương nhiên là đúng nhưng không có gì mới. Hơn nữa, các tác giả còn quên một điều mà theo chúng tôi, hết sức quan trọng - đó là triết học có chức năng giúp con người tìm kiếm tự do trong đời sống tinh thần của họ.

5. Về mối quan hệ giữa "triết học và hệ tư tưởng", trước hết các tác giả định nghĩa: "Theo nghĩa rộng nhất, hệ tư tưởng được hiểu là sự luận chứng về mặt lý luận cho các mục đích và các nhiệm vụ có tính chất dài hạn... Hệ tư tưởng theo nghĩa hẹp được hiểu là sự biểu thị và sự bảo vệ về mặt lý luận lợi ích của một giai cấp nhất định hay của một nhóm xã hội lớn"(tr. 22). Mặc dù vậy, các tác giả lại đưa ra một quan niệm khác về tính giai cấp của hệ tư tưởng khi cho rằng, "quan điểm tính quy định của hệ tư tưởng giai cấp đã thực sự truyền bá chủ nghĩa ngu dân - phủ định ý nghĩa của tri thức, của khai sáng của khoa học" (tr.25), bởi "tư tưởng về tính bị quy định của tri thức bởi lợi ích giai cấp giả định rằng, bất kỳ tri thức nào cũng "chuyển tải", cũng mang sắc thái hệ tư tưởng giai cấp, tức nó là sự biểu thị bị che đậy ít nhiều lợi ích của giai cấp. Do vậy, trong nhiều trường hợp, tri thức, kể cả triết học, là tri thức hoàn toàn giả dối"(tr.23). Vì những lý do này, các tác giả khẳng định, "bất kỳ tri thức nào muốn đạt tới tính phổ biến, tức thành tri thức khoa học, thì đều phải được xây dựng dựa vào việc khước từ lợi ích vị kỷ và những ham muốn lộ liễu"(tr.26). Bởi vậy, "nếu có sự độc lập của các lĩnh vực đời sống tinh thần, thì thiện cảm hay ác cảm chính trị - giai cấp có thể không được biểu thị trong sáng tạo triết học"(tr.29). Ở đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy chủ trương phi giai cấp của tri thức khoa học nói chung, của triết học nói riêng mà các tác giả đã đưa ra.

Đương nhiên, quan niệm đó rất khác với quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề này. Chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa quần chúng bị áp bức và giai cấp thống trị và đó là cuộc đấu tranh giữa một bên là giai cấp cách mạng, tiến bộ, đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ với một bên là giai cấp thống trị, bóc lột, đại diện cho những lợi ích gắn liền với quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu và do vậy, "đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của lịch sử các xã hội có giai cấp"(Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.498). Có một thực tế là, trong xã hội có giai cấp thì nhà triết học nhất thiết phải thuộc về một giai cấp nhất định nào đó và do vậy, chịu ảnh hưởng môi trường văn hoá của giai cấp, của thời đại mà họ đang sống. Mặt khác, các lý thuyết triết học, về thực chất, phải phục vụ cho một đối tượng, một nhóm xã hội hoặc một giai cấp cụ thể. Tuy nhiên, các lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần có tính độc lập tương đối của mình. Vì vậy, cũng như các khoa học khác, triết học có tính độc lập tương đối của nó và có lẽ, đây chính là điều mang lại giá trị phổ quát cho khoa học nói chung, cho triết học nói riêng. Cũng cần nói thêm là, lịch sử nhân loại đã từng có hiện tượng một vài quốc gia, dân tộc trong quá trình tồn tại và phát triển của mình không phát triển một cách tuần tự từ hình thái kinh tế - xã hội thấp lên một hình thái kinh tế – xã hội cao hơn, mà bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội nào đó. Trong thế giới hiện đại, sự khác biệt giữa các quốc gia về văn hoá, về tôn giáo và sắc tộc đang là vấn đề cần được quan tâm. Những biến động lớn trên thế giới trong những thập niên gần đây đã thể hiện rất rõ điều này. Điều quan trọng đối với các lý thuyết triết học hiện đại là cần phải tìm ra những tư tưởng có khả năng hợp nhất các công dân, các cộng đồng và quốc gia vì sự phát triển trong ổn định và hoà bình lâu dài trên cơ sở hợp tác hữu nghị và cùng có lợi.

6. Ở các tiểu mục tiếp theo, khi luận giải mối quan hệ giữa "triết học và tôn giáo", "triết học và cá nhân", các tác giả đã tập hợp và lựa chọn nhiều tư liệu, nhiều ý kiến có khi trái ngược nhau, trong đó có nhiều ý kiến đặc sắc và đa dạng của các nhà triết học thuộc nhiều trường phái khác nhau, ở các thời đại khác nhau. Điều đó cho thấy các tác giả có một tầm nhìn tổng quan và toàn diện. Về "cấu trúc của tri thức triết học", các tác giả chia thành 8 vấn đề mà theo chúng tôi, về cơ bản, không khác so với các quan niệm truyền thống, nhưng dẫu sao cũng đã thể hiện được xu hướng phân hoá và tích hợp trong quá trình phát triển của triết học trong lịch sử. Trên thực tế, đã có một bộ phận tách ra khỏi triết học và trở thành các khoa học độc lập (ví dụ như xã hội học, tâm lý học, ...) và sự tích hợp của triết học ở giai đoạn hiện đại đã làm cho triết học trở thành một hệ thống đa dạng, năng động và luôn biến đổi. Do vậy, trong thời đại ngày nay, triết học đã hàm chứa nhiều thành tựu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống tinh thần nhân loại. Với 60 trang viết về triết học nhập môn của các tác giả, chúng tôi cho rằng, đây là một cách đặt vấn đề mới mẻ, đa chiều, khách quan, giúp cho người đọc có cái nhìn về triết học khác với những gì vẫn có trong hệ thống các sách giáo khoa và các công trình biên soạn về triết học tại Việt Nam. Vả lại, ở Việt Nam, việc nghiên cứu triết học tư sản phương Tây hiện đại còn chưa được chú ý. Chúng ta không thể phủ nhận rằng, ngoài mặt tiêu cực, triết học tư sản phương Tây có một số giá trị nhất định. Vì vậy, việc tìm hiểu sự phát triển của triết học này cũng cần phải được đặt ra một cách đúng mức. Điều dễ nhận thấy là, các nhà triết học tư sản phương Tây hiện đại thường có ý kiến rất khác nhau và nhiều khi trái ngược nhau về cùng một vấn đề nào đó. Việc nghiên cứu triết học tư sản phương Tây ở các thời đại khác nhau không phải chỉ để chúng ta lĩnh hội và tiếp nhận những tri thức hợp lý từ họ,  mà còn để có thêm những phương pháp và các con đường tiếp cận chân lý.

Trên tinh thần đó, các chương còn lại được chia theo các thời kỳ và các triết gia cụ thể đều được giới thiệu một cách khá đầy đủ, khách quan, chứ không phải là sự tuyển chọn theo một ý định chủ quan hay một phương pháp luận cụ thể nào. Có thể nói, bằng cách đó, các tác giả đã cố gắng chuyển đến người đọc một cách trung thành nhất tư tưởng của các triết gia ở những thời đại khác nhau. Chúng tôi cho rằng, đây là một cuốn sách tham khảo khá bổ ích đối với việc nghiên cứu lịch sử triết học phương Tây, mặc dù chỉ ở mức đại cương như tên gọi của cuốn sách.

 

 

(*) Cuốn sách do các tác giả: TS. Đỗ Minh Hợp, TS. Nguyễn Thanh, TS. Nguyễn Anh Tuấn biên soạn. Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2006, 720 tr.

(**) Tiến sĩ triết học, Trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội.

Đã xem: 515
Thời gian đăng: Thứ hai - 16/11/2015 23:21
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất